Ai bảo làm vua sướng?


Nếu có bộ sử nào của triều đình mô tả về vua, thì hầu hết là ca tụng công đức của vua, và có lẽ không một người Việt nào lúc đó dám viết chân thật và khách quan về tính cách của vua, cuộc sống sinh hoạt của vua, là những điều thú vị mà hầu như ai cũng muốn tìm hiểu.


Bài viết sau đây là của một người Pháp tên là Michel Đức Chaigneau, từng nhiều lần được tiếp kiến vua Gia Long, Minh Mạng, và cả Hoàng hậu từ khi còn nhỏ, trong các lần theo cha vào cung cấm. Cha của Michel Đức là một viên quan người Pháp tên là J.B. Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, một trong số những người Pháp đã phục vụ cho vua Gia Long), lấy vợ là một phụ nữ Huế tên Hồ Thị Huề.


Những năm cuối đời, ông Michel Đức Chaigneau về sống tại Pháp và viết hồi ký về những câu chuyện mà ông đã được tận mắt thấy tai nghe khi còn ở kinh thành Huế thuở nhỏ. Lúc đó ông không còn ràng buộc gì với triều đình Huế, không sợ tội khi quân phạm thượng, nên có thể viết ra những câu chuyện chân thật nhất về các vị vua triều đình Huế. Ông mô tả đầy đủ những tính cách cả tốt lẫn xấu của vua Gia Long và Minh Mạng mà không một người Việt nào thời đó dám viết.


Theo lời kể của Michel Đức, có một câu chuyện thú vị về cách mà vua Gia Long đối mặt với chốn tam cung lục viện, giải quyết những cuộc cãi vã và ganh ghét giữa vô số các cung tần của mình. Trong những lần trao đổi thân tình với vị quan người Pháp, vua Gia Long thường nói việc trị quốc đối với ông dễ hơn và ít tốn công hơn là việc cai quản chốn cung cấm. Có một hôm trong một lần tiếp kiến riêng sau buổi ngự triều, vua nói: “Khanh nghĩ là ta đã hết việc khi giải quyết xong những gì đang đợi ta đàng kia (ngài chỉ tay về phía cung cấm), trong cung cấm khi ta rời khỏi đây. Ở đây bây giờ, ta cảm thấy thích thú khi trao đổi với những người hiểu biết, họ lắng nghe ta, hiểu ta, và nếu cần, thì nghe lời ta. Đàng kia (trong cung cấm), ta phải đối mặt với lũ đàn bà yêu quái, cãi cọ với nhau, đối xử tệ bạc, xâu xé nhau, rồi tất cả tới đòi ta phân xử công minh. Nếu ta mà xử đúng người đúng tội thì bọn họ không ai thoát tội hết, trong khi ta không biết chắc được ai trong bọn họ thua kém người kia về sự tàn độc”.
Sau một hồi im lặng, vua Gia Long nói tiếp: “Này, lát nữa đây, ta sẽ bị vây quanh bởi một đám yêu nữ sẽ hét vào tai ta đến điếc cả tai (nói đến đây, vua giả giọng và cử chỉ của người phụ nữ đang điên tiết lên): “Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ xét xử công minh cho, con mụ kia đã chửi thần thiếp…” hoặc là: “người ta đã đối xử tệ với hạ thần, muôn tâu bệ hạ, xin phân minh cho hạ thần”, rồi một tá yêu nữ khác lại đến kêu than: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ không còn sủng ái thần thiếp, bệ hạ đã chiếu cố kẻ khác, muôn tâu bệ hạ… xin đến lượt thần thiếp”.


Vị quan Pháp nghe vua kể đã không nhịn được cười, và gợi ý: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ có thể giảm lo âu phiền muộn bằng cách giảm đi số cung tần mỹ nữ…”


Nhà vua liền nói: “Suỵt, nói khẽ thôi, nói khẽ thôi”. Vua cho đám hầu cận lui ra rồi nỏi nhỏ: “Này ông, nếu như các quan lại đồng nghiệp của ông mà nghe được những lời ông vừa thốt ra thì ông sẽ là kẻ thù không đội trời chung với bọn họ. Nói nghe nè, gần như tất cả cung phi cung tần đều là con gái của các quan. Chẳng hạn mới đây có một vị đã đề nghị đưa con gái vào cung, ta đã lớn tuổi nhưng không thể từ chối được. Nếu từ chối thì ta sẽ làm ông ta không vui, vì ở xứ này đưa được con gái vào cung là một vinh dự, vừa tăng vị thế cho quan, còn ta thì đảm bảo được về sự trung thành của vị quan đó. Ta phải xử sự sao cho vừa lòng tất cả mọi người, nhất là các bà, vì các bà còn đáng sợ hơn cả phía các ông. Nếu như ta bỏ bê một trong các quý phi, thì ngay lập tức cô ấy sẽ than thở với cha của mình, rồi lão ta sẽ khéo léo đồn thổi cái gì đó để làm ta xấu mặt trước muôn dân”.


Việt Nam Trước 75

SỨC MẠNH TỰ PHỤC HỒI KỲ DIỆU CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI

Năng lực tự phục hồi là tiềm năng bẩm sinh của cơ thể con người và sẽ không biến mất theo tuổi tác.

60% bệnh tật có thể tự khỏi

Một bài báo được xuất bản trên tạp chí sức sống của Đức: Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 60%-70% bệnh có thể tự khỏi, miễn là họ chú ý đến việc điều dưỡng và cải thiện thói quen sinh hoạt.

Điều này trùng khớp với những gì Giáo sư Hồng Chiêu Quang từng nói trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên của “Life Times”:

Ở một mức độ nào đó, khi bác sĩ điều trị bệnh chỉ là kích thích và hỗ trợ khả năng tự chữa bệnh của cơ thể con người, không phải là thuốc chữa khỏi bệnh mà là chính bản thân người bệnh.

Ảnh minh hoạ

Nguyên tắc tự chữa lành

Cơ thể con người thực sự ẩn chứa một “cửa hàng thuốc” lớn – chứa tất cả các loại hormone, những hormone này là “cửa hàng thuốc” dược liệu, chúng có thể được sắp xếp, dung hợp để bào chế ra hơn 30 loại phương thuốc.

Không chỉ vậy, cơ thể còn được trang bị một “bác sĩ” thân cận có trách nhiệm cao – hệ thống tự chữa bệnh, bao gồm khả năng miễn dịch, khả năng bài tiết, khả năng phục hồi (khả năng chữa bệnh và tái tạo), khả năng điều chỉnh nội tiết, căng thẳng…v.v.

Khi một người không khỏe hoặc bị bệnh, “bác sĩ” này có thể nhạy cảm nắm bắt các tín hiệu bất thường của cơ thể con người, ngay lập tức điều chỉnh các chức năng khác nhau của cơ thể con người, và kịp thời huy động các hormone khác nhau trong “cửa hàng thuốc”, thực hiện “pha chế thuốc”, “cấp thuốc”, để đạt được mục đích điều trị.

Ngược lại, nếu loại năng lực này của cơ thể con người bị phá hủy hoàn toàn, cho dù danh y Hoa Đà tái thế, cũng không thể cứu mạng. AIDS đã trở thành một “căn bệnh không thể chữa được”, vấn đề chính là hệ thống miễn dịch đã bị phá hủy.

Sức mạnh tự phục hồi có thể chữa lành từ đầu đến chân

Miễn là bạn có thể hợp tác với những hormone này và huy động đầy đủ sự nhiệt tình của chúng, bạn có thể bảo vệ cánh cửa dẫn đến sức khỏe tốt. Mọi người có thể khỏi bệnh ngay cả khi không dùng thuốc.

-Đầu tiên, cảm lạnh

Khi cơ thể bị vi khuẩn, virus tấn công, hệ thống tự chữa bệnh nhanh chóng tổ chức các tế bào miễn dịch để chiến đấu trong một cuộc chiến phòng thủ. Trong số đó, điển hình nhất là cảm lạnh.

Hầu hết các bệnh cảm lạnh có thể được chữa khỏi, quá trình này mất khoảng 5-7 ngày. Trong thực tế, không có loại thuốc có thể trực tiếp điều trị căn bệnh này, tất cả các loại thuốc chống cảm lạnh chỉ để giảm nghẹt mũi do cảm lạnh, ho và các triệu chứng khác.

Sau khi bị cảm lạnh, hãy học cách làm điều này:

Nghỉ ngơi nhiều hơn; ăn uống nhiều trái cây giàu vitamin C; thay cốc nước lớn, đảm bảo uống 2 lít nước mỗi ngày; tránh xa các sản phẩm từ thịt và trứng, vì những thực phẩm này khó tiêu hóa hơn, tốt nhất là ăn nhiều thức ăn dễ tiêu hóa.

-Thứ hai, vết thương nhỏ

Khi cơ thể bị tổn thương cơ học, vật lý, nó sẽ âm thầm sửa chữa vết thương và thúc đẩy quá trình chữa lành. Ví dụ, vô tình chà xát da và chảy máu, sau một thời gian sẽ tự nhiên cầm máu lại, điều này có nghĩa là trong cơ thể có một loại thuốc cầm máu tự nhiên – tiểu cầu.

Ngoài các vết thương trên bề mặt cơ thể, bao gồm loét dạ dày, loét miệng và các “vết sẹo” khác, thậm chí gãy xương, chấn thương não…v.v.

-Thứ ba, bệnh huyết áp, mỡ máu và đường huyết ở mức nhẹ

Khi có rác thừa trong cơ thể, nó sẽ loại bỏ một cách có trật tự qua nhiều kênh khác nhau. Ví dụ, gan và thận có thể giải độc cho cơ thể.

Chất béo và calo dư thừa đã tích tụ trong cơ thể. Thông qua một chế độ ăn uống cân bằng và tập thể dục điều độ, các bệnh như gan nhiễm mỡ, bệnh gút và các bệnh khác như huyết áp, đường huyết có thể được kiểm soát tốt trong giai đoạn đầu mà không cần dùng thuốc. Miễn là cần theo dõi thường xuyên, những nguy cơ tiềm ẩn của cơ thể sẽ được dọn sạch.

-Thứ tư, mất ngủ

Trong nhiều trường hợp, uống thuốc ngủ ngay từ đầu không khác gì uống rượu để giảm khát, trên thực tế, thư giãn tâm trạng, tập thể dục thích hợp, có thể có tác dụng bất ngờ. Ngoài ra, hội chứng ruột kích thích, nguyên nhân cơ bản nhất là căng thẳng quá mức, vì vậy điều chỉnh tâm lý tốt là nền tảng của điều trị.

-Thứ năm, sốt

Khi một người bị nhiễm bệnh, tăng nhiệt độ cơ thể là một cơ chế bảo vệ chống lại sự sinh sản của một số vi khuẩn. Do đó, nói chung, sốt dưới 38°C, nghỉ ngơi nhiều hơn, uống nhiều nước có thể làm giảm, không cần phải uống thuốc hạ sốt.

Nếu cơ thể yếu, bạn cũng có thể bổ sung thích hợp protein, chất béo, thực phẩm giàu vitamin để đáp ứng năng lượng cần thiết cho cơ thể.

-Thứ sáu, nôn mửa và tiêu chảy

Theo life times, nôn mửa ở phụ nữ mang thai là một loại tự bảo vệ thai nhi; thường xuyên, tiêu chảy cũng là một loại tự bảo vệ.

Khi chúng ta ăn thức ăn độc hại, chúng ta thường nôn ra để chất độc có thể được bài tiết sớm khỏi cơ thể, giảm thiểu nguy cơ “bệnh từ miệng mà vào”. Tại thời điểm này, miễn là dạ dày nghỉ ngơi đầy đủ, kịp thời bổ sung nước là ổn.

Làm thế nào để kích thích tự chữa bệnh?

Mọi người sinh ra đều có năng lực tự phục hồi, nhưng những thứ tự nhiên sợ nhất là sự can thiệp không phù hợp. Làm thế nào để kích thích và bảo vệ sức mạnh tự phục hồi của ngũ tạng nội tạng đúng cách, mọi người xem tóm tắt sau:

Kích thích tim, mạch máu tự chữa bệnh

* . Ít muối

Để tăng cường khả năng tự phục hồi của tim, thay vì ăn mặn, bạn có thể tìm một số thực phẩm thay thế cho gia vị nhiều muối như chanh, táo gai, cà chua, v.v.

*. Thêm một ít kali để giúp đẩy natri ra ngoài.

Ăn quá nhiều natri sẽ làm giảm khả năng tự phục hồi của tim, gây tức ngực và đánh trống ngực. Thực phẩm giàu kali (chuối, tảo bẹ, rau chân vịt) có lợi cho quá trình bài tiết natri và tăng cường khả năng tự phục hồi.

*. Bổ sung một số canxi để bảo vệ mạch máu.

Ăn thực phẩm giàu canxi như hạt mè đen mỗi ngày để kích thích khả năng tự phục hồi của mạch máu.

Kích thích sức mạnh tự chữa lành của xương

Khi bị gãy xương, các tế bào xương sẽ tự động được kích hoạt và đóng vai trò quan trọng trong việc sửa chữa xương.

Khi nhắc đến xương, chắc hẳn ai cũng sẽ nghĩ đến vitamin D. Thực tế, quan điểm này đã tương đối cũ, chính vitamin K mới thực sự giúp xây dựng các tế bào xương.

Phương pháp kích thích: ăn rau chân vịt hoặc súp lơ xanh mỗi ngày một lần, chúng rất giàu vitamin K.

Kích thích gan tự chữa lành

Gan là cơ quan duy nhất có thể tự phục hồi ngay cả khi loại bỏ một phần mô hoại tử.

Phương pháp kích thích: Bạn có thể thường xuyên ăn thêm thực phẩm có chứa axit folic và vitamin B, đặc biệt là nước đun sôi với táo tàu trong thời gian dài để kích thích khả năng tự phục hồi của gan.

Kích thích sức mạnh tự chữa bệnh của đường tiêu hóa

Tế bào đường tiêu hóa là những tế bào đổi mới nhanh nhất trong cơ thể con người, trung bình một hoặc hai lần một ngày.

Phương pháp kích thích: Ăn ngũ cốc nguyên hạt cho bữa sáng, là ngô và yến mạch, bánh bao ngũ cốc nguyên hạt.

Sử dụng thực phẩm như vậy, để tăng tốc độ kích thích sức mạnh tự chữa bệnh của dạ dày.

Kích thích khả năng tự phục hồi của phổi

Khói và ô nhiễm nghiêm trọng khác có thể làm tăng gánh nặng cho phổi và phá hủy chức năng tự sửa chữa của nó. Axit retinoic giúp kích thích khả năng tự phục hồi của phổi.

Phương pháp kích thích: Mỗi ngày nên ăn cà rốt, khoai lang và xoài, lượng không dưới 900 mg.

Kích thích sự tự chữa lành của não

Trên thực tế, bộ não của chúng ta không già đi cho đến khi chúng ta già, bộ não con người đã ngừng sản xuất tế bào thần kinh khi chúng ta còn học trung học và đi xuống dốc. Nhưng đừng tuyệt vọng, hãy kích thích thế hệ tế bào thần kinh, đánh thức toàn diện khả năng tự phục hồi của não đang ngủ:

Phương pháp truyền cảm hứng: đi bộ nhanh, ít nhất 30 phút mỗi ngày, 2-3 ngày một tuần.

Bạn thấy những người không may mắc bệnh Alzheimer không tập thể dục trong cả năm, hành vi này là để phá vỡ khả năng tự phục hồi.

Rõ ràng cơ thể con người có sức mạnh tự chữa bệnh mạnh mẽ mà bạn không thể tưởng tượng, bởi vậy hãy luôn giữ thái độ tích cực để kích hoạt khả năng tự phục hồi của bản thân!

Nguồn: Chau Nguyen Thi -Cre: Tuan Mai SG

LÀM NGƯỜI THẮNG Ở NHÂN CÁCH, THUA BỞI SO ĐO

Thông minh là do bẩm sinh, lương thiện là do bạn lựa chọn

Chó và Hồ ly là đôi bạn. Chúng thường chơi với nhau. Rồi một ngày, cả hai gặp phải Thần chết. Thần chết nói: “Trong hai ngươi, chỉ có một người được sống, hai ngươi hãy oẳn tù tì đi, ai thua sẽ phải chết”.

Cuối cùng Hồ ly chết. Chó khóc lóc ôm Hồ Ly đã chết nằm yên lặng trong lòng. “Đã nói là cả hai sẽ cùng ra búa, tại sao trong khi ta ra kéo thì ngươi lại ra bao?”. Hóa ra Ch.ó muốn thua để Hồ ly được sống, tưởng rằng Hồ ly sẽ ra búa nên Chó ra kéo, nhưng không ngờ Hồ ly lại ra bao, vì nó nghĩ Chó sẽ ra búa. Cuối cùng, tất nhiên là Ch.ó đã thắng.

Đây mới là hiện thực, là lòng người trong xã hội. Hồ ly ích kỷ, còn Chó lại quá ngốc nghếch. Nhưng xã hội vẫn còn một mặt khác. Đó là: khi chúng ta hãm hại người khác cũng chính là đang hãm hại bản thân. Có một số người cam chịu thua cuộc, nhưng họ lại đang thắng. Thế nên: cứ tiếp tục lương thiện… rồi bạn sẽ thắng, làm người phải sống có hậu, chân lý lúc nào cũng thuộc về sự lương thiện.

Có thể chính Hồ ly mới là người cố tình bị thua, có khi nào nó biết rằng Chó sẽ nhường nó, ra kéo, nên nó ra bao. Cả hai đều yêu thương nhau, chỉ là Hồ ly đã đi trước một bước thôi. Hồ ly và Ch.ó đều thắng!

Có ai đó đã nói: “Rồi đến một ngày bạn sẽ nhận ra lương thiện khó hơn là thông minh. Vì thông minh là một dạng bẩm sinh, còn lương thiện là một dạng lựa chọn”. Dù sao thì xã hội vẫn tràn đầy hy vọng cho những người lương thiện hoặc đang cố gắng sống tốt.

Cuộc sống vốn đã rất mệt mỏi. Nếu như chuyện gì cũng phải làm cho ra ngô ra khoai thì chắc bạn sẽ chẳng còn thời gian để mà thở nữa. Vì vậy, chúng ta không cần thiết phải quá khắt khe với mọi chuyện.

  1. Không cần phải trở mặt với người bạn ghét

Khi ghét một người, chúng ta chỉ muốn ngay lập tức c.ắt đứt mọi quan hệ với người đó. Nhưng bạn không nên thực hiện điều đó vì ghét đôi khi cũng chỉ là cảm xúc nhất thời của bản thân. Nếu bạn trở mặt ngay với người đó, bạn chắc chắn không thể giải tỏa được hết vướng mắc trong lòng mà biết đâu sau này, bạn sẽ phải hối hận vì hành động nông nổi của mình.

Nhưng nếu bạn thực sự rất ghét, thì có lẽ ta cũng không nên miễn cưỡng bản thân mình. Khi chẳng còn phải chung đụng, bạn sẽ không phải phân tâm vì người đó mà có thể tập trung làm tốt chuyện của mình.

Làm người, thắng là ở nhân cách, thua là ở toan tính. Tranh cãi với người mình không ưa giống như đang hạ thấp giá trị của bản thân mình vậy. Bởi vì giữa bạn với họ ai đúng ai sai không quan trọng. Điều quan trọng là hai người vốn đã không tìm được tiếng nói chung.

Trong cuộc sống, mỗi ngày có vô số con người bước qua đời nhau. Và chúng ta cũng chỉ cần một vài người bạn chân thành là đủ.

  1. Có những chuyện biết thôi là đủ rồi

Bạn biết rõ một người nhưng cũng đừng vạ.ch tr.ần bản chất của họ. Bạn hiểu rõ một chuyện thì cũng không nên phơi bày nó ra trước sự hiếu kỳ của người đời. Bản thân mình hiểu là được, nói ra đôi khi sẽ làm tổ.n thư.ơng người khác.

Cuộc sống là như vậy. Bạn không ưa người ta, thì người ta cũng coi bạn là cái gai trong mắt của mình. Ai trong chúng ta ắt hẳn cũng có vài lần vạ mi.ệng. Một vài chuyện vốn chỉ nên là sống để bụng, chết mang theo.

Suy cho cùng, muốn sống bình yên ở đời, chúng ta cần phải hiểu đạo lý dĩ hòa vi quý. Thời gian và sức lực của chúng ta là có hạn. Hãy dùng nó để làm những chuyện có ích cho bản thân và xã hội.

Con người mất hai năm để học nói nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng đúng lúc là một kiểu thông minh mà đòi hỏi chúng ta phải rèn luyện và tu dưỡng.

  1. Đừng làm bạn khi không tìm được tiếng nói chung

Chúng ta không nên nói chuyện với người không cùng đẳng cấp với mình, vì họ vốn không thể hiểu được lời bạn nói. Điều này chỉ làm tốn thời gian và công sức. Hai con người đã không thể tìm được tiếng nói chung thì cũng không nên chung đường nữa.

Việc tranh luận với người không cùng đẳng cấp chính là lãng phí cuộc đời. Đừng tính toán với họ vì như vậy, bạn mới là kẻ nhỏ nhen. Một đời không quá dài, nên hãy nỗ lực hoàn thiện bản thân thay vì cứ lãng phí vào những chuyện và những người không đâu.

Ghét một người cũng không cần thể hiện rõ ra mặt làm gì. Người có trình độ, tuyệt đối không bao giờ để một kẻ thấp kém hơn phá hoại tâm trạng tốt của mình. Và họ càng không bao giờ lãng phí thời gian quý báu để dây dưa với người đó.

  1. Đừng dây dưa với kẻ tiểu nhân

Những con người luôn cảm thấy vui sướng khi bạn tức giận và thất vọng. Và họ càng đắc ý hơn khi nhìn thấy bạn suy sụp trong cuộc sống.

Thời gian là để tận hưởng tình yêu và cuộc sống. Một người trưởng thành sẽ không bao giờ lãng phí thời gian vào những chuyện vô bổ.

Trái tim con người rất chật chội. Đôi khi, ta chỉ muốn buông bỏ hết hận thù và sống thành thật với những yêu thương. Chúng ta chỉ muốn tìm lại cuộc sống vui vẻ ngày xưa vốn đã biến mất giữa bộn bề toan tính. Và sự khoan dung và rộng lượng chính là con đường đưa ta tìm về với bình yên. Khoan dung cho người, khoan dung cho đời và cũng là khoan dung cho chính mình.

Theo Báo dân sinh

CUỘC ĐỐI THOẠI KỲ LẠGIỮA PHI HÀNH GIA NỔI TIẾNG VÀ HOÀ THƯỢNG THÁNH NGHIÊM


Nguồn: https://thuvienhoasen.org/
🪐💫🪐

Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào ngày 31 tháng 1 năm 1971.
Ông đã đến Đài Loan năm 2008 tham dự một hội thảo Khoa học và có dịp gặp gỡ và đối thoại cùng Hoà thượng Thánh Nghiêm. Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh của tác giả Nguyên Phong.
—🪐💫🪐—

Ảnh: Phi hành gia Edgar Mitchell – Hoà thượng Thánh Nghiêm

Sau bữa ăn, ông Mitchell hỏi tôi:

  • Ngày mai chúng tôi sẽ đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm, anh có muốn đi cùng với chúng tôi không?
  • Dĩ nhiên tôi không thể từ chối một cơ hội hiếm có như vậy.

Buổi gặp gỡ được sắp đặt trước này diễn ra tại giảng đường Đại học Đài Bắc cho một số sinh viên và giáo sư tham dự. Giáo sư Yeh là người chủ trì buổi nói chuyện.
Giáo sư Yeh bắt đầu cuộc gặp mặt:

  • Mitchell, ông hãy kể về trải nghiệm lạ lùng khi bay trên không gian vũ trụ cho Hòa thượng Thánh Nghiêm nghe và hỏi ngài về những thắc mắc của ông đi.

Phi hành gia Mitchell lên tiếng:

  • Thưa Hòa thượng, sau khi hoàn tất sứ mệnh trên mặt trăng, chúng tôi bắt đầu bay trở về trái đất. Khi bay trong không gian, phi thuyền của chúng tôi phải liên tiếp xoay tròn theo trục di chuyển 360 độ để giảm sức nóng phát ra từ ánh sáng mặt trời. Do đó, cứ mỗi hai phút thì tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng và mặt trời qua cửa kính của phi thuyền. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian, vì không có bầu khí quyển nên chúng tôi nhìn thấy các hành tinh rất rõ. Khi ở trên trái đất, chúng ta nhìn lên bầu trời và thấy các vì sao lấp lánh vì ảnh hưởng của bầu khí quyển; nhưng trong không gian, tất cả đều sáng rõ như một mạng lưới khổng lồ với hàng ngàn hàng vạn vì sao trông như những hạt kim cương tỏa sáng. Đó là một hình ảnh tuyệt vời đối với các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay, mọi người đều có thể nhìn thấy hình ảnh này qua kính viễn vọng Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ chụp được và đưa lên mạng. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy vũ trụ đẹp vô cùng, không lời nào có thể diễn tả được.

Là một nhà khoa học, tôi biết rằng tất cả những tế bào, những nguyên tử trong cơ thể tôi, hay cơ thể của những người bạn tôi trong phi thuyền, và ngay cả những nguyên tử cấu tạo nên phi thuyền, đều phát xuất từ hành tinh của chúng ta hay chính là khởi nguồn trong vũ trụ. Mọi hiện tượng vật chất đều phát xuất từ vũ trụ này. Từ đó, tôi ý thức rằng thân thể của tôi và tất cả mọi vật trong vũ trụ không có gì sai biệt. Thay vì là một cá thể độc lập, một thành phần riêng rẽ, tôi ý thức rằng tất cả cùng chung một nguồn gốc. Ngay khi đó, toàn thân tôi bỗng nhiên rung động mãnh liệt. Tôi thấy mình chìm đắm trong một cảm giác bình an lạ lùng không thể diễn tả. Trải nghiệm này tiếp tục diễn ra mỗi khi tôi không bận rộn. Là phi hành gia, dĩ nhiên chúng tôi rất bận vì vừa phải điều khiển phi thuyền, vừa phải hoàn thành những thí nghiệm khoa học trong phi thuyền, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diệu kỳ của vũ trụ và cảm nhận cảm giác bình an lạ lùng này.

Với mỗi vòng quay của phi thuyền, tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng, mặt trời, cùng các vì tinh tú lấp lánh. Tôi thấy vũ trụ giống như một tấm lưới với hàng triệu vì sao toát ra thứ ánh sáng rực rỡ, và tôi ý thức rõ ý niệm “vạn vật đồng nhất thể”. Tôi hiểu rằng nếu đã đồng nhất với tất cả thì vạn vật đều liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời được. Đây là một quan niệm mới lạ mà từ trước đến nay, các nhà khoa học chúng tôi không ai nghĩ đến.
Trong trải nghiệm bình yên đặc biệt đó, tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là ai? Tôi từ đâu tới đây? Rồi tôi sẽ đi về đâu? Vũ trụ được hình thành và có mối liên hệ như thế nào với trái đất cùng những con người sống ở đó? Có phải chúng tôi, những người đầu tiên du hành ra ngoài không gian, đã cảm nhận được sự tương quan rõ rệt giữa con người và vũ trụ, khác hẳn với ý niệm của những người chưa từng rời trái đất?”.

Từ ý niệm này, tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc phải tìm cách thay đổi các quan niệm định kiến chật hẹp đã giam cầm bao nhiêu thế hệ từ trước đến nay bằng một quan niệm mới về sự tương quan giữa con người và vũ trụ. Có lẽ các định luật khoa học, các kiến thức được xây dựng từ ngàn xưa sẽ phải thay đổi khi chúng ta nhìn lại tất cả những gì chúng ta đã làm trên trái đất này, sau khi chứng kiến sự nhỏ bé của chúng ta so với vũ trụ bao la. Ngay như nền khoa học hiện đại bắt đầu khoảng bốn trăm năm trước với Isaac Newton cũng sẽ phải thay đổi khi con người bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của sức hút trái đất.

Khi lan man nghĩ đến đó, tôi chợt nghĩ đến những bậc tiên phong như Copernicus, Galileo và những nhà khoa học lỗi lạc khác đã đưa ra ý kiến về sự tương quan giữa trái đất và vũ trụ nhưng phải chịu đựng sự chống đối, kỳ thị của những quan niệm thiển cận, hẹp hòi lúc bấy giờ. Người thì bị thiêu sống, người thì bị giam cầm cho đến chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật, không thể chối cãi. Tất cả khuynh hướng bảo thủ, hẹp hòi trước sau cũng phải thay đổi khi người ta biết hướng tầm mắt lên cao, xóa bỏ thành kiến cũ và mở rộng tâm hồn để nhìn ra vũ trụ bao la.

Phi hành gia Mitchell ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp tục:

  • Khi trở về trái đất, tôi luôn thắc mắc về cái cảm giác bình an lạ lùng này. Tôi tìm đọc rất nhiều sách vở khoa học nhưng không tìm thấy gì có thể giải thích hiện tượng trên. Tôi chuyển qua nghiên cứu các sách vở tôn giáo của phương Tây nhưng cũng không tìm được gì. Tôi tìm đến những học giả thông thái nhưng không ai có thể trả lời được thắc mắc của tôi. Một người bạn khuyên tôi nên tìm đọc các tài liệu về tôn giáo phương Đông, và tôi bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, nhất là các sách nói về đại định (Samadhi). Tôi thấy có sự trùng hợp giữa trải nghiệm mà tôi đã trải qua trên không gian với trải nghiệm của các hiền triết phương Đông, khi họ diễn tả về trạng thái thiền định.

Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh 1 của tác giả Nguyên Phong.

Giáo sư Yeh chợt hỏi:

  • Phải chăng cảm giác đó là thấy mình hợp nhất với vạn vật?

Phi hành gia Mitchell trả lời:

  • Đúng thế, lúc đó tôi không thấy có sự khác biệt giữa mình và vạn vật nữa. Cái cảm giác hòa hợp, rung động cùng với sự chuyển động của vũ trụ, là một trải nghiệm kỳ lạ không thể diễn tả được bằng lời.

Giáo sư Yeh quay sang hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:

  • Bạch Hòa thượng, theo quan niệm của Phật giáo, trải nghiệm không còn thấy sự phân biệt giữa mình và vạn vật của phi hành gia Mitchell có phải là một sự chứng ngộ không?
    Hòa thượng Thánh Nghiêm mỉm cười nhìn ông Mitchell:
  • Trước hết tôi rất mừng cho phi hành gia Mitchell đã có một trải nghiệm đặc biệt. Trong hàng ngàn, hàng vạn người, không mấy ai có được trải nghiệm như thế. Trong cuộc sống, khi người ta trải nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, có thể thay đổi hẳn các trải nghiệm cá nhân từ trước, ta có thể coi đó như là một sự chứng ngộ. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một cảm giác nhất thời.

Thí dụ như, cách đây không lâu, một đệ tử của tôi cũng có một trải nghiệm đặc biệt. Sau một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, anh ta trở về nhà. Trên đường về, anh ta thấy tất cả cây cối, hoa lá, từ những con côn trùng nhỏ bé cho đến những chiếc lá cây, ngọn cỏ đều vui mừng chào đón anh. Anh cảm nhận được một niềm an lạc tuyệt vời như hòa nhập với ngoại cảnh và tin rằng mình đã chứng ngộ. Anh vội vã trở lại kể cho tôi nghe về trải nghiệm đó. Tôi nói với anh rằng tuy đó là một khoảnh khắc trải nghiệm tuyệt vời nhưng cũng có thể biến đi ngay trong chốc lát. Đừng coi cảm giác đó là một sự chứng ngộ. Nếu không tin, anh hãy thử trở lại khu vườn đó để xem những cây cỏ, hoa lá, muông thú có chào đón anh như trước không.

Khi quay trở lại, anh không cảm nhận được trải nghiệm như trước nên đã hỏi: “Làm thế nào để con có thể lấy lại cái cảm giác tuyệt vời đó?”. Tôi trả lời: “Không ai có thể sở hữu mãi mãi trải nghiệm đã qua đó. Nếu muốn nắm giữ nó mãi thì anh thật tham lam. Có được trải nghiệm này chỉ là một kết quả của quá trình tu tập mà thôi. Đó không phải là sự chứng ngộ như anh kỳ vọng. Mục đích của tu tập Thiền định là để phát triển trí tuệ và xóa bỏ bản ngã. Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Vô ngã thì thế giới này còn tồn tại nữa không? Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Tâm vô phân biệt thì làm gì còn có chúng ta hay thế giới này nữa? Đối với đa số mọi người, thế giới này thật sự hiện hữu, nhưng đối với những người đã chứng ngộ thì thế giới này chỉ là huyễn ảo, không có thật, do đó tất cả trải nghiệm dù là trải nghiệm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là huyễn ảo chốc lát mà thôi. Chúng ta không nên để ý đến nó hay muốn nắm giữ nó mãi làm gì”.

Giáo sư Yeh hỏi thêm:

  • Bạch Hòa thượng, như thế thì dù chúng ta có được những trải nghiệm gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao?

Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:

  • Cho dù trải nghiệm đó diễn ra thế nào đi nữa, hãy để cho nó đến và đi một cách tự nhiên. Có thể nó chỉ là điều xuất phát từ tâm thức, sẽ thay đổi, vì tất cả mọi sự đều sẽ đổi thay. Dù nó hiện hữu như thật, vẫn hãy coi nó chỉ là những hiện tượng của tâm thức mà thôi.
    Tuy nhiên, đối với những người đã trải nghiệm, rồi hoàn toàn thay đổi nhận thức của họ và luôn luôn sống với tâm thức đó, thì chúng ta có thể kết luận rằng người đó đã chứng ngộ. Theo quan niệm của Phật giáo, người này đã có một “nhân” lành từ trước và đến nay nó bắt đầu trổ “quả”.

Tứ đại dưới con mắt của Phật học và khoa học

Hòa thượng Thánh Nghiêm chia sẻ tiếp:

  • Phi hành gia Mitchell là một nhà khoa học, nhưng không thể giải thích trải nghiệm đó bằng lý luận của khoa học, không thể chứng minh nó qua các cuộc thí nghiệm, hay tạo ra lý thuyết bằng phương pháp luận lý. Ông tin rằng đây là một kiến thức mới, mà khoa học cần khám phá, nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ông nên biết rằng cảm giác đó là một trải nghiệm tâm linh nằm trong phạm trù của tôn giáo mà khoa học không thể giải thích. Triết học hay luận lý học cũng không thể giải thích được, vì nó là một trải nghiệm tinh thần xảy ra cho một người duy nhất – là ông mà thôi. Trải nghiệm ấy đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của ông. Từ đó, ông cảm thấy nó trở thành một phần của ông, không thể tách rời ra được nữa. Trải nghiệm này vượt khỏi phạm trù của khoa học bởi vì những người trải nghiệm được việc này không thể diễn tả, giải thích được, không thể chứng minh được, và cũng không ai có cùng một trải nghiệm tương tự như thế, nó là một trải nghiệm có tính chất duyên căn cá nhân. Ai uống nước thì tự mình biết nóng hay lạnh. Trong trường hợp của ông, chỉ mình ông cảm nhận được sự an lạc hòa hợp cá nhân vào vũ trụ, nhập với tất cả, không còn phân biệt giữa mình và vũ trụ nữa. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác ở trong phi thuyền. Tại sao họ không có được trải nghiệm giống như ông? Tại sao chỉ mình ông có được cảm nhận đó? Nếu nói theo khoa học thì một khi ông cảm nhận được điều gì, tất cả những người khác cũng đều phải thấy như thế. Tóm lại, đây là điều mà khoa học không thể giải thích hay chứng minh, vì nó nằm ngoài phạm trù của khoa học.
    🪐💫🪐

HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

NGUYỄN HỒNG LAM

NCGH – Lễ sớt bát – thu hụi chết mùa Vu Lan năm 2022; Trò áp vong, cúng giải vong chia ca áp giá mùa An cư Kiết hạ năm 2019; Vụ “cọng tóc ngo ngoe” bất minh năm 2023; Clip tuyên truyền nhăng cuội về xá lợi tự sinh, xá lợi máu của Phật Tổ múc lên từ nước sông Hằng nhờ đức tin mà kết thành năm 2023 đều diễn ra tại hoặc liện quan đến chùa Ba Vàng. Tất tật đều là những trò dối Phật lừa Dân, bịp bợm có tổ chức, lợi dụng niềm tin tôn giáo, gieo rắc nỗi sợ hãi và mê tín dị đoan để trục lợi, làm tiền trên sự mê muội của chúng sinh. Tất cả đều do một tổ chức núp bóng Phật môn do Thích Trúc Thái Minh – Phạm Thị Yến cầm đầu.

Suy cho cùng, gọi bằng tên gì đó cũng là trò buôn Thần bán Phật, cần phải chặn đứng và nghiêm phạt bằng luật pháp. Không thể làm ngơ để cho chúng tiếp tục hoành hành, tàn phá, làm bại hoại xã hội về nhiều mặt. Tuy nhiên, dù có thu hàng chục tỷ, trăm tỷ, những trò lừa đảo mượn danh Phật Giáo ấy vẫn chỉ là những thương vụ cò con. Còn có kiểu kinh doanh tôn giáo khác, tuy khoác bộ cánh sạch sẽ hơn, ít tai tiếng hơn, nhưng thực chất còn hủy hoại dân tộc, xã hội tàn bạo hơn bội phần. Đó là kiểu kinh doanh cướp cạn tài nguyên, ăn ruỗng mục cả đất nước. Đau xót thay, chúng vẫn đang nằm ngoài mọi chế tài của luật pháp. Đất nước đang oằn mình chứng kiến một trào lưu cướp cạn hợp pháp!

Vì thế, tôi đã phải viết bài này. Bạn đọc lưu ý: những dữ liệu và ảnh chup được đề cập đều dừng lại ở thời điểm ngay mùa lễ hội sau tết Nguyên Đán năm 2019.


HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

Huyền sử truyền rằng, năm 520, Tổ đời thứ 28 của dòng Thiền Tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) đã theo đường biển đến Quảng Châu, miền Nam Trung Hoa hoằng dương Phật Pháp. Lương Vũ Đế (464 -549), Hoàng đế khai quốc Lương triều vốn là một ông vua luôn đề cao việc học tập, giáo dân, vốn đã thành tâm cầu Phật, nghe tiếng đã cho mời Bồ Đề Đạt Ma hội kiến.

Gặp Tổ Phật, Hoàng đế Lương triều hỏi: “Từ ngày tôi làm vua đến nay lập nhiều chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như vậy có được công đức không?”. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Không có công đức gì cả”. Băn khoăn, Vua hỏi tiếp về chân công đức. Câu trả lời của Bồ Đề Lạt Ma được xem như một cứu cánh của bậc Chân Như: “Trí thanh tịnh, thể vốn vắng lặng nhiệm mầu, công đức như vậy không thể lấy thế pháp mà cầu được”. Trước ham muốn tu nhân tích đức, hành công quả để thành Thánh Đế mà Lương Vũ Đế đeo đuổi, Bồ Đề Lạt Ma chỉ buông gọn bốn chữ: “Quách nhiên vô Thánh”, nghĩa là “Vốn trống rỗng, chẳng có gì gọi là Thánh cả”.

Rồi bái biệt. Thất vọng vì cái tâm của ông vua sùng đạo vẫn động, trái ngược với mục đích/cảnh giới Thiền (Dhyana) vốn được hiểu là tĩnh tâm, quán định để giác ngộ chân lý, ngài quay lưng bỏ lên phía Bắc, không một lần ngoái lại. Công án “bất thức” (không biết), ngay từ thuở Thiền Tông vừa du nhập phương Đông đã khẳng định: xây chùa to, tạc tượng lớn, hành thí nhằm đạt tham vọng nhân thiên hữu lậu không bao giờ là con đường của Phật Pháp.

Không lâu sau đó, khoảng năm 580, Tỳ-ny-đa-lưu-chi (Vinitaruci), dòng Thiền đầu tiên từ Ấn Độ đã du nhập, bén rễ tại Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, khởi đầu cho một giai đoạn truyền bá mạnh mẽ của Thiền Tông và nhiều hệ phái Phật Giáo khác như Tịnh Độ Tông, Vô Ngôn Thông, Mật Tông… vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ bây giờ. Tuy nhiên, đó là giai đoạn hoằng dương bài bản và quy mô, còn sự tiếp nhận Phật Giáo vào Việt Nam thì đã xuất hiện sớm hơn nhiều. Đầu Công nguyên đã có truyền thuyết Chữ Đồng Tử theo học Phật Pháp từ một cao tăng đến từ Ấn Độ. Từ thế kỷ II sau Công nguyên, một số dòng Phật Giáo đã chính thức xuất hiện, chùa Phật đã được dựng nên tập trung nhiều ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh ngày nay.

Dù mang một số đặc điểm khác nhau, các dòng Phật Giáo vẫn nhất quán đề cao Phật tại tâm, giác ngộ Phật Tâm đồng nghĩa nhập Niết Bàn, vô ảnh vô hình, như một chữ Không bao trùm. Mọi thành quả khác, dù hiện hữu, chẳng qua là “hữu lậu, chỉ là quả nhỏ nhoi trong cõi nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật” như Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị về yếu tính Phật Pháp cho Lương Vũ Đế nhưng bất thành.

So từ nguyên ủy, chùa to, tượng lớn, phô trương hoành tráng hay lập kỷ lục về những cái nhất chưa bao giờ là con đường Phật Giáo. Tu hành Phật giáo là quá trình diệt dục, thực hành Tứ Diệu Đế. Dù không hẳn là pháp quy bắt buộc, thực hành Phật Pháp cũng nghiêng về phía khổ hạnh, vong thân. Hảo tự ố tăng (Chùa to đẹp, tăng hoen ố), nó đi ngược quá trình tu hành giác ngộ Phật, hủy hoại Phật Pháp, cũng đồng thời hủy hoại đạo đức xã hội, làm phương hại đến luật pháp, đảo tung các giá trị vì lợi nhuận. Những siêu công trình tôn giáo mọc lên ngày càng nhiều không chứng tỏ sự phát triển của tôn giáo, chỉ chứng minh sự tha hóa nghiêm trọng của cả đạo đức xã hội lẫn đức tin tôn giáo, khi mà tất cả ham muốn, dục vọng vật chất “hữu lậu nhân thiên” đểu có thể được thỏa mãn, đều đổi chác được bằng tiền và rất nhiều tiền.

Những người ủng hộ hoặc biện hộ cho sự bùng nổ xây dựng chùa chiền thường viện dẫn thời Lý – Trần, Phật Giáo phát triển, để lại nhiều di sản vật chất, văn hóa, văn hiến, tạo nên một dung mạo văn hóa Việt Nam đặc sắc, đáng tự hào ngay cả trong thời hội nhập. Họ quên rằng, chính trong thời Lý, khi Phật giáo phát triển huy hoàng nhất, nạn mượn danh Phật Giáo để hoành hành, làm bại hoại cửa Phật, suy yếu nền tảng đạo đức xã hội và luật pháp còn phát triển hơn. Nhà nhà đi tu, nơi nơi dựng chùa, sư tăng kết đảng hoành hành bá đạo… trở thành quốc nạn. Ngay chính những chân tăng, quan lại chính trực, giới trí thức, nhà chép sử thời đó cũng đã nhiều người kịch liệt phản đối nạn buôn Tăng bán Phật. Đời Lý Cao Tông (1173–1210) , triều đình đã phải bất đắc dĩ đuổi sư, buộc hằng hà sa số sư sãi (mượn danh) phải hoàn tục, tránh cho quốc gia một vấn nạn (khi đã quá muộn).

Mượn cớ tạo ra công trình, sản phẩm có tầm vóc để nâng cao vị thế hội nhập, không ít người đã ủng hộ khuynh hướng chạy theo kỷ lục, chạy theo những cái nhất khi xây dựng chùa, tháp, với “hy vọng” đất nước sẽ có thêm ngày càng nhiều những công trình khiến cả thế giới phải nghiêng mình, sánh ngang với Vạn Lý Trường Thành hay Kim Tự Tháp, thậm chí cả người ngoài hành tinh cũng có thể nhìn thấy từ vũ trụ. Tôi cho rằng, đây là một quan niệm phi văn hóa, sặc mùi vật chất chủ nghĩa. Chùa Tam Chúc khi xây xong, dù có “lớn nhất thế giới” cũng không thể có giá trị văn hóa bằng một mảnh gốm vỡ thời Trần còn được lưu giữ trong bảo tàng. Vòm trần điện thờ dát vàng trong bảo tháp chùa Bái Đính không thể đẹp và quyến rũ nhân loại yêu sự tinh tế hơn phù điêu tạo dáng rồng thời Lý hay mái đao dù đã mốc thếch thời gian vẫn cong vút của chùa Keo được dựng từ thời Lê. Đó mới đích thực là màu sắc, đường nét văn hóa Việt. Bởi lẽ, không thể lấy thành quả đồ sộ của văn minh – những giá trị nghiêng về vật chất – để thay thế sự đặc sắc của văn hóa – những giá trị thiên về tinh thần. Những hoành phi, đại tự tầm thường thời hiện đại dù có sơn son thếp vàng, những đại hồng chung mới đúc khắc thô thiển tên tuổi nhà giàu, quan chức to cung tiến cũng không thể quý giá bằng một góc những báu vật văn bia, mộc bản cổ đã sứt sẹo hình hài vẫn rực rỡ nghìn năm văn hiến – những giá trị nghiêng về văn bản. Đó mới đích thực là những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt.

Đừng vội chê những ai ủng hộ việc giữ gìn văn hóa Việt trong nét khiêm nhường, tinh tế, giản dị là nệ cổ, là nhược tiểu, là không dám vươn ra thế giới. Mỗi nền văn hóa có một cách đóng góp riêng cho di sản văn minh – văn hóa nhân loại, phù hợp với điều kiện và tập quán sinh sống của từng vùng địa lý cư trú, từng nhóm tộc người. Từ đúng 100 năm trước, khi nói về nghệ thuật kiến trúc và trang trí của người Việt, trong bài viết “Mỹ thuật ở Huế” đăng trong tập 16, năm 1919, Tạp chí “Đô thành hiếu cổ” (BAVH), nhà nghiên cứu uy tín người Pháp, giáo sĩ dòng Thừa sai Paris Leopold Cadìere đã có nhận xét: “Người An Nam dường như chẳng bao giờ có những dự kiến to lớn. Những cung điện nguy nga, những đền thờ đồ sộ vẫn thường nằm ngoài ý niệm của họ, và cũng như nằm ngoài tầm phương tiện của họ. Nhưng các ngôi chùa nhỏ, các ngôi nhà thấp tối của họ lại được trang trí công phu. Những nóc khuyết, trụ cột, lối ra vào, bình phong và dày đặc mẫu thức trang trí với màu sắc rực rỡ, đôi khi lòe loẹt, nhưng vẫn hài hòa với sắc màu phong cảnh, với sức chói chang của ánh sáng”.

Đó là một nhận xét xác đáng. Hãy để thế giới khâm phục Việt Nam bằng bản sắc tinh tế, đâu cần phải làm thế giới giật mình kinh hãi bằng sự sao chép, bắt chước hợm hĩnh phô phang? Lai căng đua đòi làm suy yếu sức đề kháng văn hóa. Văn hóa suy đồi, ắt hẳn quốc gia bạc nhược. Đó là mối nguy tự diệt.

Ngày nay, hiện tượng mượn mác tôn giáo – không riêng Phật Giáo – lập các dự án “du lịch tâm linh” để được giao đất, phá rừng bạt núi xây Chùa to, Tháp cao, kinh doanh trên tín ngưỡng đã thành phổ biến. Những công trình chùa chiền kiểu Bái Đính, Tam Chúc, Sơn Trà… hầu hết đều là kinh doanh tôn giáo, không phải là công trình phục vụ tín ngưỡng đúng nghĩa. Chúng đều là cú áp phe của giới tài phiệt, lợi dụng Phật giáo và phá hoại Phật giáo. Viện dẫn quy luật cung cầu, nại cớ Luật không cấm để biện hộ cho kiểu kinh doanh, khai thác dịch vụ, gắn mác “văn hóa, tâm linh” vào công cuộc buôn thần bán thánh thật ra chỉ là luận điệu của kẻ hoặc cố chấp, thiếu hiểu biết, hoặc là kẻ lạm dụng đức tin, tín ngưỡng để trục lợi. Nếu đông đảo nhân dân chưa nhìn thấy sự dị hơm, băng hoại ấy, vẫn háo hức lao theo và ngưỡng mộ thì trí thức, người có hiểu biết cần góp tiếng nói chỉ ra: đó là một nguy cơ đã trở thành quốc nạn.

Trong cả mục đích và bản chất, những công trình đồ sộ đang đua nhau mọc lên thực chất chỉ là những dự án cướp cạn văn minh, công khai vơ vét tài nguyên đất nước, cướp đoạt ngân sách của nhà nước do nhân dân đóng góp.

Đầu tiên là cướp đất. Khá đông đại gia khét tiếng và tai tiếng đều gắn tên mình với những công trình xây dựng chùa chiền, dù đức tin tôn giáo, đạo đức tôn giáo của họ hầu như đều phô ra tỉ lệ nghịch với sự đồ sộ của các công trình. Trầm Bê xây chùa ở Trà Vinh để….treo ảnh gia đình. Trần Bắc Hà bỏ hàng chục, hàng trăm tỷ trùng tu, dựng mới chùa ở Bình Định, Quảng Bình. Ông Chủ Tôn Hoa Sen Lê Phước Vũ hẳn là đang rất bận bịu “thoát tục” với công trình chùa chiền trên diện tích 1500 ha rừng đã và sẽ bị phá ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Và bây giờ thì đại gia của tập đoàn Xuân Trường đang chiếm lĩnh truyền thông với những siêu dự án ăn đất.

Những siêu dự án Xuân Trường đang đầu tư đều gắn với chữ “du lịch tâm linh” gồm: khu du lịch văn hóa tâm linh tổng hợp đảo Cái Tráp ở Hải Phòng, 450 ha đất, 9.800 tỷ đồng; Quần thể Bái Đính – Tràng An (Ninh Bình), 80ha, 17.000 tỷ đồng, nhưng ăn vào 4000 ha vùng lõi Tràng An; Khu Du lịch tâm linh Tam Chúc – Ba Sao (Hà Nam) chiếm 5.100 ha đất, đầu tư 11.000 tỷ đồng: Khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) chiếm 18.940 ha, đầu tư 15.000 tỷ…

To hơn, cao hơn, rộng hơn… chiến lược trương phình dự án chỉ nhằm duy nhất chiếm hữu được nhiều diện tích đất đai hơn. Toàn bộ diện tích Khu du lịch tâm linh Tam Chúc rộng 5.100 ha, bằng 300 lần sân vận động Mỹ Đình (theo so sánh của đồng nghiệp Đào Tuấn, Báo Lao Động) trong khi mặt bằng xây dựng chùa Tam Chúc chỉ mới chiếm 144 ha. Phần đất đai mênh mông còn lại rồi đây sẽ được xây dựng thành khu trung tâm đón tiếp, khu ẩm thực, khu nghỉ dưỡng, khách sạn 5 sao, bến xe điện, bến du thuyền, khu vui chơi tổng hợp, casino, biệt thự cao cấp bán và cho thuê… Đó đều là những công trình không liên quan gì đến tôn giáo và tín ngưỡng nhưng đều là những mũi nhọn kinh doanh béo bở.

Thì đã làm sao? Nếu có tiền, người ta cứ đầu tư, miễn luật không cấm. Đầu tư kiếm lời hướng phục vụ nhu cầu tôn giáo tâm linh vẫn còn tốt hơn có tiền đem ném vào những cuộc phá phách. Mỉa mai cho những ai vẫn ngây thơ tin vào điều đó. Họ đã không nhìn thấy, hoặc cố tình nhắm mắt không nhìn thầy sự tàn phá kinh hoàng, đúng hơn là tận diệt của các siêu dự án. Sau cướp đất là ăn thủng ngân sách. Phần lớn tiền đầu tư, có thể lên tới 70% sau khi có dự án đều là tiền vay ngân hàng. Ông chủ các siêu dự án sẽ không ngần ngại vẽ vời, đội vốn các dự án lên 1,5 -2 lần hoặc hơn thế nữa để vay được càng nhiều tiền từ ngân hàng càng tốt. Lãi ngân hàng dù có rất lớn cũng thấp hơn nhiều khấu trừ thu nhập. Nếu kinh doanh không hiệu quả, dự án bị thu hồi, ngân hàng ngắc ngoải, đại gia vẫn sống khỏe. Vì mục đích lợi nhuận, họ phá rừng, bạt núi, tàn hại môi trường, phá thủng ngân sách, cướp bóc quốc gia, còn tàn bạo hơn phá hoại.

Vẫn chưa hết. Khi các công trình tâm linh đã đi vào khai thác, bằng mọi cách, họ cố phù phép để chúng được công nhận là “Di tích văn hóa – lịch sử” – với hồ sơ thuyết minh đa phần là bịa đặt và thêu dệt. Với một khoản tiền bôi trơn cực lớn, họ sẽ đạt được điều đó rất nhanh mà không quá khó. Vậy là nghiễm nhiên “Công trình tâm linh, danh thắng” sẽ được bảo vệ, giữ gìn bằng tiền ngân sách (chi cho công an, dân phòng, bảo vệ, cả bộ máy chính quyền địa phương), nghĩa là thêm một bước nữa trắng trợn móc túi ngân sách.

Dùng mỡ nó rán nó, đó là bản chất công cuộc cướp cạn tài nguyên, ngân sách quốc gia một cách công khai. Đó là lý do vì sao các công trình siêu khủng đều có xuất phát ăn theo một cổ tự, danh thắng nổi tiếng đã có sẵn. Nếu phải so sánh với công trình mới đầu tư, công trình nguyên thủy, Bái Đính cổ tự so với Bái Đính mới chẳng hạn, xem ra chỉ bé như mắt muỗi. Lấy mở nó rán nó, nhà đầu tư chỉ giàu lên cực nhanh, không bao giờ chết.

Một ví dụ cụ thể, hàng năm, sau mỗi đợt lễ hội Chùa Hương, chùa chiền ở đây sẽ thu được vài chục tỷ đồng, năm cao nhất là 31 tỷ. Số tiền lẻ của khách thập phương cúng hòm công đức và nhét vào tay, vào chân tượng Phật hoặc đặt lễ trên bàn thờ gom lại đem gửi tại Ngân hàng Mỹ Đức, Hà Nội có khi lên tới 1.200 bao tải!

Thế nhưng, chỉ 4% trong số đó được trích lại cho BQL di tích để phục vụ trùng tu, tôn tạo, bảo vệ rừng. Trong khi đó mỗi năm nhà nước vẫn phải bỏ ra ít nhất 10 tỉ đồng để nuôi bộ máy cũng như bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, tu sửa hạ tầng, đường hành hương và chăm sóc, bảo vệ rừng. Vì đây là di tích văn hóa – lịch sử quốc gia, những đợt sửa chữa, tu bổ lớn trị giá hàng chục, hàng trăm tỉ đồng cũng đều dùng tiền ngân sách chi trả.

Và đó cũng là lý do vì sao Tập đoàn Xuân Trường – lại Xuân Trường chứ không phải ai khác – đang làm hồ sơ đề xuất siêu dự án 15.000 tỷ, chiếm trọn quần thể Chùa Hương với 1000 ha đất!

Sẽ không có đại gia nào có thể thâu tóm đất đai, moi tiền ngân sách, nếu không có sự gật đầu và tiếp tay của bộ máy công quyền từ Trung ương đến địa phương. Vì sao và để làm gì, hỏi tức là đã trả lời.

Không có sự phát triển tôn giáo, thần thánh nào ở đây cả, chỉ có sự hiện hữu và lớn mạnh kinh khủng của các tập đoàn tư bản thân hữu ăn ruỗng tài nguyên, nguồn lực của đất nước. Không ngăn chặn, tiêu diệt nguy cơ ấy bằng luật pháp nghiêm minh, bằng chính sách minh bạch một cách triệt để, đất nước sẽ ruỗng mục, xã hội sẽ băng hoại. Thờ ơ với quốc nạn không chỉ là vô trách nhiệm mà là có tội. Phải làm gì, làm như thế nào, đó là trách nhiệm của hệ thống chính trị, các nhà lập pháp, bộ máy hành pháp, tư pháp, thay vì và cần thiết, cấp bách hơn nhiều so với mối lo loay hoay tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao tinh thần dân túy, phản đối ngày càng bùng phát mạnh mẽ trong xã hội.

Từ hơn 2000 năm trước, trong thiên Thái Bá, sách Luận Ngữ, Không Tử đã khái quát: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Đất nước vô đạo, chạy theo giàu sang, thật hổ thẹn”. Xem ra, chỉ với vấn nạn “hảo tự ố tăng”, thực tế đất nước đã khốn nguy, bị tàn phá nghiêm trọng hơn bội phần so với chữ “sỉ dã” được bậc minh sư nhắc từ thiên cổ!

14.02.2019
NGUYỄN HỒNG LAM