PHẢN BIỆN NHỮNG SAI LẦM CỦA THƯỢNG TOẠ THÍCH CHÂN TÍNH

  • VŨ THẾ NGỌC

Vừa qua, nhân sự kiện sư Thích Minh Tuệ nổi tiếng trên mạng xã hội, TT Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp, đã có bài nói chuyện, tuy ít người chú ý nhưng tôi cho rằng đó chính là cơ sở lý luận học thuật của GHPGVN và của những người không đồng ý với pháp tu Đầu Đà khất thực của sư Minh Tuệ.

Trước hết bài của TT Thích Chân Tính đã sai lầm khi cho rằng giáo pháp Đầu Đà là giáo pháp tu hành khắc kỷ quá khích của ngoại đạo mà Thái tử Tất Đạt Đa đã từ khước nên sau đó mới trở thành Đức Phật với giáo lý Trung Đạo. Trong bài nói chuyện này, vô tình hay cố ý TT Thích Chân Tính đã cho rằng hạnh Đầu Đà (dhutanga) mà sư Minh Tuệ đang hành trì “không phải là giáo pháp Phật giáo chính thống vì chính Đức Phật đã khước từ bỏ để theo giáo pháp Trung Đạo nên mới chứng ngộ giải thoát”. Điểm quan trọng là lời giảng này của TT Thích Chân Tính lại trùng khớp với tuyên cáo “Ông Lê Anh Tú không phải là tu sĩ Phật giáo” trong thông báo của TT Thích Đức Thiện, nhân danh GHPGVN, bố cáo với toàn thể tổ chức GHPGVN và đồng bào để nhờ chính quyền can thiệp.

Thứ nhất, có lẽ vì quá bận rộn với sự quán xuyến đại tự Hoằng Pháp nên TT Thich Chân Tình không có thời gian đọc kỹ kinh luận. Sự thật Đức Phật chỉ khước từ lối khổ tu đương thời là trừng phạt thân xác (danta) từ hạn chế ăn uống hoạt động đến hành hạ thân xác như tự đánh đập, tắm nước bùn, tắm phân bò để “sinh thiên” (svarga) mong kết quả thống nhất hiệp thông với Thượng đế Brahma – Cho đến ngày nay chúng ta còn thấy còn một số tu sĩ Ấn Độ gầy gò, lõa thể ở giữa phố chợ, đứng suốt ngày một chân và dùng roi tự đánh đập thân thể – Đây chính là phép khổ tu ép xác mà Đức Phật từ khước vì cho rằng đây chỉ là pháp tu hình tướng, ép xác khổ hành đè nén dục vọng thân xác nên chưa thể đưa hành giả đến giải thoát (mokṣa).

Đầu Đà (dhuta – 頭陀) nguyên nghĩa là “rũ sạch”. Đầu Đà là pháp hạnh chính thống của Phật giáo và không phải lối tu hành xác mà Đức Phật khước bỏ. Hạnh tu Đầu Đà đã được ngài Pháp Âm (Buddhagghosa) giải thích rất cặn kẽ rõ ràng trong luận Thanh Tinh Đạo (Visuddhi-magga) Thượng Tọa Bộ (Theravāda) của Đại Tự (magāvihāra). Vắn tắt theo luận này, Đầu Đà gồm 13 pháp hành trì gọi là Đầu Đà TamThập Pháp gồm: (1) pamsukūlika-aṅga: tức phấn tảo y là mặc phục rách vá bằng vải nhặt; (2) tecivarika-aṅga: mặc y phục ba phần: 3) pindātika-aṅga: chỉ khất thực để sống; (4) sapadānacārika-aṅga: tức thứ đệ khất thực có nghĩa là khất thực giao duyên không phân biệt nhà giầu nghèo; (5) ekāsanika-aṅga: chỉ ăn một lần trong ngày; (6) pattapindika-aṅga: chỉ ăn một phần; (7) khalupacchābhattika-aṅga: tức tàn thực là không ăn giữa bữa; (8) araññika-aṅga: ở rừng; (9) rukkhamūlika-aṅga: ở gốc cây; (10) abbhokāsika-aṅga : ở giữa trời; (11) sosānika-aṅga: ở nghĩa địa; (12) yathāsanthatika-aṅga; ngủ đâu cũng được: (13) nesanjjika-aṅga: chỉ ngồi mà không nằm.

Tóm lại, thứ nhất hạnh tu Đầu Đà (dhuta – 頭陀) là pháp tu chính thống của Phật giáo chứ không phải là pháp tu ép xác ngoại đạo mà Đức Phật khước từ. Tu hạnh Đầu Đà rất gian khổ, đòi hỏi hành giả ngoài nỗ lực ý chí phi thường còn cần phải có một thân thể kiên cường, cho nên rất ít hành giả có thể tu theo pháp môn này. Cho nên Đức Phật từng tán dương Ca Diếp (Mahākāśyapa) cả đời là một vị tu theo giáo pháp Đầu Đà (và sau đó trao truyền “chánh pháp nhãn tạng” cho Ca Diếp như truyền thừa Thiền tông tin tưởng). Trong lịch sử Phật giáo không chỉ có ngài Ca Diếp mà xưa nay cả Nam tông lẫn Bắc tông đều có một số tu sĩ tiếp tục tu theo pháp hạnh này. Trong lịch sử Việt Nam chúng ta còn biết vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã từng tu theo hạnh này nên ngài còn mang tên là Trúc Lâm Đầu Đà (竹林 頭陀) hay Huơng Vân Đại Đầu Đà (香雲大頭陀). Sư Minh Tuệ không phải là người sáng tác ra hạnh tu này, đúng theo lời sư Minh Tuệ luôn nói “con chỉ là một người tập tu theo mười ba hạnh Đầu Đà khất thực theo kinh Phật”. Hiện nay Sư Minh Tuệ khác biệt và chói sáng vì là một vị sư cương quyết và có ý chí nguyên thực hành pháp tu này trong thời đại hiện tại, và đặc biệt là trong thực tế đặc thù Phật giáo VN đang trong trào lưu dùng các các phương tiện phát triển hình tướng chùa to tượng lớn, phát triển lễ hội, du lịch tâm linh và pháp thoại trên truyền thông đại chúng.

Thứ hai, giáo pháp Trung Đạo (madhyamapraripad) của Phật giáo không đơn là pháp tu “không thái quá không bất cập” như tư tưởng Trung Dung của Nho Giáo, hay lý thuyết “trung bình cộng” của chủ thuyết duy vật phổ biến như TT Thích Chân Tính giải thích trung đạo là ở giữa thái cực giữa đời sống vật chất và ép xác khổ hạnh. Giáo lý Trung Đạo không đơn giản và nặng hình tướng vật chất như chọn lựa giữa cách ăn ba bữa và ăn một bữa, hoặc tập trung tu học trong tự viện hay độc tu trong rừng núi, hoặc đi khất thực từng ngày hay nấu nướng trong tự viện, mà là một giáo pháp vượt thoát mọi nhị biên để tiến vào tính không giải thoát. Giáo lý Trung Đạo luôn luôn là một giáo lý thông suốt mọi giáo lý tông môn. Giáo lý Trung Đạo dù thường được nói nhiều ở VN nhưng rất ít người tu học vì kinh luận vừa thiếu và Trung Quán Tông cũng không có truyền thừa ở VN. Tôi đã cho xuất bản mười biên khảo trong Tùng Thư Long Thọ và Tính Không đã in ở VN trong thập niên vừa qua là cũng mong phổ biến thực sự giáo lý Trung Đạo này, rất hy vọng độc giả VN quan tâm.

Thứ ba, khi cho rằng thời Phật còn tại thế các sư chỉ tập họp sống ở các tự viện như Kỳ Viên Tịnh Xá thì quả rằng TT Thích Chân Tính đã không đọc kỹ kinh luận khi cho rằng lối sống độc cư của hạnh Đầu Đà không phải là giáo pháp chính truyền đã có từ thời Đức Phật hành đạo. Người thực học kinh điển Phật giáo đều biết rằng ngay từ thời Đức Phật còn tại thế đã có rất nhiều tăng sĩ ngài độc cư hay rời xa Đức Phật mà đi truyền pháp bốn phương. Hạnh độc cư luôn luôn được Đức Phật ca ngợi trong nhiều kinh luận. Quyển kinh quen thuộc Kinh Pháp Cú (dhammapada) trong phẩm Tỳ Khưu (bhikku-vagga) từng kể chính Đức Phật chúc mừng nhóm đệ tử “vào rừng sống độc cư” đều đắc quả A la Hán so với nhóm tu sĩ tu học kinh điển ở tịnh xá. Cũng trong phẩm Bà La Môn (bhahmana-vagga) của kinh này, Đức Phật cũng ca ngợi đại đức Kisa Gotami “đắp bộ ý vá bằng giẻ rách lượm ở đống rác đi vào độc cư trong rừng”. Coi thường pháp hạnh độc cư hay xem hạnh tu Đầu Đà “không phù hợp với đời sống 4.0 hiện đại” thì quả thật TT Thích Chân Tính mới chính là người đã rời bỏ cứu cánh của đạo Phật là đạo giải thoát (mokṣa) khi sư vội vã tìm cách thích nghi hay thỏa hợp với trào lưu đời sống hiện đại theo các phong trào đạo Phật ngày nay hay hiện đại hóa gọi là “tốt đời đẹp đạo”.

Thứ tư, điều lo sợ của TT Thích Chân Tính là nếu người ta bỏ đi tu theo hạnh đầu đà thì không còn ai dịch sách, in kinh hay tu học kinh điển thì vô cùng thơ ngây và đơn giản. TT Chân Tính quên rằng Phật Pháp ngoài pháp hạnh Đầu Đà còn có rất nhiều pháp hạnh (thường gọi là 8400 pháp môn) mà người học Phật có thể tùy theo hoàn cảnh và nhân duyên mà theo đuổi. Xin nhắc lại pháp hạnh Đầu Đà chỉ là một giáo pháp chính truyền nhưng xưa nay rất khó có người thực hành, nên bây giờ người Việt Nam dù ca tụng sư Minh Tuệ tu hạnh Đầu Đà thì giống như chúng ta dù có ca tụng thi sĩ Nguyễn Du nhưng không ai lo sợ rằng toàn nước chỉ toàn người chỉ biết làm thơ.

Bây giờ tôi mới xin thảo luận cũng rất vắn tắt về ý nghĩa tích cực của hiện tượng sư Minh Tuệ trong tình hình Phật giáo VN. Nguyên nhân và bối cảnh của “cuộc cách mạng thầm lặng” này là tổng thể thì chúng ta thấy hiện tượng toàn cảnh chung của thế giới và VN mà rất nhiều người đã và đang thảo luận. Ở đây chúng ta tạm không thảo luận về thực tế toàn cảnh thế giới về chiến tranh, dịch bệnh và thiên tai, chỉ riêng về hiện tình Phật giáo VN và cũng bỏ ra ngoài các khác biệt tông môn giáo phái hay quan điểm chính trị. Bên cạnh các thành quả là các chùa to tượng lớn hay các lễ hội đông đảo, đại đa số người Phật giáo VN đều chứng kiến rất nhiều hình ảnh tiêu cực của các sinh hoạt Phật giáo từ các đường lối hành trì đến phẩm chất của rất nhiều tu sĩ (tôi không muốn lập lại tên tuổi ở đây vì biết rằng bên cạnh các con người bất xứng này vẫn có các tu sĩ thực tu thực học). Nhưng dù sao nhiều tin tức tiêu cực cũng đã khiến người tin Phật không khỏi mỏi mệt và mất niềm tin vào các tổ chức giáo hội hiện nay.

Cuộc hành trì khất thực của sư Minh Tuệ, dù chính bản thân của sư không tự nhận là tu sĩ hay đăng đàn giảng pháp, nhưng quả thật lối sống thuần khiết hành trì giới luật của pháp tu Đầu Đà đã là một giáo pháp thân hành, dù không hùng hồn ngôn thuyết nhưng đã là một dòng nước mát làm sống lại trong quần chúng niềm tin vào chính pháp chân chính của Phật giáo mà trong những năm qua đã bị ẩn dưới các pháp môn hình tướng. Tôi mong rằng giáo pháp vô ngôn này sẽ tạo thành một cuộc cách mạng trong toàn diện sinh hoạt xã hội. Như kinh Phật từng nói hương thơm đạo đức sẽ tỏa hương ngược gió lan tràn trong mọi sinh hoạt, cuộc cách mạng thầm lặng này sẽ là một trùng sinh lại giáo pháp mà Đức Phật từng chuyển pháp luân. Tôi mong rằng các tôn túc vẫn còn trong mọi giáo hội. Đặc biệt rằng GHPGVN, sẽ có dịp tự chỉnh đốn lại các khiếm khuyết của mình. Thay vì đứng vào lập trường phê phán và mỉa mai sư Minh Tuệ thì hãy theo ý kiến của đa số quần chúng Phật giáo đồ mà thanh tịnh lại các thành phần bất xứng trong mọi thành phần tăng chúng.

Tôi gọi hiện tượng sư Minh Tuệ là “cách mạng thầm lặng” với lạc quan mong rằng hiện tượng sư Minh Tuệ không chỉ là tiếng kêu trầm thống giữa thời đại nhiều người gọi là mạt pháp (paścimkāla) mà còn là một nguồn gió mát làm sống lại các phẩm chất cao quí mà trong nhiều năm tháng vừa qua chúng ta đã chỉ sống trong các giá trị vật chất của cuộc sống bị bủa vây bởi các thực tế ngắn hạn, từ đời sống kinh tế cho đến đức tin tôn giáo. Để cuối cùng chúng ta có thể thức chứng giáo một cách sống động lý vô thường, vô ngã mà Đức Phật đã chỉ ra từ hơn hai mươi sáu thế kỷ trước.

Vũ Thế Ngọc
(15-6-2024)

🔸 TS Vũ Thế Ngọc học Triết học, Văn học và Khoa học xã hội ở Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn trước năm 1975. Sau sang Mỹ học tiếp, tốt nghiệp Cao học xã hội, Tiến sĩ Nhân chủng học và tiến sĩ Kinh tế, Đại học California Santa Barbara. Ông là tác giả và dịch giả của một số tác phẩm triết học Đông phương: Trí tuệ giải thoát, Lão Tử Đạo đức kinh, Thế giới thị ca thiền hàn, Trà kinh,…

Oliver Kahn

Tháng 6 năm 2002, phút thứ 67 trong trận chung kết World Cup cách đây tròn 22 năm, sau khi nhận đường chuyền từ người đồng đội, Rivaldo tung ra cú sút từ ngoài vòng cấm địa về phía khung thành đội tuyển Đức.
Với cú sút chìm ấy, Oliver Kahn lại không thể bắt trọn, và trái bóng ói ra khỏi tầm với của anh.
Chẳng chần chừ, Ronaldo de Lima với tốc độ và khả năng chớp thời cơ, ập vào ghi bàn thắng khai thông thế bế tắc trong sự vỡ oà của những người hâm mộ. Cả cầu trường sân vận động Yokohama vỡ oà, những người Brazil ôm nhau ăn mừng, các cầu thủ Đức bàng hoàng trong khi Kahn chỉ lặng lẽ cúi đầu.

Trước trận đấu, với việc Michael Ballack đã lĩnh án treo giò, mọi hi vọng và tâm điểm đều đổ dồn vào anh, người thủ lĩnh mạnh mẽ. Bởi trong đội hình tuyển Đức thời bấy giờ, còn ai có sức mạnh chuyên môn, phong độ và tinh thần mạnh mẽ, đủ khả năng cản bước bộ ba tấn công Ronaldo, Rivaldo và Ronaldinho từ xứ Samba như Kahn.
Vậy mà trớ trêu thay, báo chí khi ấy lại nói anh là người mắc lỗi, để gián tiếp gây ra bàn thua, trong trận chung kết mà không phải cầu thủ nào cũng có cơ hội được tham dự. Với một thủ môn, điều đó đau đớn vô cùng.

“Khoảng cách giữa người hùng và tội đồ ngày càng nhỏ, đặc biệt là với vị trí thủ môn. Lúc trước, mọi áp lực luôn tìm đến tôi nhưng giờ tôi phải đi tìm lại nó. Tôi cần có nỗi sợ. Nỗi sợ khiến tôi thức dậy và tập trung ngay lập tức.” Thật vậy, nỗi sợ hãi có thể huỷ hoại những con người mang trái tim yếu đuối, nhưng mặt khác nó lại kích thích người như Kahn trở nên mạnh mẽ hơn, chạm đến từng giới hạn của bản thân và vượt qua thất bại.

Sau trận đấu đó, Oliver Kahn đã trở thành thủ môn đầu tiên trong lịch sử giành danh hiệu cầu thủ hay nhất tại một kỳ World Cup. Anh nhận được 147 phiếu bầu của các nhà báo, vượt qua chính Ronaldo, khi đưa Die Mannschaft vào đến chung kết với số bàn thua thấp nhất giải đấu – 1 bàn. Sau đó, anh trở thành thủ môn có số trận giữ sạch lưới nhiều nhất Bundesliga với 197 trận, thi đấu 557 lần cho Bayern Munich với rất nhiều danh hiệu.

Ở Kahn là một chất Đức mạnh mẽ, quyết đoán, nhạy bén, kiên cường, nó nhiều hơn bất cứ ai và bằng chính cá tính cùng tài năng của mình, anh đã khẳng định được vị thế bản thân giữa một dãy ngân hà đầy ắp các vì tinh tú. Anh không chỉ là ngọn núi lửa phun trào giận dữ vào đối thủ, là bức tường chắn mạnh mẽ trước khung thành, anh còn là ‘Der Titan’ ở Đức và là King Kahn với những người hâm mộ châu Á.

Happy Birthday Oliver Kahn ❤️


OFFLINE HÀ NỘI trận 🇩🇪🇭🇺 ngày 19/6:

ANH TÚ ĐANG TU ĐẠO GÌ?

Rất nhiều những hiểu nhầm và kiến thức sai về anh Tú (Minh Tuệ) đang lan truyền hàng ngày trên MXH nhất là Facebook. Facebook vốn chỉ là nơi thượng vàng hạ cám như cái chợ, tình trạng hiểu nhầm hiểu sai và những kiến thức kém chất lượng lan truyền cũng là chuyện đương nhiên phải có. Nhất là khi những người viết bài hay làm video về anh Tú không có hiểu biết gì về Phật giáo, thường viết hay làm để bày tỏ ra quan điểm cá nhân phục vụ cho những ý định đơn giản không có tính cách chuyên môn.

Vì vậy việc nên làm là cần có những tiếng nói cởi bỏ những hiểu nhầm và xua tan những kiến thức sai, góp phần tạo ra một nhận thức chung đúng đắn cho cộng đồng.

Về anh Tú (hiện tượng Minh Tuệ) người viết nhận thấy có rất nhiều quan niệm sai lầm được người ta chấp nhận như chuyện mặc định là đúng, dù thực tế nó không đúng. Nêu ra vài điểm dễ thấy trước:

  • Anh Tú đang là sư thầy?
  • Anh Tú đang là đệ tử nhà Phật?
  • Anh Tú đang tu theo Phật pháp ?
  • Anh Tú đang hành 13 hạnh đầu đà?
  • Anh Tú đang truyền dạy Phật pháp?
  • Anh Tú thuộc trường phái hay hệ phái nào của Phật giáo ?
  • Anh Tú là bậc chân tu?

1- Anh Tú đang là sư, thầy?

Vấn đề này đã có nhiều bàn luận, không cần thiết nêu ra đây thêm. Anh Tú là một hành giả đang có vẻ ngoài là tu theo Phật pháp, và không thừa nhận mình là sư hay thầy. Vậy thì anh Tú là cư sĩ tại gia nhưng muốn sống đời du sĩ. Người Ấn-độ gọi đây là Sa-môn (śramaṇa), đạo sĩ. Chúng ta tạm chấp nhận anh Tú là một đạo sĩ, theo truyền thống quan niệm Ấn-độ xưa và nay, dù rằng quan niệm như thế có thích hợp với văn hóa người Việt Nam hiện đại hay không là câu chuyện khác. Dù là gì, anh Tú không phải là tu sĩ hợp cách của Phật giáo.

2- Anh Tú đang là đệ tử nhà Phật?

Anh Tú từng là tu sĩ sa-di (samanera), sa-di là tu sĩ tập sự, anh Tú thuộc hệ Phật giáo Bắc Tông, cụ thể là thuộc tu viện Chơn Như, sau đó rời chùa ra đi, dù các bậc trưởng thượng của anh Tú đã không đồng tình.

Tưởng cũng nên nhắc lại, Tu viện Chơn Như tuy thuộc Bắc Tông nhưng luôn có khuynh hướng dị biệt, chỉ trích tất cả các trường phái Bắc Tông và Nam Tông khác và muốn đi riêng một lối không giống ai, không giống Bắc Tông mà chả giống Nam Tông. Nói tu viện Chơn Như là trường phái Phật giáo mới phát sinh tại Việt Nam là chính xác không sợ sai lầm.

Khi ra đi anh Tú cũng đã vứt bỏ y áo sa-di mà tự chế ra tấm y mới mà ta thấy bây giờ. Y anh Tú đang mặc này nó không phải là y phấn tảo, Vì theo Luật Tạng y Phấn tảo phải nhuộm hư hết màu sắc và thành một màu thuần mới đúng luật đúng pháp.

Vậy thì anh Tú đã mất đi tư cách tu sĩ sa-di. Đây là chiếu theo Luật tạng của Nam Tông và Bắc Tông, không ai chấp nhận điều anh Tú đang hành này. Hệ tiêu chuẩn này chưa từng thay đổi từ khi đạo Phật ra đời đến nay.

Kế nữa, anh Tú nhiều lần chấp nhận cho tu sĩ Phật giáo lễ lạy mình, là trái với luật tạng. Người đã mất tư cách tu sĩ, là cư sĩ tại gia thì không được phép nhận lễ lạy của tu sĩ thọ giới cao hơn mình. Trừ một số trường hợp đặc biệt như trong truyền thống Mật Tông Kim Cương Thừa người thầy phát nguyện tái sinh lại, được đệ tử tìm thấy đưa về chốn cũ để cho vào đời sống tu viện tiếp tục. Người thầy lúc này tuy chưa xuất gia và còn nhỏ bé, nhưng đứa trẻ vẫn nhớ tiền kiếp và nhận ra các đệ tử của mình, vẫn có thể nhận lễ lạy của những vị đệ tử tu sĩ lớn tuổi đạo tuổi đời hơn. Đây là truyền thống “tôn sư trọng đạo” chứ không phải là theo Luật. Nghĩa là nó là ngoại lệ chấp nhận được dù trái luật.

Đây là anh Tú mặc nhiên thừa nhận anh Tú là tu sĩ cao hơn, vậy là mâu thuẫn. Anh Tú đã không học kinh và Luật để biết hết luật nhà Phật mới dẫn tới tình trạng này. Đây là cái sai lớn của anh Tú, nhưng ý nghĩa chính là anh Tú tự nhận mình cũng là một hành giả vĩ đại hay đạo sư lớn, tức là một sa-môn, đạo sĩ.

Từ bỏ tư cách một tu sĩ sa-di Phật giáo để làm một đạo sĩ loại khác, vậy thì anh Tú đang xếp mình vào một trong hai trường hợp phát sinh mới:

  • Trường hợp 1: Anh Tú đang lập ra một hệ loại tu sĩ mới của Phật giáo giống như hình thức tu nữ (Nam Tông -Theravada) hay hình thức Ngakpa ( hành giả Mật thừa – Mantrika) của Phật giáo Tây Tạng, tuy là đắp y thọ giới nhưng là y loại khác và giới loại khác và mang tính riêng biệt không giống với y giới của tu sĩ Phật giáo hay y giới của cư sĩ Phật giáo. Điểm khác rõ nhất giữa anh Tú và hai loại hành giả trên, là các hình thức tu nữ ( nữ tu thọ 8 giới hoặc 10 giới) hay Ngakpa luôn có Hội đồng Tăng thông qua cho phép và có sự truyền giới đúng pháp. Còn anh Tú là tự chế ra không thông qua một hội đồng Tăng nào cho phép thông qua cũng không có sự truyền giới truyền y nào hợp cách. Đây hoàn toàn là sự tự chế của anh Tú 100%.

Tưởng cũng nên nhắc qua về luật Phật giáo. Đó là khi Phật tại thế lấy Phật làm chủ. Khi Phật nhập diệt rồi thì Tăng đoàn, hội đồng Tăng sĩ hợp cách được bầu chọn theo thể thức của Luật tạng sẽ quyết định mọi thứ, như mô hình chính phủ thế tục, tuy nhiên nó có tính hội đồng chứ không có tính quân chủ phong kiến dù có tồn tại ngôi vị Tăng Thống hay Pháp Chủ được suy tôn. Nam Tông hay Bắc Tông đều như thế. Nó là mô hình quản lý tập thể mang tính Dân chủ theo mô hình cổ xưa ở Ấn-độ. Đây là sự khác biệt của tổ chức Phật giáo với các tôn giáo khác.

Anh Tú không có hội đồng nào thông qua và cho phép, nên anh Tú không thuộc trường hợp này. Anh Tú cũng không phải tu sĩ Phật giáo hợp cách nên không thể là ở trường hợp này.

  • Trường hợp 2: anh Tú tự mình tách ra lập ra Đạo mới, tương tự như ông Đạo Dừa hay Thanh Hải Vô Thượng Sư hay ông Ruma Trần Tâm ở Việt Nam những năm trước kia. Đây là kiểu đạo vay mượn, nói theo dân gian là ăn theo đạo Phật. Vậy thì đây không phải là Đạo Phật mà là đạo khác. Dù có mang danh đặt tên hay lấy hình thức gì đi nữa thì vẫn là đạo khác. Bởi hình thức khác, nội dung khác, giáo lý khác, hành trì khác, chủ trương đường lối khác. Dù có thể có đôi phần giống với Đạo Phật gốc nhờ vay mượn từ đạo Phật gốc.

Chẳng hạn như anh Tú từng nêu ra chủ trương riêng rằng:

  • Không cần thầy, mình cứ tự quy y, tự thọ giới, tự xuất gia.

Thật ra câu này nguyên lấy ra từ câu tam tự quy y trong thời khóa Nhật tụng Phật giáo, có xuất xứ từ Thiền Tông Trung Hoa xưa: “Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát vô thượng tâm. – Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. – Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng hết thảy không ngại”.

Hiểu theo nghĩa triết học nhà Thiền, tự tánh Phật luôn sẵn có nơi chúng sinh, quay về tự tánh Phật là khai ngộ giác tánh bổn hữu, là nghĩa của câu “tự quy y Phật “. Tương tự, tự tánh Pháp luôn sẵn có nơi tâm chúng sinh, quay về tự tánh Pháp là quay về với tự tánh Chân Chánh sẵn có, là nghĩa của câu “Tự quy y Pháp”. Cũng tương tự, tự tánh Tăng luôn có sẵn nơi mỗi chúng sinh, quay về với tự tánh Tăng tức là quay về tự tánh thanh tịnh bổn hữu, là nghĩa của câu “Tự quy y Tăng”.

Chỉ vài dòng ngắn ngủi nhưng triết lý sâu xa và hàm chứa nhiều ý nghĩa triết học rộng lớn, mà những điều này đã được trình bày trong nhiều bản kinh lớn của Phật Giáo Đại Thừa. Triết học này khó tiếp cận với đa số người bình thường.

Anh Tú vì không có thầy dạy giáo lý nên đã hiểu sai nghĩa này của kinh Phật và tự chế ra một cách hiểu mới lệch lạc và thiển cận hơn, biến thành một chủ trương sai lệch với Luật của Phật giáo.

Cách hiểu này không khác gì cách hiểu của ông Lê Tùng Vân khi dạy mấy “chú tiểu” rằng: quy y là quay về nương tựa mấy cái y áo ông đang mặc! 🙂

Tuy nhiên, vì anh Tú đã dùng chủ trương đó của mình để dẫn đạo cho khá nhiều người đi theo, 60-70 người đi theo chủ trương này, nên nó đã được xem là chủ trương chính thức của anh Tú, nhiều người đều ghi nhận.

Ta không bàn đúng sai về nó, vì nó hoàn toàn có tính cách cá nhân do cá nhân đưa ra. Ta nên kết luận công tâm rằng nó không phải của Phật giáo mà là của một Đạo mới do anh Tú lập ra.

Xét về cả 2 phương diện, cả tư cách cá nhân lẫn chủ trương anh Tú, ta buộc phải kết luận anh Tú đang theo một Đạo mới do anh Tú lập ra. Người viết đề nghị hai cái tên: Đạo Nhân Quả, hoặc Đạo Đi Bộ. (Đạo Nhân Quả là của ông Thích Tâm Phật, trưởng bối của anh Tú lập ra và có liên hệ chặt chẽ với anh Tú; hoặc lấy tên Đạo Đi Bộ, dựa theo hạnh đi bộ của anh Tú).

Vậy là anh Tú không phải đang tu theo Phật giáo. Nên anh Tú không phải đệ tử nhà Phật. Ta đã có câu trả lời.

3- Anh Tú đang tu theo Phật pháp ?

Trước hết, Về câu niệm Phật “ A-di-đà Phật!” mà anh Tú niệm nhiều như câu cửa miệng, của bất kỳ người Phật tử Bắc Tông nào ở Việt Nam, thì không thể lấy đây làm căn cứ để kết luận anh Tú đang tu theo đúng đạo Phật chính thống. Nhiều người cũng bắt chước niệm như vậy dù không phải Phật tử.

Về hạnh đầu đà chỉ dành cho tu sĩ Phật giáo ( anh Tú lại không phải) đã bàn rất nhiều, xin tóm lược lại:

  • Về sự thọ trì hạnh đầu đà: anh Tú có tự mồm nói ra nhưng chỉ mới đây chứ trước kia anh Tú bảo là đi bộ rèn luyện sức khỏe. Cái này các bạn YouTuber và Tiktoker đã ép anh Tú vào hạnh này một cách vô tình từ sự hiểu nhầm mà ra.
  • Anh Tú chỉ có giống được mấy phần: hạnh khất thực, ăn ngày một bữa, không để dành đồ ăn, hạnh nhất tọa thực, hạnh khất thực từng nhà, những hạnh còn lại anh Tú không làm được và làm không giống, có khi mâu thuẫn với lời anh Tú nói.

Về pháp môn thực hành, Bắc Tông có Thiền-Tịnh-Mật, Nam Tông có thiền niệm xứ vipasana. Anh Tú đều không hành theo. Anh Tú hành theo kiểu thiền của tu viện Chơn Như, nhưng mới bảy tháng học ở đó đã vội ra đi nên pháp hành anh Tú là câu hỏi bỏ trống không thể xác định vì anh Tú còn mù mờ không học hết hiểu hết.

Về ước nguyện thành “Chánh Đẳng giác” tức là nguyện thành Phật, đây là pháp thuộc về “Nguyện Ba la mật” hay là phát tâm Bồ-đề trong Phật pháp Đại Thừa. Theo truyền thống thì các vị hành giả sẽ tự nguyện trong tâm chứ không nói ra, và chỉ nói ra lời phát nguyện trong các nghi thức phát Bồ-đề tâm trước Đại điện có mời thỉnh chư Phật Bồ tát 10 phương chứng minh, nghĩa là tuân theo nghi thức chặt chẽ; hay các kỳ nhập thất hành trì pháp tu Đại Thừa hay các nghi quỹ Mật Thừa. Anh Tú không được học cái này ở bất kỳ ngôi chùa nào với bất kỳ vị thầy dạy nào, tu viện Chơn Như lại không có phần giáo pháp này, nên chỉ có thể xem là anh Tú tự học lỏm và phát tâm theo. Tuy tốt nhưng chỉ được 1/100 của giáo pháp tiêu chuẩn. Vậy thì không có gì để bàn thêm, vì nó vốn chỉ là lời nói đơn phương của anh Tú, thiếu nội hàm rất nhiều, có thể xem như là không có gì.

Kết luận là anh Tú không theo Phật giáo mà chỉ là vay mượn từ Phật giáo theo kiểu học lỏm. Anh Tú đang đi theo một Đạo mới do anh Tú tự lập ra.

4- Anh Tú đang hành 13 hạnh đầu đà?

  • Ý này đã được bao hàm và đề cập đến trong câu hỏi 3 ở trên.

5- Anh Tú đang truyền dạy Phật pháp?

Quan sát những gì anh Tú thể hiện qua những lời khuyên dạy, chỉ là dạy về những đạo lý căn bản và nông cạn của Phật pháp: giữ 5 giới, ăn chay… mà bất kỳ người Phật tử Bắc Tông nào cũng hành trì hằng ngày, không có gì mới hay lạ.

Nhưng bên cạnh đó anh Tú cũng nêu ra những quan điểm mới:

  • Tự quy y tự thọ giới tự xuất gia. Nghĩa là không cần thầy dạy và không cần thầy truyền giới. Vậy thì anh Tú đã phá bỏ 3 giới quan trọng là “tam quy“. Với anh Tú thì câu “Tôn sư trọng đạo” không có giá trị gì, vì không cần đến “sư”. Đây là cái mới.
  • Đã trụ trì thì không giải thoát, hàm ý của anh Tú là không nên trụ trì. Chỉ có đi bộ suốt năm suốt đời mới đúng, đúng với chủ trương của Đạo mới mà anh Tú đang lập ra. Đây là điểm mới nổi bật.
  • A-la-hán không biết gì ngoài Niết-bàn cả. Cái này cũng là điểm mới khác xa truyền thống Phật giáo chính thống.

Kết luận: anh Tú đã vay mượn nhiều điều từ Phật giáo kết hợp với những chủ trương mới tạo ra một thứ giáo lý mới khác xa so với Phật giáo chính thống, nên không thể xem đây là truyền dạy Phật pháp. Chỉ có thể kết luận là anh Tú đang truyền dạy Đạo mới, truyền bá thứ tôn giáo mới.

6- Anh Tú thuộc trường phái hay hệ phái nào của Phật giáo ?

Về xuất thân, anh Tú xuất thân từ tu viện Chơn Như thuộc Bắc Tông. Nhưng tu viện Chơn Như thì luôn có khuynh hướng dị biệt với tất cả, như một đứa con cá biệt của gia đình Phật giáo, anh Tú lại bỏ tu viện để ly khai, tự lập môn hộ riêng, như những gì chúng ta đã thấy qua phân tích. Trên thực tế tu viện Chơn Như đã quay lưng với anh Tú, và không xem anh là thành viên nữa. Còn anh Tú có thể giữ mối liên hệ chặt chẽ với Đạo Nhân Quả nhưng anh Tú vẫn khác Đạo Nhân Quả ở chỗ xem thường người thầy, yếu tố “sư” trong “ tôn sư trọng đạo”, trong khi Đạo Nhân Quả lại nhấn mạnh tuyệt đối hóa yếu tố “sư” này, coi “sư” là Phật. Đây là khác biệt giữa hai bên.

Có thể kết luận: Trong Đại gia đình tu viện Chơn Như, có nhiều nhánh mới: tu viện Chơn Như 1, tu viện Chơn Như 2, Thiền Tôn Phật Quang, Đạo Nhân Quả, và nhánh Đạo mới của anh Tú. Dĩ nhiên là 2 nhánh Đạo Nhân Quả và Đạo mới của anh Tú chưa chính thức thành lập nên không thể xếp chúng thuộc về trường phái hay hệ phái nào, dù trên nguyên tắc phải xem 2 nhánh này có mối quan hệ anh em với 3 nhánh còn lại của tu viện Chơn Như.

7- Anh Tú là bậc chân tu?

Vấn đề này phức tạp và cần thời gian để trả lời. Dù đối với người viết vấn đề đã sáng tỏ như ban ngày từ lâu.

Trước mắt anh Tú có một vài hạnh đáng ghi nhận, và cũng có phong thái của những con người khai sơn tôn giáo mới như ông Đạo Dừa hay Thanh Hải Vô Thượng Sư hay Lý Hồng Chí…

Anh Tú có thể là bậc chân tu của những tín đồ tương lai của một tôn giáo tương lai sắp ra đời, chứ với đạo Phật thì không có liên quan. Về sau anh Tú có thay đổi thành thế nào thì lại là câu chuyện khác, cũng sẽ không liên quan đến Phật giáo.

P.S: Hy vọng bài viết này đủ để giải đáp những câu hỏi thắc mắc về “hiện tượng sư Minh Tuệ” mà nhiều người đang quan tâm. Người viết dù chỉ mới học Phật và nghiên cứu tâm linh 20 năm nhưng cũng mạo muội viết về đề tài này góp phần đẩy lùi các nhận thức sai lầm và kiến thức sai trái đã và đang lan truyền trên cộng đồng mạng.

NXĐ

MỘT BIỂU TƯỢNG THIỆN LƯƠNG TRONG NGHỆ THUẬT

Từ nghệ thuật, có những nhân vật bước ra đời sống. Từ đời sống, cũng có vài con người đi vào nghệ thuật. Nhưng trở thành hình tượng trung tâm, biểu tượng cho sự thiện lương tuyệt đối, không gợn chút bụi trần, có lẽ ngoài Đức Phật, là sư Minh Tuệ.


MỘT BIỂU TƯỢNG THIỆN LƯƠNG TRONG NGHỆ THUẬT


Nói như vậy, không phải là để so sánh hay nâng tầm, thánh hoá, Phật hóa sư Minh Tuệ. Mà đây là một sự thực đang diễn ra ngay lúc này trong đời sống nghệ thuật đương đại.

Phẩm cách và giới hạnh của ông đã khiến bao trái tim rung lên những cảm xúc triền miên khó tả. Thân hành và bước đi của ông đã khiến cho người ta phải suy nghĩ về cuộc đời. Cuộc sống này có ý nghĩa gì? Thế nào là hạnh phúc? Hàng loạt câu hỏi cứ hiện lên trong những khối óc biết suy tư. Dường như, có một sự đảo lộn trong những nhận thức đã có trước đó.

Người đời cứ chạy theo cuộc sống, bị nó quay cuồng, nó nhấn chìm chúng ta vào vòng xoáy danh lợi, tiền bạc; được mất, hơn thua. Thế rồi, khi người ta có trong tay tất cả những thứ mong ước ấy, là lúc nhận ra mình bất hạnh. Niềm vui chẳng thấy mà chỉ thêm phiền não, bất an. Lại có người tự dối lòng, rằng mình luôn thanh thản. Kỳ thực, đó chỉ là sự trấn an do sự thanh thản ấy đang thiếu vắng ở trong lòng.

Và có một thời, người ta nói về hạnh phúc nghe có vẻ triết lý, rằng “hạnh phúc là đấu tranh”. Nghe hay và có lý lắm. Nhưng có lẽ quan niệm này được chấp nhận do suốt một thời con người phải sống trước những lựa chọn, lựa chọn sinh tồn, lựa chọn tư tưởng, lựa chọn giai cấp…

Đến khi sư Minh Tuệ xuất hiện, người ta mới nhận ra, hạnh phúc là buông, hạnh phúc là khi không có gì. Sư Minh Tuệ không phải là người “phát kiến” ra điều này nhưng chính ông là người tiêu biểu hiện thực hóa điều này; ông như một minh chứng sống động và cụ thể cho những tư tưởng, triết lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết cách đây gần 2600 năm.

Đó là lí do ông trở thành nguồn cảm hứng bất tận, làm nên những xúc cảm mãnh liệt, cứ lớn dần và đi tiếp trong tâm hồn của người nghệ sĩ. Không chỉ có vậy, ông đã nhen nhóm tình yêu thương trong tất cả những người mà trước đây không mấy quan tâm đến tha nhân và hiện thực cuộc sống; thôi thúc họ phải viết về ông, phải bộc lộ những tâm tư về ông, như một cách giải tỏa, giải thoát những điều được giấu kín trong thế giới nội tâm của họ bấy lâu nay, cho dù viết có vụng về hay vấp váp, điều đó không mấy quan trọng.

Ông đã cộng hưởng lòng bi mẫn vào những trái tim vốn đã giàu lòng nhân ái khiển họ thêm thổn thức, dâng trào những xúc cảm êm đềm, trong mát, ngọt ngào.

Và như thế, người viết văn, kẻ làm thơ. Lời hay ý đẹp cứ tuôn trào tạo thành những dòng chảy len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Hàng trăm bài luận, hàng ngàn bài thơ và còn nữa. Có lẽ cũng mới là sự bắt đầu.

Nghệ thuật đâu chỉ có văn chương, hội hoạ cũng không thể đứng ngoài cuộc trước cơn gió thiện lành. Sức lan tỏa của lòng từ bi, của hương đức hạnh đã làm nên bao bức tranh tuyệt mĩ. Tôi thật sự ấn tượng trước những bức họa này! Mỗi tác phẩm là một cảm xúc, một thế giới rất riêng của người nghệ sĩ, và cũng chẳng giống nhau trong tâm người thưởng thức. Phải thừa nhận rằng dường như chính cái cà sa y phấn tảo của sư nó như rất hợp với hội hoạ, nó như miền đất màu mỡ để những họa sư thỏa sức mà canh tác, cải tạo, trình diễn tài năng của mình. Thật thích thú và khâm phục!

Và thời trang, họ cũng không chịu đứng im, họ đã lên tiếng bằng hàng loạt kiểu mẫu mang màu sắc, phong vị của y phấn tảo. Nói chính xác hơn, nghệ thuật này càng có nhiều cơ hội để diễn trình. Bỏ qua yếu tố thương mại và lợi nhuận, thì chính thời trang đã khiến y phấn tảo bay xa hơn, cao hơn. Nó đã có mặt trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Rõ ràng, đó chính là thông điệp giá trị, ý nghĩa mà chỉ có sư Minh Tuệ mới mang lại được.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một luận điểm quan trọng trong tu Phật, đó là “tu là bỏ tất cả, bỏ tất cả là được tất cả, được tất cả là không được gì hết”(*). Rõ ràng, sư Minh Tuệ chính là hiện thân triết lý cao thâm này, vì tâm ông đã đạt trạng thái như vậy. Vô cầu, vô trụ, vô chấp.

Một chữ, BUÔNG !


——
Chú thích:
(*) “được tất cả là không được gì hết”: tức hoàn toàn thanh tịnh, không chấp trước bất cứ điều gì.
@ Hình các tác phẩm hội hoạ: mượn từ trên mạng. Mong các họa sĩ sáng tác lượng thứ.
——
Nha Trang, 08/06/2024
Nguyễn Thanh Huy

Cơ Trời

Từ ngày 3 Tháng Sáu 2024, ông Thích Minh Tuệ lại lui về ẩn tu. Như vậy có lẽ hợp lý, vì ông cũng bị phiền nhiễu quá mức và chính quyền cũng hết chịu nổi khi ngày càng có ngàn, vạn người dân hoan hỉ, thành kính đón chào ông như một lãnh tụ tinh thần chưa từng thấy.

Nhưng sự xuất hiện của ông chỉ trong một tháng thôi cũng đủ hoàn thành sứ mệnh lịch sử.

Hiện tượng Thích Minh Tuệ diễn ra không ai biết trước, không ai chủ động tạo ra. Đó là một hiện tượng hoàn toàn tự phát, nhưng đủ hết các cơ duyên để bùng phát, lan tỏa như bão, lũ, chấn động xã hội và dư chấn rung động cả đến quốc tế.

Tôi cứ nghĩ lan man, tại sao lại là lúc này? Có phải là CƠ TRỜI?

Khi các “ma tăng” có quyền lực bảo kê, bộc lộ hết sự tha hoá trước cửa Phật và trước bàn dân thiên hạ

Phải nói rằng hơn 14 nghìn chùa, hơn 44 nghìn tăng ni trên khắp cả nước, cũng có những chùa giữ được tam bảo, có những sư, ni tu theo Chánh pháp của Phật.

Nhưng những năm gần đây, ngày càng nhiều chùa, nhiều sư trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) bộc lộ rõ sư tha hoá, xa rời Chánh pháp của Đức Phật. Những hoạt động “dâng sao giải hạn,”“trục vong,”“phóng sinh,”“chiêm bái xá lợi tóc Phật,”“tổ chức khất thực, thu tiền của các Phật tử tại chùa,” kêu gọi “cúng dường” bằng đủ mọi thủ đoạn. Theo họ thì không cần tu, không phải Phước sinh ra từ Đức mà cứ cúng dường là có phước, cúng càng nhiều phước càng lớn.

Những clip “giảng pháp ba trợn,” những hành vi phản cảm của Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Nhuận Đức, lan truyền trên mạng xã hội gây bức xúc ghê gớm, với những bằng chứng không thể chối cãi.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết: “Với tiêu chí: “ĐẠO PHÁP – DÂN TỘC và CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” hiện nay của giáo hội Phật giáo quốc doanh, chùa chiền của Việt Nam đang thờ khẩu hiệu diệt tôn giáo của Karl Marx: TÔN GIÁO LÀ THUỐC PHIỆN CỦA NHÂN DÂN.” Và, thuốc phiện chính là thuốc độc, cần phải loại bỏ trong xã hội con người.

Trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa của Marx, không có chỗ tồn tại của tôn giáo. Như vậy, Phật giáo chỉ còn là phương tiện để các thầy chùa quốc doanh hô hào chuyển khoản gọi là “Thích chuyển khoản,”“Thích cúng dường,”“Thích cúng sao,”…

Nhà văn Phạm Lưu Vũ đã gửi thư ngỏ cho Hòa Thượng Giáo Chủ GHPGVN Thích Trí Quảng, nêu rõ sự “phá Đạo” của mấy sư và gay gắt hỏi: “Thượng Tọa” Thích Chân Quang vì cực Tham và cực Si, nên mới nhầm lẫn đến mức như thế. Chẳng lẽ các vị chư tôn đức ở bên trên, cũng “Si” như vậy cả hay sao? Mà không lên tiếng bảo vệ giáo lý của Đức Phật”?

Nhà giáo Chu Mộng Long có bài viết “CẦN TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ” kiến nghị Ban Kiểm Tra TƯ Đảng CSVN và Bộ Công An hãy điều tra, xử lý Ban Tôn Giáo Chính Phủ về tội quản lý nhà nước về tôn giáo đã để xảy ra bao nhiêu chuyện bê bối của GHPGVN, làm nhân dân bức xúc hết chịu nổi.

Vậy mà, GHPGVN và mấy “ma tăng” vẫn trơ như đá, vững như đồng!

Bởi vì cái GHPGVN XHCN này tin rằng Hội của Đảng và Nhà nước, lại có lực lượng vô cùng hùng hậu. Nhiều người, cả người viết bài này nhiều lúc thấy như vô vọng trước sức mạnh của mấy “ma tăng” lôi kéo được hàng triệu quần chúng u mê theo chúng.

Theo số liệu thống kê của GHPGVN, cả nước có gần 45 triệu tín đồ quy y tam bảo, có 1,002 đơn vị gia đình Phật tử và khoảng 44,498 tăng ni, hơn 14,775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật.

Tất nhiên vẫn có nhiều nhà sự Chân tu, nhiều ngôi chùa “nghèo” mà giữ được Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, nhiều Phật tử tu theo Chánh Pháp. Nhưng tất cả những nhân tố tích cực ấy như ẩn cư, khép nép chìm vào tĩnh lặng trước đội quân hùng hậu trùng trùng điệp của mấy “ma tăng” trong GHPGVN.

Sự mất niềm tin, bức xúc của nhiều người dân và Phật tử đã lên đến đỉnh điểm, khát khao mong chờ một sự thay đổi…

Sự xuất hiện của Thích Minh Tuệ “đủ chín” đúng lúc.

Trong bối cảnh nêu trên, bỗng xuất hiện Thích Minh Tuệ như ánh đuốc nhiệm màu soi sáng căn hầm hỗn độn, mung lung u tối.

Nhưng phải có một quá trình sáu năm gian khổ, âm thầm mới đủ “chín” để có một Minh Tuệ xuất hiện, chấn động nhân tâm như những gì đã thấy từ đầu Tháng Năm 2024 đến nay.

Thích Minh Tuệ tên thật là Lê Anh Tú, sinh năm 1981 tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Năm 1994, Tú cùng gia đình chuyển đến tỉnh Gia Lai sinh sống.

Sau khi học hết phổ thông trung học, Tú đi nghĩa vụ quân sự. Khi xuất ngũ, anh theo học Trường Trung cấp Lâm Nghiệp Tây Nguyên. Tốt nghiệp, anh làm công tác đo đạc địa chính cho một công ty tư nhân tại tỉnh Phú Yên. Thời gian này, Tú tìm hiểu Phật pháp trong sách, trên mạng và quyết định xin bố mẹ cho đi tu.

Tháng Bảy năm 2015, Tú xuất gia đi tu tại một ngôi chùa với pháp danh Thích Minh Tuệ. Sau hai năm “thấy không hợp,” Tú rời khỏi chùa, lên núi ẩn tu một mình trong hốc đá, ở núi Sạn (Nha Trang), hàng ngày đi khất thực.

Sau đó thấy rằng mình cần phải đi ra thế gian để có cơ hội hiểu đời, hiểu mình, nên năm 2017 Thích Minh Tuệ quyết định đi bộ hành từ Nam ra Bắc và ngược lại. Cho đến nay, đã đi bốn lần và ông đã đặt chân đến gần như khắp mọi miền đất nước, chỉ còn ba tỉnh Tây Ninh, Trà Vinh, Bến Tre là chưa tới.

Thời gian đầu Minh Tuệ đi khất thực đầu trần, chân đất, nhưng y phục và bình bát vẫn giống như các sư ở chùa.

Năm 2018, một người đi xe hơi, thấy một nhà sư đầu trần, chân đất đi dưới trời nắng, liền mời thầy lên xe, Minh Tuệ xưng “tôi” và trả lời: “Cảm ơn, tôi đi bộ để rèn luyện.”

Tháng Năm 2019 chị Vivian Phạm gặp Minh Tuệ ngồi thiền trên đèo Phadin, ông vẫn mặc áo vàng, nhưng đã xưng “Con.”

Sau này Minh Tuệ mới dần dần đủ “chín” để xuất hiện vào Tháng Năm 2024 với đầy đủ Đạo hạnh của một bậc Chân tu lý tưởng đáp ứng niềm khát khao mong cầu của thế gian trong xã hội đương thời.

Tôi tin rằng, Thích Minh Tuệ đã đủ “chín” thì mới:

-Không xưng “Thầy” (dù được gọi là Thầy), không xưng “Tôi” (như 2018), mà xưng “CON” (2019), nghĩa là buông bỏ cái NGÃ của mình xuống thấp hơn tất cả mọi người: “Con coi tất cả mọi người đều là anh em, cha mẹ, mọi người đều bình đẳng.” Tức là “Vô ngã,” đồng thể ngã với mọi chúng sinh. Còn hơn thế: “Có ai mắng chửi, đánh con, con cũng không tức giận họ, con cầu mong cho họ hạnh phúc.”

-Chọn y phục tự khâu chắp vá và bình bát là ruột nồi cơm điện, khác hẳn, không thể lẫn với y phục, bình bát của tất cả các nhà sư tu hiện thời

-Chỉ đầu trần, chân đất đi khất thực, ăn một bữa, không nhà cửa, không nhận tiền, ngủ ở nghĩa địa, gốc cây; buông bỏ hết nhu cầu vật chất đến tối giản, không thể buông bỏ hơn được nữa, khác hẳn với đời sống của tất cả các nhà sư hiện thời. Các nhu cầu cho xác thân đã tối giản tận cùng mà luôn an nhiên, vui vẻ “con rất hạnh phúc.” (gợi liên tưởng đến Ngài Ca Diếp).

-Đã đọc nhiều Kinh, Pháp nhưng luôn nói, “Con đang học tu, chưa có gì để nói.” Nhưng nếu ai hỏi thì vui vẻ trả lời rất giản dị, mộc mạc, mà có người gọi là “ngô nghê” (nhưng thực ra rất đúng với căn bản của Phật pháp). Minh Tuệ cũng không nói mình tu theo Hạnh Đầu Đà; ông nói: “Nói pháp không ai bằng Ngài Anan, tu khổ hạnh không ai bằng Ngài Ca Diếp, nhưng Đức Phật không bảo ai tu theo Anan hay Ca Diếp cả. Con chỉ tu theo lời Phật dạy.”

-Có tuệ giác, biết trước, phòng trước mọi chuyện: “Con chỉ là công dân Việt Nam học tu theo lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sáu năm qua con không là nhân sự ở chùa nào. Con không là Nam tông hay Bắc tông, cũng không phải là tu sĩ của GHPGVN, bởi con tự thấy đạo đức của con chưa đạt đến cảnh giới đó.”

Ông nói: “Mọi người quay phim ghi hình con không có quyền ngăn cản, nếu họ thấy việc họ làm là ích lợi và vui vẻ thì họ cứ làm; mọi người đi theo là tự ý họ, con không kêu gọi, cũng không có quyền ngăn cản, nhưng mong mọi người giữ trật tự, không gây cản trở giao thông, mất trật tự…”

“Tất cả mọi người đang di hành cùng nhau đến từ sự tự nguyện tu tập, không có đoàn, không có tổ chức, đội trưởng nào cả, không có ai đứng ra chịu trách nhiệm để kêu gọi quyên góp, không cúng dường vật chất, không nhận tiền bạc, không nhận chuyển khoản…

Ai muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Con không mời gọi, không kết nạp đệ tử và cũng không xua đuổi ai.”

Ông trả lời chiều 29 Tháng Năm 2024 tại Quảng Trị: “Con chỉ mong tất cả mọi người chuyên tâm tu tập, rèn luyện sức khỏe, đạo đức từ bi, loại bỏ tham sân si, hung hãn để được an lạc và hạnh phúc.”

Điều đặc biệt là những câu trả lời của Minh Tuệ cách đây năm, sáu năm cho tới nay vẫn luôn nhất quán. Nếu ông nhận người đi theo là đệ tử, có tổ chức tăng đoàn, thì ông đã bị bắt khi hành giả Lương Thanh Sơn, pháp danh Minh Thiện sốc nhiệt tại Quảng Trị, và chết tại bệnh viện Huế, ngày 31 Tháng Năm 2024.

Với thân hình gầy còm nhưng dẻo dai phi thường, gương mặt cháy nắng chất phác, nụ cười hiền hậu, lời nói chân thật mộc mạc và nhất là hành trì tu tập theo Hạnh Đầu Đà đã sáu năm, Minh Tuệ hiển hiện lên là người Việt Nam, tu THẬT. Vì thế hình ảnh Minh Tuệ đã làm rung động hàng triệu con tim, loé lên niềm tin và hy vọng vào Tam pháp bảo, vào những điều tốt đẹp mà người dân đang khát khao, tìm kiếm.

Pháp Chủ GHPGVN- Hoà Thượng Thích Trí Quảng nói: “Có nhiều pháp tu, nhưng tu Hạnh Đầu Đà là khó nhất, nhằm tới ra khỏi sinh tử luân hồi. Khi Đức Phật tại thế có nhiều người tu theo Hạnh Đầu Đà, nhưng rồi bỏ dở, chỉ có Ngài Ca Diếp đi tới cùng, vì Ngài có thân Kim cương.

Minh Tuệ từ chối giảng pháp nhưng hoằng Pháp bằng trì giới nghiêm ngặt, hành pháp bền bỉ, giáo hoá chúng sinh bằng thân giáo, khiến xúc động lòng người, đánh thức những giá trị đạo đức ẩn sâu trong lòng người…

Vậy nên nhiều người coi Minh Tuệ như hình ảnh Đức Phật, Chúa Jesus, như Ngài Ca Diếp tái sinh để giải cứu Đạo Phật đang suy đồi.

Khi ruyền thông xã hội đủ mạnh phổ cập đến toàn dân

Nếu không có mạng truyền thông xã hội đủ mạnh, phổ cập thì xã hội cũng chẳng mấy ai biết đến Thích Minh Tuệ.

Bằng chứng là từ năm 2017 Minh Tuệ đã một mình đi khất thực từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam đến ba lần, đi khắp các tỉnh thành, mà có mấy người biết đến đâu.

Ngày 12 Tháng Năm 2019 chị Vivian Phạm đã gặp một nhà sư trên đèo Phadin ngồi trò chuyện gần 1 giờ, mà có lưu ý đâu. Nay chị mới biết đó là Minh Tuệ và đưa hình ảnh, viết lại buổi gặp gỡ 5 năm trước, hoá ra là sư Minh Tuệ đi bộ lên Điện Biên phủ.

Ngày 14 Tháng Mười 2022, bạn trẻ Thịnh Nguyễn sống tại Hà Nội, tình cờ gặp Minh Tuệ đi bộ tại cầu Long Biên; bạn là người có hiểu Phật pháp nên trò chuyện, rất cảm phục và viết một status trên fackbook “Gặp Thầy Minh Tuệ”: “Gặp một thầy chùa đi bộ từ Nha Trang lên phía Bắc, ra đến Hà Nội thầy đi hết một tháng rưỡi. Hôm nay gặp khi thầy từ Lạng Sơn về tới Cầu Long Biên, trên đường thầy tới Quốc Lộ 1 để đi về Nha Trang lại.”… Chỉ có 26 comments, đều tỏ ra cảm phục… Cộng đồng mạng vẫn im lặng.

Chiều ngày 21 Tháng Ba 2024, Minh Tuệ đi qua Nghệ An, đi có một mình và chỉ có một cô gái hỏi chuyện và chụp hình với ông đăng lên facebook “Nghệ An.” Rồi ông đi mãi lên Hà Giang, chỉ một người cùng đồng hành và gặp một thanh niên hỏi chuyện, ghi lại đoạn clip, nhưng không mấy người quan tâm.

Ngày 8 Tháng Năm 2024 khi ông từ Bắc trở về qua Thanh Hoá, bắt đầu có mấy chục người đi theo hỏi chuyện, livestream, rồi Nhật Nam TV ghi hình đưa lên Youtube…

Đến ngày 14 Tháng Năm khi Minh Tuệ vào đất Nghệ An thì ngày càng đông người đón chờ, đi theo, chụp ảnh, livestream…

Khi Minh Tuệ vào đến TP Vinh thì mấy nghìn người dân đổ ra đón Minh Tuệ, các youtuber, facebooker, Twitter… tíu tít tác nghiệp; hình ảnh tràn ngập trên không gian mạng, lan truyền như bão…

Đội ngũ facebooker, youtuber, twitter… ngày càng đông, đeo bám ngày đêm, không bỏ sót một cảnh nào trên đường đi của Minh Tuệ.

Có nhiều người phê phán đám youtuber, facebooker, twitter… lợi dụng hình ảnh trục lợi, gây nhiễu loạn thông tin xã hội. Nhưng nếu không có đội ngũ truyền thông dân dã này, làm sao xã hội và quốc tế biết rõ SỰ THẬT về sư Minh Tuệ.

Rõ ràng nhờ truyền thông xã hội phổ cập mạnh mẽ mới biến hiện tượng Minh Tuệ thành sự kiện xã hội sôi nổi, hào hứng, lan tỏa chưa từng thấy trong nhiều năm qua tại Việt Nam và tạo hiệu ứng xã hội không lường hết được.

Khi nhiều Phật tử và người dân đang thất vọng về sự xuống cấp của Đạo Phật, thì MInh Tuệ xuất hiện như ánh sáng nhiệm màu loé lên niềm tin và hy vọng vào Đạo Phật.

Ngày 14 Tháng Năm những người dân Nghệ An đầu tiên được facebooker phỏng vấn đã nói: Chúng tôi đón đợi Thầy từ 4-5 giờ rồi. Thầy là bậc Chân tu, nghìn năm mới xuất hiện, Thầy không lấy của dân một đồng nào để xây chùa to, tượng lớn mà cho người dân thấy được Chánh pháp của Đức Phật.

Phải nói rằng, trong đám đông cũng có những người hiếu kỳ.

Hiếu kỳ thì người ta chú ý “xem chuyện lạ,” cười vui, chỉ trỏ, ghi hình chơi thế thôi, nhưng đây lại hàng ngàn, hàng vạn người chờ đợi, chắp tay niệm Phật, nhiều người quét đường, rắc hoa, trải thảm… cho Minh Tuệ và đoàn tòng tu đi trong sự tôn kính thì đâu phải là tò mò. Bao nhiêu người dân rơi nước mắt, đảnh lễ, dâng đồ ăn, nước uống, che mưa, che nắng cho Minh Tuệ và đoàn tòng tu mỗi ngày một đông, cho thấy lòng dân ngưỡng mộ vị Chân tu như thế nào.

Đặc biệt chính quyền, lực lượng an ninh các địa phương cũng thuận lòng dân, không có hành động cản cấm, mà còn ra sức giữ trật tự, bảo vệ Minh Tuệ và đoàn tòng tu cho đến tối ngày 2 Tháng Sáu 2024.

Ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng từng bảo: “Dân người ta tinh lắm,” quả không sai nhỉ!

Rất nhiều người trả lời phỏng vấn, vô vàn bài viết, video trên mạng xã hội đã so sánh, phân tích sự khác nhau giữa Minh Tuệ TU THẬT và đám “ma tăng,” chỉ rõ đâu là Chánh pháp đâu là Tà pháp. Mấy người xúc phạm Minh Tuệ dường như bị quả báo nhãn tiền trước búa rìu dư luận.

Điều quan trọng là lòng dân, hàng triệu Phật tử đã thức tỉnh hướng về Chánh Đạo, xa rời Tà Đạo, một sự chuyển động chưa từng thấy.

Bốn yếu tố nêu trên đều tiền triển đến “độ chín” và bộc phát TỰ NHIÊN, “hoà quyện“ với nhau một cách nhịp nhàng kì diệu, không ai lường trước được, không ai tổ chức được như vậy.

Sứ mệnh của Minh Tuệ xuất hiện một lần trong Tháng Năm 2024 vậy cũng đủ.

Chỉ có thể nói đó là CƠ TRỜI! Trời đã tạo cơ hội ngàn năm có một để Đạo Phật Việt Nam tỉnh thức có cơ hội trở về Chánh pháp.

Sự kiện Minh Tuệ gây hiệu ứng xã hội vô cùng lớn không chỉ về Đạo Phật mà còn về sự thức tỉnh lương trị, lòng trắc ẩn, từ bi, đạo đức, lối sống và tác động đến cả văn học, nghệ thuật.

Cơ Trời là vậy, nhưng làm thay đổi được gì, đến đâu là thuộc về sức sống, sự tỉnh thức của nhân dân, phụ thuộc vào Phúc và Nghiệp của dân tộc này.

Bài viết của Mạc Văn Trang ( Sài Gòn Nhỏ)

Ảnh (ở FB của Vivian Pham): Việt Kiều Âu Châu, Vivian Pham gặp sư Minh Tuệ ở đèo Pha đin cách đây 5 năm. Lúc này sư Minh Tuệ đã bắt đầu xưng con và không mấy ai biết đến ông.