TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Như thường lệ, cứ đến giữa tháng 11 là tôi nhận được tin nhắn từ anh Dương Quang, người Duy Xuyên ở Sài Gòn: “Mời anh viết một bài để đăng trong đặc san Xuân Duy Xuyên, phát hành vào Tết năm nay nhé. Chủ đề vẫn là viết về lịch sử văn hóa con người Duy Xuyên”.
Năm nay, Dương Quang nhắn thêm một câu: “Năm 2024 sắp tới huyện sẽ kỷ niệm 420 năm địa danh Duy Xuyên ra đời (1604 – 2024). Nhờ anh tìm trong thư tịch cổ có văn bản nào đề cập sự kiện này không”.
Tôi nhận lời, và bắt đầu công việc “đào bới sử liệu” để xem tên gọi Duy Xuyên chính thức xuất hiện từ khi nào?
Dưới đây là những gì tôi tìm được từ các thư tịch và bản đồ cổ, được biên soạn và thời Lê và thời Nguyễn. Tôi xin liệt kê ra đây, ngõ hầu cung cấp thêm thông tin cho những độc giả và bà con Duy Xuyên có quan tâm đến tên gọi quê mình.
- VỀ THỜI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA ĐỊA DANH DUY XUYÊN
Cổng Thông tin điện tử huyện Duy Xuyên, trong mục “Lịch sử phát triển”, giới thiệu như sau: “Duy Xuyên là mảnh đất có lịch sử lâu đời. Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho biết, cách đây khoảng 2.500 năm, những lớp cư dân đầu tiên đã có mặt ở đây và là một bộ phận của cư dân văn hóa Sa Huỳnh. Sau những cư dân tiền sử, sơ sử này, Duy Xuyên nằm trong địa bàn sinh tụ và phát triển của cư dân văn hóa Chămpa (thế kỷ II – XV). Tên đất Duy Xuyên ra đời năm Giáp Thìn (1604) thời Nguyễn Hoàng. Huyện được cải tên từ huyện Hy Giang năm 1604, trong chủ trương cải đặt lại các khu vực hành chính thuộc hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam của chúa Nguyễn Hoàng”. [1]

Thông tin này được dẫn lại ở nhiều trang web và bài viết khác nhau[2], nhưng đều không dẫn nguồn xác nhận chúa Nguyễn Hoàng đổi tên từ huyện Hy Giang thành huyện Duy Xuyên vào năm 1604 là từ văn bản nào?
Thậm chí, có người còn khẳng định: “Khác với nhiều danh xưng khác, từ xưa đến nay, về niên đại ra đời danh xưng Duy Xuyên, nhờ chính sử chép rõ nên không có tranh luận nào. Đó là vào năm Giáp Thìn (1604), với cuộc cải cách hành chính lớn của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, huyện Hy Giang (thuộc đạo thừa tuyên Quảng Nam năm 1471) được đổi thành huyện Duy Xuyên”, nhưng cũng không dẫn nguồn chính sử là văn bản nào? [3]
Sau khi tra cứu các nguồn sử liệu thời Nguyễn, tôi được biết, sự kiện chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đổi tên huyện Hy Giang thành huyện Duy Xuyên vào năm Giáp Thìn (1604) mà các thông tin / bài viết đã dẫn, là dựa vào đoạn ghi chép trong sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844): “Giáp thìn, năm thứ 47 [1604], lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn, quản 5 huyện (Tân Phước, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa [Ngãi], huyện Lê Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay đổi làm Thăng Bình) làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên”. [4]

- ĐỊA DANH DUY XUYÊN TRONG THƯ TỊCH CỔ
Sau khi tra cứu nhiều nguồn sử liệu từ thời Lê đến thời Nguyễn có liên quan đến vùng đất Thuận – Quảng, tôi tạm thời ghi nhận sử liệu sớm nhất có viết về địa danh Duy Xuyên chính là “Phủ biên tạp lục” (撫邊雜錄) của Lê Quý Đôn (1726 – 1784).
“Phủ biên tạp lục” được Lê Quý Đôn biên soạn hoàn tất vào năm 1776, gồm 6 quyển, ghi chép các thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế và xã hội của xứ Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVI đến thời điểm Lê Quý Đôn được triều đình Lê – Trịnh cửa vào Thuận Hóa giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ trấn phủ Thuận Hóa.
Trong “Phủ biên tạp lục”, địa danh Duy Xuyên (濰川) xuất hiện ở 9 đoạn văn sau (Việt dịch):
“… Đổi huyện Lệ Giang làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên…” (quyển 1)
“… Xứ Quảng Nam: 2 phủ, 11 huyện: Phủ Điện Bàn có 5 huyện: Hòa Vinh, An Nông, Duyên Khánh, Tân Phúc, Phú Châu. Phủ Thăng Hoa có 3 huyện: Lễ Dương, (huyện chính), Hà Đông (huyện chính), Duy Xuyên (huyện chính)…” (quyển 1)
“… Từ tuần Ải Vân đi đến dinh Quảng Nam tục gọi là dinh Chiêm ở xã Cần Húc [Hào] huyện Duy Xuyên đường đi chỉ trong hai ngày…” (quyển 2).
“… Tướng thần Lại tu thu phủ Thăng Hoa (Hà Đông, Duy Xuyên, Lễ Dương), chính huyện và tân huyện, cộng 6 huyện và các thuộc ruộng thực trưng 72.357 mẫu 11 thước 22 thốn 4 phân, thóc lệ 1.681.294 thăng…” (quyển 2).

“… Xứ Quảng Nam có dinh Chiêm, có quan trấn thủ gọi là dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc [Hào], về huyện Duy Xuyên, thuộc về dinh ấy có ty Xá sai, có câu kê 3 tên, cai hợp 7 tên, thủ hợp 10 tên, Bản ty lại có 40 tên giữ việc từ tụng, văn án, có một quan Ký lục cai quản tất cả các việc trên…” (quyển 3).
“… Người Duy Xuyên là Nguyễn Kim Châu, nguời Đồng Xuân là Trần Văn Kiến thăng chức Ký huyện dâng thượng lễ mỗi người tinh ngân 8 hốt 5 lạng, thay tiền 212 quan 5 mạch và trọng cân ngân 4 lạng 2 đồng cân 5 phân thay tiền 10 quan 6 mạch 15 đồng kẽm…” (quyển 3).
“… Về 6 huyện chính và tân Hà Đông, Lễ Dương, Duy Xuyên cùng các thuộc ở Thăng Hoa số người 34.307 người, trừ vi tử, chức lính, tiêu sai, còn nộp thuế 11.237 người, thu vàng 4 đồng cân 7 ly; lụa 1.545 tấm 23 thước 1 thốn 8 phân; tiền 38.092 quan 7 mạch 57 đồng kẽm; gạo 2.848 bao 18 thưng 1 hợp…” (quyển 3).
“… Xứ Quảng Nam, phủ Thăng Hoa, huyện Duy Xuyên có núi Trà Nô và Trà Tế về nguồn Thu Bồn sản ra vàng…” (quyển 4).
Sang thời Nguyễn (1802 – 1945), địa danh Duy Xuyên được ghi nhận sớm nhất ở trong “Đại Nam thực lục tiền biên”. Ngoài đoạn tôi trích dẫn trên đây, còn có tên Duy Xuyên còn được ghi chép trong 2 đoạn sau (Việt dịch):
“… Chúa khen rằng: ‘Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng’. Liền vượt quan núi xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc, thuộc huyện Duy Xuyên, xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ…” (quyển 1). [5]
“… Mùa đông, tháng 11, ngày Giáp thân, nguyên phi là Nguyễn Thị Băng (con gái cả Mạc Kính Điển, trước kia Kính Điển bại vong, theo chú là Cảnh Huống ẩn ở chùa Lam Sơn, được tiến vào hầu tiềm để, được cho là học Nguyễn, thọ 53 tuổi, tặng hiệu là Doanh Cơ, thụy là Nhã Tiết, an táng ở xã Chiêm Sơn (thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, tức lăng Vĩnh Diễn)…” (quyển 2). [6]

Ngoài ra trong “Đại Nam thực lục chính biên”, địa danh Duy Xuyên đã được ghi chép 39 lần, từ quyển XXV đệ nhị kỷ (Thực lục về Thánh Tổ Nhân hoàng đế) cho đến quyển II đệ lục kỷ (Thực lục về Giản Tông Nghị hoàng đế).
Một bộ chính sử quan trọng khác, cũng do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ triều Tự Đức (1848 – 1883) hoàn thành vào triều Duy Tân (1908 – 1916), là “Đại Nam nhất thống chí”, cũng có ghi chép về địa danh Duy Xuyên. Cụ thể, quyển 7 viết về “Tỉnh Quảng Nam”, có ghi chép về huyện Duy Xuyên ở 3 đoạn:
“… Huyện Duy Xuyên: ở cách phủ Điện Bàn 12 dặm, lệch về phía nam, đông tây cách nhau 77 dặm, phía đông đến địa giới huyện Lễ Dương phủ Thăng Bình 15 dặm, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man 62 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình chừng 6 dặm, phía bắc đến huyện Diên Phước 16 dặm. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành; đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào phủ Thăng Hoa, đầu bản triều đổi tên hiện nay…”.
“… Huyện Duy Xuyên: ở cách phủ Điện Bàn 12 dặm, lệch về phía nam, đông tây cách nhau 77 dặm, phía đông đến địa giới huyện Lễ Dương phủ Thăng Bình 15 dặm, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man 62 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình chừng 6 dặm, phía bắc đến huyện Diên Phước 16 dặm. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành; đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào phủ Thăng Hoa, đầu bản triều đổi tên hiện nay…”.[7]
“… Lỵ sở huyện Duy Xuyên: Chu vi 57 trượng, rào bằng chông chà, hồi đầu niên hiệu Gia Long (1802), huyện lỵ ở thôn Phượng Châu Tây, năm Minh Mạng thứ 17 (1836), dời đến giáp đông xã Mỹ Xuyên, năm thứ 19 (1838) lại dời đến chỗ lỵ sở cũ…”.[8]
Ngoài ra, trong các phần viết về núi sông của tỉnh Quảng Nam của sách này, có một số núi sông thuộc huyện Duy Xuyên cũng được đề cập.
Sau cùng, tôi muốn giới thiệu một bộ địa chí quan trọng, được biên soạn vào triều Đồng Khánh, đã đề cập địa danh Duy Xuyên với những thông tin tổng quát, quan trọng về kinh tế, xã hội, nhân khẩu, tài nguyên…, kèm theo bản đồ minh họa (sẽ giới thiệu ở phần sau). Đó là “Đồng Khánh địa dư chí” (同慶地輿志).

“Đồng Khánh địa dư chí” do vua Đồng Khánh (1885 – 1889) sai các quan ở Nội Các biên soạn, bắt đầu từ tháng 5.1887, hoàn thành vào những năm đầu triều Thành Thái (1889 – 1907). Bộ địa dư chí này gồm 25 tập, ghi lại địa lý các tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời Đồng Khánh. Mỗi tỉnh đều ghi chép các mục: vị trí, diên cách, số huyện, tổng, xã, thôn, phường, số đinh, binh lính, ruộng đất, thuế khóa, phong tục, thổ sản, khí hậu, núi sông, đường sá, đồn lũy, đền miếu, cổ tích, kỹ nghệ. Kèm theo các ghi chép là 314 bản đồ các tỉnh, phủ, huyện ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong số có địa chí và bản đồ tỉnh Quảng Nam.
Phần viết về huyện Duy Xuyên gồm 8 trang chữ Hán (từ trang 13a đến trang 16b, tập 2) giới thiệu diên cách, địa giới, huyện lỵ huyện Duy Xuyên, số đơn vị hành chính thuộc huyện (9 tổng, 162 xã, thôn, châu, phường, ấp, giáp), cùng các thông tin quan trọng khác về: dân số, số đinh, ruộng đất, phong tục, sản vật, khí hậu, sông núi, danh thắng, đường đi, dịch trạm…
Đây là những phần viết theo thể chí, đầy đủ và chi tiết nhất về huyện Duy Xuyên trong các nguồn sử liệu thời Lê và thời Nguyễn.
- ĐỊA DANH DUY XUYÊN TRONG BẢN ĐỒ CỔ
Ngoài các thư tịch đã dẫn trên đây, tôi còn tìm thấy địa danh Duy Xuyên được viết bằng chữ Hán trên các bản đồ cổ, được đính kèm trong các trước tác do các Nho sĩ, học giả từ thời Lê đến thời Nguyễn, biên soạn.
- Tờ bản đồ có niên đại sớm nhất có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện) là tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 26b, trong tập “Giao Châu dư địa chí” đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (bản VHt.30), và tại Viện Viễn đông bác cổ Pháp ở Paris (EFEO Paris) (bản MF.1551/A.2716).
“Giao Châu dư địa chí” được biên soạn vào thời Lê và được sao lục lại vào thời Nguyễn, là tập địa chí ghi chép về địa lý Việt Nam, gồm: vị trí, giới hạn, chiều rộng, hình thế, các đường thủy bộ, các cửa biển… Ngoài phần văn bản, tập địa chí này còn có nhiều tờ bản đồ vẽ về nước ta thời Lê, bản đồ các nước tiếp giáp nước ta, bản đồ thành Thăng Long và bản đồ các xứ trong nước. Trong đó có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện”. [9] Ngoài ra, trong tập “Giao Châu dư địa đồ”, cũng biên soạn vào thời Lê và được sao lục vào thời Nguyễn, đang lưu trữ tại EFEO Paris (bản MF.1551/A.2716), cũng có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 48, có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện) như trong “Giao Châu dư địa chí”.
- Thư tịch “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, do Đỗ Bá, một nho sinh người Nghệ An, biên soạn vào khoảng năm 1630 đến 1653, đang lưu trữ tại Toyo Bunko (Tokyo, Nhật Bản) và tại EFEO Paris (3 bản: A.73, A.588 và A.2300). Trong thư tịch này có nhiều tờ bản đồ vẽ các tuyến đường bộ, đường sông của nước ta từ Thăng Long đi vào phía Nam, từ Thăng Long đi lên phía Bắc và từ Động Hải (Đồng Hới) đi Cao Miên. Trong số đóm có tờ bản đồ ở trang 43a-b vẽ và bị chú về Bãi Cát Vàng nằm ngoài khơi phủ Thăng Hoa “hàng năm chúa Nguyễn đem 18 chiếc thuyền đến đó để thu đồ vật, phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”.[10] Trên tờ bản đồ này có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).
Đặc biệt, bản A.73 của “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” đang lưu trữ tại EFEO Paris, là bản sao lục vào thời Nguyễn, thì các bản đồ do Đỗ Bá vẽ trước đây đã được tô màu. Trong đó, tờ bản đồ ở trang 78, sao chép từ tờ bản đồ ở trang 43b của bản A.2300 (thời Lê), nhưng tại vị trí ghi tên 濰川縣 (Duy Xuyên huyện), thì lại ghi là 濰山縣 (Duy Sơn huyện).
- Một tập bản đồ khác có tên là “Nam Việt bản đồ”, gồm 186 trang, ghi chép về địa lý và vẽ bản đồ cương vực nước ta vào thời Lê, đang lưu trữ tại EFEO Paris (bản A. 1603), có tờ bản đồ ở trang 48b vẽ phủ Thăng Hoa, kèm bị chú chữ Hán (phiên âm): “… hải trung hữu nhất trường sa danh viết Bãi Cát Vàng ước trường tứ bách lý, khoát nhị thập lý, trác lập hải trung. Tự Đại Chiêm môn chí…” (… giữa biển có dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, ước dài 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng sừng sững giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến…). [11] Tên tờ bản đồ này có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).
Đầu thời Nguyễn, vào năm Gia Long thứ 9 (1810), Đàm Thận Hữu (tức Đàm Nghĩa An) biên soạn bộ “Thiên tải nhàn đàm”, gồm 3 quyển: “Thiên Nam hình thắng lược thuyết” (30 trang), khảo sát về hình thế nước Nam; “Nam hành trình lục” (104 trang), miêu tả các con đường thủy bộ từ bắc vào Nam; “Trình lục yếu lược ký” (144 trang), liệt kê tên các dịch trạm từ Hà Nội tới các địa phương cả nước. [12] Trong quyển Thiên Nam hình thắng lược thuyết có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 62b-63a, có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện).
Trong bộ “Đồng Khánh địa dư chí”, ngoài phần ghi chép theo thể chí về các tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ của nước ta dưới triều Đồng Khánh, còn có 314 bản đồ các tỉnh, phủ, huyện ở hai xứ này. Trong số đó có bản đồ 廣南省圖 (Quảng Nam tỉnh đồ) và bản đồ 濰川縣圖 (Duy Xuyên huyện đồ) (ảnh 11), có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).
Tôi cũng tìm được nhiều bản đồ khác trong các thư tịch cổ, có niên đại từ thời chúa Nguyễn đến thời Nguyễn có ghi địa danh Duy Xuyên. Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết không cho phép tôi liệt kê hết các bản đồ này ở đây, nên tôi chỉ giới thiệu một số bản đồ tiêu biểu và quan trọng như đã nêu trên đây.
Điều đáng quan tâm là địa danh Duy Xuyên viết bằng chữ Hán trên các bản đồ cổ này không giống nhau.
Trong “Giao Châu dư địa chí” và “Giao Châu dư địa đồ” biên soạn vào thời Lê, Duy Xuyên được viết là 維川, với chữ 維 (Duy) không có bộ 氵(thủy). Trong “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” và “Nam Việt bản đồ” cũng biên soạn vào thời Lê, tên Duy Xuyên được viết là 濰川, với chữ 濰 (Duy) có bộ氵(thủy).
Sang đầu thời Nguyễn, trên bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” trong bộ “Thiên tải nhàn đàm” của Đàm Thận Hữu, địa danh Duy Xuyên lại được viết là 維川縣, với chữ 維 (Duy) không có bộ氵(thủy).
Tuy nhiên, dưới triều Đồng Khánh, khi biên soạn bộ “Đồng Khánh địa dư chí”, các sử thần triều Nguyễn lại viết chữ chữ 濰 (Duy) có bộ氵(thủy) ở trong văn bản, cũng như ghi danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện) trên “Quảng Nam tỉnh đồ” và “Duy Xuyên huyện đồ”.
Lạ lùng nhất là khi sao lục tờ bản đồ ở trang 43b trong “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” do Đỗ Bá soạn vẽ vào thời Lê, thành tờ bản đồ ở trang 78 của bản A.2300 (đang lưu trữ ở EFEO Paris), thì các họa viên thời Nguyễn lại ghi tên 濰川縣 (Duy Xuyên huyện) thành 濰山縣 (Duy Sơn huyện).

- THAY LỜI KẾT
Trên đây là điểm lược một số thư tịch và bản đồ cổ có ghi chép về địa danh Duy Xuyên mà tôi sưu tầm được. Có thể có nhiều thư tịch và bản đồ khác vẫn đang còn lưu giữ đâu đó trong các thư viện, văn khố quốc gia hay tủ sách của tư nhân có viết về Duy Xuyên mà tôi chưa tìm hiểu hết. Tuy nhiên, những thư tịch và bản đồ tôi giới thiệu trong bài viết này, đều là những tư liệu quan trọng, là chính sử của Việt Nam trong các thế kỷ XVIII – XIX. Quan trọng là nó đã giúp cho việc xác thực tên gọi DUY XUYÊN chính thức ra đời từ năm 1604 bằng việc đổi tên huyện từ HY GIANG sang DUY XUYÊN dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
Và đến mùa xuân 2024 này, thì tên Duy Xuyên đã tròn 420 năm tồn tại.
T.Đ.A.S.
CHÚ THÍCH
[ ] https://duyxuyen.quangnam.gov.vn/webcenter/portal/duyxuyen/pages_tin-tuc/chi-tiet-tin.
[2] Chẳng hạn:
- Bài viết Nguyễn Hoàng và đất phương Nam (không rõ tác giả) đăng trên https://vusta.vn/nguyen-hoang-va-dat-phuong-nam-p73681.html. (Thứ ba, 17/02/2009), có đoạn viết: “Năm Giáp Thìn (1604), ông [chúa Nguyễn Hoàng] chia đặt lại các đơn vị hành chính thuộc xứ Thuận Hóa, đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình (ngày nay là nửa phía bắc tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình); lấy huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong (phần còn lại ngày nay là nửa phía nam tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) đổi làm phủ Điện Bàn, Quảng Nam; đổi phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi; đổi phủ Thăng Hoa làm phủ Thăng Bình, trong phủ này, huyện Lê Giang đổi làm huyện Lễ Dương, Hy Giang làm huyện Duy Xuyên”.
- Bài viết Quảng Nam dưới thời các chúa Nguyễn (tác giả: Tôn Thất Hướng) đăng trên: https://baoquangnam.vn/dat-va-nguoi-xu-quang/quang-nam-duoi-thoi-cac-chua-nguyen-121702.html (27/12/2021), có đoạn viết: “Lập xong dinh trấn Quảng Nam, 2 năm sau – năm Hoàng Định thứ 2 (1604), Nguyễn Hoàng cho cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính 2 xứ Thuận Hóa, Quảng Nam. Huyện Điện Bàn vốn thuộc phủ Triệu Phong được tách ra khỏi trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, quản 3 huyện Tân Phước, An Nông, Hòa Vang và cho thuộc vào Quảng Nam dinh. Huyện Lệ Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay là Thăng Bình) được cải thành huyện Lễ Dương; huyện Hy Giang được đổi thành huyện Duy Xuyên”.
[3] Hy Giang, Về tên gọi dòng sông Mẹ xứ Quảng: https://baodanang.vn/channel/5433/201902/ve-ten-goi-dong-song-me-xu-quang-3168102 (ngày 17/02/2019).
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 1). Bản dịch của Viện Sử học. Tập 1 (bộ 10 tập, (Hà Nội: Giáo dục, 2001), 36.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 1), Sđd, 37.
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 2), Sđd, 47.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (quyển VII), Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, (Huế: Thuận Hóa, 1992), 335.
[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (quyển VII), Sđd, 340.
[9] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông, (Hà Nội: Khoa học xã hội, 2014), 200.
[10] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 382.
[11] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 318.
[12] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 410.















Bạn phải đăng nhập để bình luận.