Cơ Trời

Từ ngày 3 Tháng Sáu 2024, ông Thích Minh Tuệ lại lui về ẩn tu. Như vậy có lẽ hợp lý, vì ông cũng bị phiền nhiễu quá mức và chính quyền cũng hết chịu nổi khi ngày càng có ngàn, vạn người dân hoan hỉ, thành kính đón chào ông như một lãnh tụ tinh thần chưa từng thấy.

Nhưng sự xuất hiện của ông chỉ trong một tháng thôi cũng đủ hoàn thành sứ mệnh lịch sử.

Hiện tượng Thích Minh Tuệ diễn ra không ai biết trước, không ai chủ động tạo ra. Đó là một hiện tượng hoàn toàn tự phát, nhưng đủ hết các cơ duyên để bùng phát, lan tỏa như bão, lũ, chấn động xã hội và dư chấn rung động cả đến quốc tế.

Tôi cứ nghĩ lan man, tại sao lại là lúc này? Có phải là CƠ TRỜI?

Khi các “ma tăng” có quyền lực bảo kê, bộc lộ hết sự tha hoá trước cửa Phật và trước bàn dân thiên hạ

Phải nói rằng hơn 14 nghìn chùa, hơn 44 nghìn tăng ni trên khắp cả nước, cũng có những chùa giữ được tam bảo, có những sư, ni tu theo Chánh pháp của Phật.

Nhưng những năm gần đây, ngày càng nhiều chùa, nhiều sư trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) bộc lộ rõ sư tha hoá, xa rời Chánh pháp của Đức Phật. Những hoạt động “dâng sao giải hạn,”“trục vong,”“phóng sinh,”“chiêm bái xá lợi tóc Phật,”“tổ chức khất thực, thu tiền của các Phật tử tại chùa,” kêu gọi “cúng dường” bằng đủ mọi thủ đoạn. Theo họ thì không cần tu, không phải Phước sinh ra từ Đức mà cứ cúng dường là có phước, cúng càng nhiều phước càng lớn.

Những clip “giảng pháp ba trợn,” những hành vi phản cảm của Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Nhuận Đức, lan truyền trên mạng xã hội gây bức xúc ghê gớm, với những bằng chứng không thể chối cãi.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết: “Với tiêu chí: “ĐẠO PHÁP – DÂN TỘC và CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” hiện nay của giáo hội Phật giáo quốc doanh, chùa chiền của Việt Nam đang thờ khẩu hiệu diệt tôn giáo của Karl Marx: TÔN GIÁO LÀ THUỐC PHIỆN CỦA NHÂN DÂN.” Và, thuốc phiện chính là thuốc độc, cần phải loại bỏ trong xã hội con người.

Trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa của Marx, không có chỗ tồn tại của tôn giáo. Như vậy, Phật giáo chỉ còn là phương tiện để các thầy chùa quốc doanh hô hào chuyển khoản gọi là “Thích chuyển khoản,”“Thích cúng dường,”“Thích cúng sao,”…

Nhà văn Phạm Lưu Vũ đã gửi thư ngỏ cho Hòa Thượng Giáo Chủ GHPGVN Thích Trí Quảng, nêu rõ sự “phá Đạo” của mấy sư và gay gắt hỏi: “Thượng Tọa” Thích Chân Quang vì cực Tham và cực Si, nên mới nhầm lẫn đến mức như thế. Chẳng lẽ các vị chư tôn đức ở bên trên, cũng “Si” như vậy cả hay sao? Mà không lên tiếng bảo vệ giáo lý của Đức Phật”?

Nhà giáo Chu Mộng Long có bài viết “CẦN TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ” kiến nghị Ban Kiểm Tra TƯ Đảng CSVN và Bộ Công An hãy điều tra, xử lý Ban Tôn Giáo Chính Phủ về tội quản lý nhà nước về tôn giáo đã để xảy ra bao nhiêu chuyện bê bối của GHPGVN, làm nhân dân bức xúc hết chịu nổi.

Vậy mà, GHPGVN và mấy “ma tăng” vẫn trơ như đá, vững như đồng!

Bởi vì cái GHPGVN XHCN này tin rằng Hội của Đảng và Nhà nước, lại có lực lượng vô cùng hùng hậu. Nhiều người, cả người viết bài này nhiều lúc thấy như vô vọng trước sức mạnh của mấy “ma tăng” lôi kéo được hàng triệu quần chúng u mê theo chúng.

Theo số liệu thống kê của GHPGVN, cả nước có gần 45 triệu tín đồ quy y tam bảo, có 1,002 đơn vị gia đình Phật tử và khoảng 44,498 tăng ni, hơn 14,775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật.

Tất nhiên vẫn có nhiều nhà sự Chân tu, nhiều ngôi chùa “nghèo” mà giữ được Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, nhiều Phật tử tu theo Chánh Pháp. Nhưng tất cả những nhân tố tích cực ấy như ẩn cư, khép nép chìm vào tĩnh lặng trước đội quân hùng hậu trùng trùng điệp của mấy “ma tăng” trong GHPGVN.

Sự mất niềm tin, bức xúc của nhiều người dân và Phật tử đã lên đến đỉnh điểm, khát khao mong chờ một sự thay đổi…

Sự xuất hiện của Thích Minh Tuệ “đủ chín” đúng lúc.

Trong bối cảnh nêu trên, bỗng xuất hiện Thích Minh Tuệ như ánh đuốc nhiệm màu soi sáng căn hầm hỗn độn, mung lung u tối.

Nhưng phải có một quá trình sáu năm gian khổ, âm thầm mới đủ “chín” để có một Minh Tuệ xuất hiện, chấn động nhân tâm như những gì đã thấy từ đầu Tháng Năm 2024 đến nay.

Thích Minh Tuệ tên thật là Lê Anh Tú, sinh năm 1981 tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Năm 1994, Tú cùng gia đình chuyển đến tỉnh Gia Lai sinh sống.

Sau khi học hết phổ thông trung học, Tú đi nghĩa vụ quân sự. Khi xuất ngũ, anh theo học Trường Trung cấp Lâm Nghiệp Tây Nguyên. Tốt nghiệp, anh làm công tác đo đạc địa chính cho một công ty tư nhân tại tỉnh Phú Yên. Thời gian này, Tú tìm hiểu Phật pháp trong sách, trên mạng và quyết định xin bố mẹ cho đi tu.

Tháng Bảy năm 2015, Tú xuất gia đi tu tại một ngôi chùa với pháp danh Thích Minh Tuệ. Sau hai năm “thấy không hợp,” Tú rời khỏi chùa, lên núi ẩn tu một mình trong hốc đá, ở núi Sạn (Nha Trang), hàng ngày đi khất thực.

Sau đó thấy rằng mình cần phải đi ra thế gian để có cơ hội hiểu đời, hiểu mình, nên năm 2017 Thích Minh Tuệ quyết định đi bộ hành từ Nam ra Bắc và ngược lại. Cho đến nay, đã đi bốn lần và ông đã đặt chân đến gần như khắp mọi miền đất nước, chỉ còn ba tỉnh Tây Ninh, Trà Vinh, Bến Tre là chưa tới.

Thời gian đầu Minh Tuệ đi khất thực đầu trần, chân đất, nhưng y phục và bình bát vẫn giống như các sư ở chùa.

Năm 2018, một người đi xe hơi, thấy một nhà sư đầu trần, chân đất đi dưới trời nắng, liền mời thầy lên xe, Minh Tuệ xưng “tôi” và trả lời: “Cảm ơn, tôi đi bộ để rèn luyện.”

Tháng Năm 2019 chị Vivian Phạm gặp Minh Tuệ ngồi thiền trên đèo Phadin, ông vẫn mặc áo vàng, nhưng đã xưng “Con.”

Sau này Minh Tuệ mới dần dần đủ “chín” để xuất hiện vào Tháng Năm 2024 với đầy đủ Đạo hạnh của một bậc Chân tu lý tưởng đáp ứng niềm khát khao mong cầu của thế gian trong xã hội đương thời.

Tôi tin rằng, Thích Minh Tuệ đã đủ “chín” thì mới:

-Không xưng “Thầy” (dù được gọi là Thầy), không xưng “Tôi” (như 2018), mà xưng “CON” (2019), nghĩa là buông bỏ cái NGÃ của mình xuống thấp hơn tất cả mọi người: “Con coi tất cả mọi người đều là anh em, cha mẹ, mọi người đều bình đẳng.” Tức là “Vô ngã,” đồng thể ngã với mọi chúng sinh. Còn hơn thế: “Có ai mắng chửi, đánh con, con cũng không tức giận họ, con cầu mong cho họ hạnh phúc.”

-Chọn y phục tự khâu chắp vá và bình bát là ruột nồi cơm điện, khác hẳn, không thể lẫn với y phục, bình bát của tất cả các nhà sư tu hiện thời

-Chỉ đầu trần, chân đất đi khất thực, ăn một bữa, không nhà cửa, không nhận tiền, ngủ ở nghĩa địa, gốc cây; buông bỏ hết nhu cầu vật chất đến tối giản, không thể buông bỏ hơn được nữa, khác hẳn với đời sống của tất cả các nhà sư hiện thời. Các nhu cầu cho xác thân đã tối giản tận cùng mà luôn an nhiên, vui vẻ “con rất hạnh phúc.” (gợi liên tưởng đến Ngài Ca Diếp).

-Đã đọc nhiều Kinh, Pháp nhưng luôn nói, “Con đang học tu, chưa có gì để nói.” Nhưng nếu ai hỏi thì vui vẻ trả lời rất giản dị, mộc mạc, mà có người gọi là “ngô nghê” (nhưng thực ra rất đúng với căn bản của Phật pháp). Minh Tuệ cũng không nói mình tu theo Hạnh Đầu Đà; ông nói: “Nói pháp không ai bằng Ngài Anan, tu khổ hạnh không ai bằng Ngài Ca Diếp, nhưng Đức Phật không bảo ai tu theo Anan hay Ca Diếp cả. Con chỉ tu theo lời Phật dạy.”

-Có tuệ giác, biết trước, phòng trước mọi chuyện: “Con chỉ là công dân Việt Nam học tu theo lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sáu năm qua con không là nhân sự ở chùa nào. Con không là Nam tông hay Bắc tông, cũng không phải là tu sĩ của GHPGVN, bởi con tự thấy đạo đức của con chưa đạt đến cảnh giới đó.”

Ông nói: “Mọi người quay phim ghi hình con không có quyền ngăn cản, nếu họ thấy việc họ làm là ích lợi và vui vẻ thì họ cứ làm; mọi người đi theo là tự ý họ, con không kêu gọi, cũng không có quyền ngăn cản, nhưng mong mọi người giữ trật tự, không gây cản trở giao thông, mất trật tự…”

“Tất cả mọi người đang di hành cùng nhau đến từ sự tự nguyện tu tập, không có đoàn, không có tổ chức, đội trưởng nào cả, không có ai đứng ra chịu trách nhiệm để kêu gọi quyên góp, không cúng dường vật chất, không nhận tiền bạc, không nhận chuyển khoản…

Ai muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Con không mời gọi, không kết nạp đệ tử và cũng không xua đuổi ai.”

Ông trả lời chiều 29 Tháng Năm 2024 tại Quảng Trị: “Con chỉ mong tất cả mọi người chuyên tâm tu tập, rèn luyện sức khỏe, đạo đức từ bi, loại bỏ tham sân si, hung hãn để được an lạc và hạnh phúc.”

Điều đặc biệt là những câu trả lời của Minh Tuệ cách đây năm, sáu năm cho tới nay vẫn luôn nhất quán. Nếu ông nhận người đi theo là đệ tử, có tổ chức tăng đoàn, thì ông đã bị bắt khi hành giả Lương Thanh Sơn, pháp danh Minh Thiện sốc nhiệt tại Quảng Trị, và chết tại bệnh viện Huế, ngày 31 Tháng Năm 2024.

Với thân hình gầy còm nhưng dẻo dai phi thường, gương mặt cháy nắng chất phác, nụ cười hiền hậu, lời nói chân thật mộc mạc và nhất là hành trì tu tập theo Hạnh Đầu Đà đã sáu năm, Minh Tuệ hiển hiện lên là người Việt Nam, tu THẬT. Vì thế hình ảnh Minh Tuệ đã làm rung động hàng triệu con tim, loé lên niềm tin và hy vọng vào Tam pháp bảo, vào những điều tốt đẹp mà người dân đang khát khao, tìm kiếm.

Pháp Chủ GHPGVN- Hoà Thượng Thích Trí Quảng nói: “Có nhiều pháp tu, nhưng tu Hạnh Đầu Đà là khó nhất, nhằm tới ra khỏi sinh tử luân hồi. Khi Đức Phật tại thế có nhiều người tu theo Hạnh Đầu Đà, nhưng rồi bỏ dở, chỉ có Ngài Ca Diếp đi tới cùng, vì Ngài có thân Kim cương.

Minh Tuệ từ chối giảng pháp nhưng hoằng Pháp bằng trì giới nghiêm ngặt, hành pháp bền bỉ, giáo hoá chúng sinh bằng thân giáo, khiến xúc động lòng người, đánh thức những giá trị đạo đức ẩn sâu trong lòng người…

Vậy nên nhiều người coi Minh Tuệ như hình ảnh Đức Phật, Chúa Jesus, như Ngài Ca Diếp tái sinh để giải cứu Đạo Phật đang suy đồi.

Khi ruyền thông xã hội đủ mạnh phổ cập đến toàn dân

Nếu không có mạng truyền thông xã hội đủ mạnh, phổ cập thì xã hội cũng chẳng mấy ai biết đến Thích Minh Tuệ.

Bằng chứng là từ năm 2017 Minh Tuệ đã một mình đi khất thực từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam đến ba lần, đi khắp các tỉnh thành, mà có mấy người biết đến đâu.

Ngày 12 Tháng Năm 2019 chị Vivian Phạm đã gặp một nhà sư trên đèo Phadin ngồi trò chuyện gần 1 giờ, mà có lưu ý đâu. Nay chị mới biết đó là Minh Tuệ và đưa hình ảnh, viết lại buổi gặp gỡ 5 năm trước, hoá ra là sư Minh Tuệ đi bộ lên Điện Biên phủ.

Ngày 14 Tháng Mười 2022, bạn trẻ Thịnh Nguyễn sống tại Hà Nội, tình cờ gặp Minh Tuệ đi bộ tại cầu Long Biên; bạn là người có hiểu Phật pháp nên trò chuyện, rất cảm phục và viết một status trên fackbook “Gặp Thầy Minh Tuệ”: “Gặp một thầy chùa đi bộ từ Nha Trang lên phía Bắc, ra đến Hà Nội thầy đi hết một tháng rưỡi. Hôm nay gặp khi thầy từ Lạng Sơn về tới Cầu Long Biên, trên đường thầy tới Quốc Lộ 1 để đi về Nha Trang lại.”… Chỉ có 26 comments, đều tỏ ra cảm phục… Cộng đồng mạng vẫn im lặng.

Chiều ngày 21 Tháng Ba 2024, Minh Tuệ đi qua Nghệ An, đi có một mình và chỉ có một cô gái hỏi chuyện và chụp hình với ông đăng lên facebook “Nghệ An.” Rồi ông đi mãi lên Hà Giang, chỉ một người cùng đồng hành và gặp một thanh niên hỏi chuyện, ghi lại đoạn clip, nhưng không mấy người quan tâm.

Ngày 8 Tháng Năm 2024 khi ông từ Bắc trở về qua Thanh Hoá, bắt đầu có mấy chục người đi theo hỏi chuyện, livestream, rồi Nhật Nam TV ghi hình đưa lên Youtube…

Đến ngày 14 Tháng Năm khi Minh Tuệ vào đất Nghệ An thì ngày càng đông người đón chờ, đi theo, chụp ảnh, livestream…

Khi Minh Tuệ vào đến TP Vinh thì mấy nghìn người dân đổ ra đón Minh Tuệ, các youtuber, facebooker, Twitter… tíu tít tác nghiệp; hình ảnh tràn ngập trên không gian mạng, lan truyền như bão…

Đội ngũ facebooker, youtuber, twitter… ngày càng đông, đeo bám ngày đêm, không bỏ sót một cảnh nào trên đường đi của Minh Tuệ.

Có nhiều người phê phán đám youtuber, facebooker, twitter… lợi dụng hình ảnh trục lợi, gây nhiễu loạn thông tin xã hội. Nhưng nếu không có đội ngũ truyền thông dân dã này, làm sao xã hội và quốc tế biết rõ SỰ THẬT về sư Minh Tuệ.

Rõ ràng nhờ truyền thông xã hội phổ cập mạnh mẽ mới biến hiện tượng Minh Tuệ thành sự kiện xã hội sôi nổi, hào hứng, lan tỏa chưa từng thấy trong nhiều năm qua tại Việt Nam và tạo hiệu ứng xã hội không lường hết được.

Khi nhiều Phật tử và người dân đang thất vọng về sự xuống cấp của Đạo Phật, thì MInh Tuệ xuất hiện như ánh sáng nhiệm màu loé lên niềm tin và hy vọng vào Đạo Phật.

Ngày 14 Tháng Năm những người dân Nghệ An đầu tiên được facebooker phỏng vấn đã nói: Chúng tôi đón đợi Thầy từ 4-5 giờ rồi. Thầy là bậc Chân tu, nghìn năm mới xuất hiện, Thầy không lấy của dân một đồng nào để xây chùa to, tượng lớn mà cho người dân thấy được Chánh pháp của Đức Phật.

Phải nói rằng, trong đám đông cũng có những người hiếu kỳ.

Hiếu kỳ thì người ta chú ý “xem chuyện lạ,” cười vui, chỉ trỏ, ghi hình chơi thế thôi, nhưng đây lại hàng ngàn, hàng vạn người chờ đợi, chắp tay niệm Phật, nhiều người quét đường, rắc hoa, trải thảm… cho Minh Tuệ và đoàn tòng tu đi trong sự tôn kính thì đâu phải là tò mò. Bao nhiêu người dân rơi nước mắt, đảnh lễ, dâng đồ ăn, nước uống, che mưa, che nắng cho Minh Tuệ và đoàn tòng tu mỗi ngày một đông, cho thấy lòng dân ngưỡng mộ vị Chân tu như thế nào.

Đặc biệt chính quyền, lực lượng an ninh các địa phương cũng thuận lòng dân, không có hành động cản cấm, mà còn ra sức giữ trật tự, bảo vệ Minh Tuệ và đoàn tòng tu cho đến tối ngày 2 Tháng Sáu 2024.

Ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng từng bảo: “Dân người ta tinh lắm,” quả không sai nhỉ!

Rất nhiều người trả lời phỏng vấn, vô vàn bài viết, video trên mạng xã hội đã so sánh, phân tích sự khác nhau giữa Minh Tuệ TU THẬT và đám “ma tăng,” chỉ rõ đâu là Chánh pháp đâu là Tà pháp. Mấy người xúc phạm Minh Tuệ dường như bị quả báo nhãn tiền trước búa rìu dư luận.

Điều quan trọng là lòng dân, hàng triệu Phật tử đã thức tỉnh hướng về Chánh Đạo, xa rời Tà Đạo, một sự chuyển động chưa từng thấy.

Bốn yếu tố nêu trên đều tiền triển đến “độ chín” và bộc phát TỰ NHIÊN, “hoà quyện“ với nhau một cách nhịp nhàng kì diệu, không ai lường trước được, không ai tổ chức được như vậy.

Sứ mệnh của Minh Tuệ xuất hiện một lần trong Tháng Năm 2024 vậy cũng đủ.

Chỉ có thể nói đó là CƠ TRỜI! Trời đã tạo cơ hội ngàn năm có một để Đạo Phật Việt Nam tỉnh thức có cơ hội trở về Chánh pháp.

Sự kiện Minh Tuệ gây hiệu ứng xã hội vô cùng lớn không chỉ về Đạo Phật mà còn về sự thức tỉnh lương trị, lòng trắc ẩn, từ bi, đạo đức, lối sống và tác động đến cả văn học, nghệ thuật.

Cơ Trời là vậy, nhưng làm thay đổi được gì, đến đâu là thuộc về sức sống, sự tỉnh thức của nhân dân, phụ thuộc vào Phúc và Nghiệp của dân tộc này.

Bài viết của Mạc Văn Trang ( Sài Gòn Nhỏ)

Ảnh (ở FB của Vivian Pham): Việt Kiều Âu Châu, Vivian Pham gặp sư Minh Tuệ ở đèo Pha đin cách đây 5 năm. Lúc này sư Minh Tuệ đã bắt đầu xưng con và không mấy ai biết đến ông.

CUỘC ĐỐI THOẠI KỲ LẠGIỮA PHI HÀNH GIA NỔI TIẾNG VÀ HOÀ THƯỢNG THÁNH NGHIÊM


Nguồn: https://thuvienhoasen.org/
🪐💫🪐

Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào ngày 31 tháng 1 năm 1971.
Ông đã đến Đài Loan năm 2008 tham dự một hội thảo Khoa học và có dịp gặp gỡ và đối thoại cùng Hoà thượng Thánh Nghiêm. Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh của tác giả Nguyên Phong.
—🪐💫🪐—

Ảnh: Phi hành gia Edgar Mitchell – Hoà thượng Thánh Nghiêm

Sau bữa ăn, ông Mitchell hỏi tôi:

  • Ngày mai chúng tôi sẽ đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm, anh có muốn đi cùng với chúng tôi không?
  • Dĩ nhiên tôi không thể từ chối một cơ hội hiếm có như vậy.

Buổi gặp gỡ được sắp đặt trước này diễn ra tại giảng đường Đại học Đài Bắc cho một số sinh viên và giáo sư tham dự. Giáo sư Yeh là người chủ trì buổi nói chuyện.
Giáo sư Yeh bắt đầu cuộc gặp mặt:

  • Mitchell, ông hãy kể về trải nghiệm lạ lùng khi bay trên không gian vũ trụ cho Hòa thượng Thánh Nghiêm nghe và hỏi ngài về những thắc mắc của ông đi.

Phi hành gia Mitchell lên tiếng:

  • Thưa Hòa thượng, sau khi hoàn tất sứ mệnh trên mặt trăng, chúng tôi bắt đầu bay trở về trái đất. Khi bay trong không gian, phi thuyền của chúng tôi phải liên tiếp xoay tròn theo trục di chuyển 360 độ để giảm sức nóng phát ra từ ánh sáng mặt trời. Do đó, cứ mỗi hai phút thì tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng và mặt trời qua cửa kính của phi thuyền. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian, vì không có bầu khí quyển nên chúng tôi nhìn thấy các hành tinh rất rõ. Khi ở trên trái đất, chúng ta nhìn lên bầu trời và thấy các vì sao lấp lánh vì ảnh hưởng của bầu khí quyển; nhưng trong không gian, tất cả đều sáng rõ như một mạng lưới khổng lồ với hàng ngàn hàng vạn vì sao trông như những hạt kim cương tỏa sáng. Đó là một hình ảnh tuyệt vời đối với các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay, mọi người đều có thể nhìn thấy hình ảnh này qua kính viễn vọng Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ chụp được và đưa lên mạng. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy vũ trụ đẹp vô cùng, không lời nào có thể diễn tả được.

Là một nhà khoa học, tôi biết rằng tất cả những tế bào, những nguyên tử trong cơ thể tôi, hay cơ thể của những người bạn tôi trong phi thuyền, và ngay cả những nguyên tử cấu tạo nên phi thuyền, đều phát xuất từ hành tinh của chúng ta hay chính là khởi nguồn trong vũ trụ. Mọi hiện tượng vật chất đều phát xuất từ vũ trụ này. Từ đó, tôi ý thức rằng thân thể của tôi và tất cả mọi vật trong vũ trụ không có gì sai biệt. Thay vì là một cá thể độc lập, một thành phần riêng rẽ, tôi ý thức rằng tất cả cùng chung một nguồn gốc. Ngay khi đó, toàn thân tôi bỗng nhiên rung động mãnh liệt. Tôi thấy mình chìm đắm trong một cảm giác bình an lạ lùng không thể diễn tả. Trải nghiệm này tiếp tục diễn ra mỗi khi tôi không bận rộn. Là phi hành gia, dĩ nhiên chúng tôi rất bận vì vừa phải điều khiển phi thuyền, vừa phải hoàn thành những thí nghiệm khoa học trong phi thuyền, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diệu kỳ của vũ trụ và cảm nhận cảm giác bình an lạ lùng này.

Với mỗi vòng quay của phi thuyền, tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng, mặt trời, cùng các vì tinh tú lấp lánh. Tôi thấy vũ trụ giống như một tấm lưới với hàng triệu vì sao toát ra thứ ánh sáng rực rỡ, và tôi ý thức rõ ý niệm “vạn vật đồng nhất thể”. Tôi hiểu rằng nếu đã đồng nhất với tất cả thì vạn vật đều liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời được. Đây là một quan niệm mới lạ mà từ trước đến nay, các nhà khoa học chúng tôi không ai nghĩ đến.
Trong trải nghiệm bình yên đặc biệt đó, tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là ai? Tôi từ đâu tới đây? Rồi tôi sẽ đi về đâu? Vũ trụ được hình thành và có mối liên hệ như thế nào với trái đất cùng những con người sống ở đó? Có phải chúng tôi, những người đầu tiên du hành ra ngoài không gian, đã cảm nhận được sự tương quan rõ rệt giữa con người và vũ trụ, khác hẳn với ý niệm của những người chưa từng rời trái đất?”.

Từ ý niệm này, tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc phải tìm cách thay đổi các quan niệm định kiến chật hẹp đã giam cầm bao nhiêu thế hệ từ trước đến nay bằng một quan niệm mới về sự tương quan giữa con người và vũ trụ. Có lẽ các định luật khoa học, các kiến thức được xây dựng từ ngàn xưa sẽ phải thay đổi khi chúng ta nhìn lại tất cả những gì chúng ta đã làm trên trái đất này, sau khi chứng kiến sự nhỏ bé của chúng ta so với vũ trụ bao la. Ngay như nền khoa học hiện đại bắt đầu khoảng bốn trăm năm trước với Isaac Newton cũng sẽ phải thay đổi khi con người bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của sức hút trái đất.

Khi lan man nghĩ đến đó, tôi chợt nghĩ đến những bậc tiên phong như Copernicus, Galileo và những nhà khoa học lỗi lạc khác đã đưa ra ý kiến về sự tương quan giữa trái đất và vũ trụ nhưng phải chịu đựng sự chống đối, kỳ thị của những quan niệm thiển cận, hẹp hòi lúc bấy giờ. Người thì bị thiêu sống, người thì bị giam cầm cho đến chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật, không thể chối cãi. Tất cả khuynh hướng bảo thủ, hẹp hòi trước sau cũng phải thay đổi khi người ta biết hướng tầm mắt lên cao, xóa bỏ thành kiến cũ và mở rộng tâm hồn để nhìn ra vũ trụ bao la.

Phi hành gia Mitchell ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp tục:

  • Khi trở về trái đất, tôi luôn thắc mắc về cái cảm giác bình an lạ lùng này. Tôi tìm đọc rất nhiều sách vở khoa học nhưng không tìm thấy gì có thể giải thích hiện tượng trên. Tôi chuyển qua nghiên cứu các sách vở tôn giáo của phương Tây nhưng cũng không tìm được gì. Tôi tìm đến những học giả thông thái nhưng không ai có thể trả lời được thắc mắc của tôi. Một người bạn khuyên tôi nên tìm đọc các tài liệu về tôn giáo phương Đông, và tôi bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, nhất là các sách nói về đại định (Samadhi). Tôi thấy có sự trùng hợp giữa trải nghiệm mà tôi đã trải qua trên không gian với trải nghiệm của các hiền triết phương Đông, khi họ diễn tả về trạng thái thiền định.

Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh 1 của tác giả Nguyên Phong.

Giáo sư Yeh chợt hỏi:

  • Phải chăng cảm giác đó là thấy mình hợp nhất với vạn vật?

Phi hành gia Mitchell trả lời:

  • Đúng thế, lúc đó tôi không thấy có sự khác biệt giữa mình và vạn vật nữa. Cái cảm giác hòa hợp, rung động cùng với sự chuyển động của vũ trụ, là một trải nghiệm kỳ lạ không thể diễn tả được bằng lời.

Giáo sư Yeh quay sang hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:

  • Bạch Hòa thượng, theo quan niệm của Phật giáo, trải nghiệm không còn thấy sự phân biệt giữa mình và vạn vật của phi hành gia Mitchell có phải là một sự chứng ngộ không?
    Hòa thượng Thánh Nghiêm mỉm cười nhìn ông Mitchell:
  • Trước hết tôi rất mừng cho phi hành gia Mitchell đã có một trải nghiệm đặc biệt. Trong hàng ngàn, hàng vạn người, không mấy ai có được trải nghiệm như thế. Trong cuộc sống, khi người ta trải nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, có thể thay đổi hẳn các trải nghiệm cá nhân từ trước, ta có thể coi đó như là một sự chứng ngộ. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một cảm giác nhất thời.

Thí dụ như, cách đây không lâu, một đệ tử của tôi cũng có một trải nghiệm đặc biệt. Sau một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, anh ta trở về nhà. Trên đường về, anh ta thấy tất cả cây cối, hoa lá, từ những con côn trùng nhỏ bé cho đến những chiếc lá cây, ngọn cỏ đều vui mừng chào đón anh. Anh cảm nhận được một niềm an lạc tuyệt vời như hòa nhập với ngoại cảnh và tin rằng mình đã chứng ngộ. Anh vội vã trở lại kể cho tôi nghe về trải nghiệm đó. Tôi nói với anh rằng tuy đó là một khoảnh khắc trải nghiệm tuyệt vời nhưng cũng có thể biến đi ngay trong chốc lát. Đừng coi cảm giác đó là một sự chứng ngộ. Nếu không tin, anh hãy thử trở lại khu vườn đó để xem những cây cỏ, hoa lá, muông thú có chào đón anh như trước không.

Khi quay trở lại, anh không cảm nhận được trải nghiệm như trước nên đã hỏi: “Làm thế nào để con có thể lấy lại cái cảm giác tuyệt vời đó?”. Tôi trả lời: “Không ai có thể sở hữu mãi mãi trải nghiệm đã qua đó. Nếu muốn nắm giữ nó mãi thì anh thật tham lam. Có được trải nghiệm này chỉ là một kết quả của quá trình tu tập mà thôi. Đó không phải là sự chứng ngộ như anh kỳ vọng. Mục đích của tu tập Thiền định là để phát triển trí tuệ và xóa bỏ bản ngã. Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Vô ngã thì thế giới này còn tồn tại nữa không? Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Tâm vô phân biệt thì làm gì còn có chúng ta hay thế giới này nữa? Đối với đa số mọi người, thế giới này thật sự hiện hữu, nhưng đối với những người đã chứng ngộ thì thế giới này chỉ là huyễn ảo, không có thật, do đó tất cả trải nghiệm dù là trải nghiệm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là huyễn ảo chốc lát mà thôi. Chúng ta không nên để ý đến nó hay muốn nắm giữ nó mãi làm gì”.

Giáo sư Yeh hỏi thêm:

  • Bạch Hòa thượng, như thế thì dù chúng ta có được những trải nghiệm gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao?

Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:

  • Cho dù trải nghiệm đó diễn ra thế nào đi nữa, hãy để cho nó đến và đi một cách tự nhiên. Có thể nó chỉ là điều xuất phát từ tâm thức, sẽ thay đổi, vì tất cả mọi sự đều sẽ đổi thay. Dù nó hiện hữu như thật, vẫn hãy coi nó chỉ là những hiện tượng của tâm thức mà thôi.
    Tuy nhiên, đối với những người đã trải nghiệm, rồi hoàn toàn thay đổi nhận thức của họ và luôn luôn sống với tâm thức đó, thì chúng ta có thể kết luận rằng người đó đã chứng ngộ. Theo quan niệm của Phật giáo, người này đã có một “nhân” lành từ trước và đến nay nó bắt đầu trổ “quả”.

Tứ đại dưới con mắt của Phật học và khoa học

Hòa thượng Thánh Nghiêm chia sẻ tiếp:

  • Phi hành gia Mitchell là một nhà khoa học, nhưng không thể giải thích trải nghiệm đó bằng lý luận của khoa học, không thể chứng minh nó qua các cuộc thí nghiệm, hay tạo ra lý thuyết bằng phương pháp luận lý. Ông tin rằng đây là một kiến thức mới, mà khoa học cần khám phá, nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ông nên biết rằng cảm giác đó là một trải nghiệm tâm linh nằm trong phạm trù của tôn giáo mà khoa học không thể giải thích. Triết học hay luận lý học cũng không thể giải thích được, vì nó là một trải nghiệm tinh thần xảy ra cho một người duy nhất – là ông mà thôi. Trải nghiệm ấy đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của ông. Từ đó, ông cảm thấy nó trở thành một phần của ông, không thể tách rời ra được nữa. Trải nghiệm này vượt khỏi phạm trù của khoa học bởi vì những người trải nghiệm được việc này không thể diễn tả, giải thích được, không thể chứng minh được, và cũng không ai có cùng một trải nghiệm tương tự như thế, nó là một trải nghiệm có tính chất duyên căn cá nhân. Ai uống nước thì tự mình biết nóng hay lạnh. Trong trường hợp của ông, chỉ mình ông cảm nhận được sự an lạc hòa hợp cá nhân vào vũ trụ, nhập với tất cả, không còn phân biệt giữa mình và vũ trụ nữa. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác ở trong phi thuyền. Tại sao họ không có được trải nghiệm giống như ông? Tại sao chỉ mình ông có được cảm nhận đó? Nếu nói theo khoa học thì một khi ông cảm nhận được điều gì, tất cả những người khác cũng đều phải thấy như thế. Tóm lại, đây là điều mà khoa học không thể giải thích hay chứng minh, vì nó nằm ngoài phạm trù của khoa học.
    🪐💫🪐

VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG


TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam (1804), chọn Huế làm kinh đô của vương triều Nguyễn, mà không dời đô về Thăng Long, vốn là “thượng đô muôn đời của Đại Việt”.

  • TỪ LONG ĐỊA CUỘC…

Sách “Đại Nam nhất thống chí”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chép (Việt dịch): “Kinh sư [Huế] là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam, miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trước, núi cao ngữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi ấy, là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua” (quyển 1).

Từ góc nhìn của Dịch lý và thuật phong thủy, xứ Huế là là “cuộc đất của rồng”, xứng đáng được chọn làm kinh đô của một nước Việt Nam thống nhất sau hơn gần 2,5 thế kỷ bị phân tách Đàng Ngoài – Đàng Trong. Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã đánh giá Phú Xuân (tên cũ của Huế) có “thế đất bằng phẳng như bàn tay, rộng hơn 10 dặm, ở giữa là chính dinh, đất cao bốn bên đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng, ở vị trí càn (tây bắc) trông về hướng tốn (đông nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông, đằng trước là quần sơn chầu về la liệt”, là nơi “có năm lần hổ thủy ôm đằng trước… có ba lần long sa ngăn bên tả”.

Xứ Huế là trung tâm của miền Trung, phía tây có Trường Sơn hùng vĩ che chắn, cuồn cuộn tuôn theo mạch đất nhằm hướng tây bắc – đông nam; phía đông có biển cả bao la, lại nằm trên lưu vực của hệ thống sông Hương – sông Kim Long – sông Bạch Yến; phía nam có núi chắn, phía bắc có sông giăng, xét quan điểm của thuật phong thủy, tất phải có long mạch. Sông Hương là một dòng sông chảy ngược từ phía nam lên phía bắc. Phía nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lưu ở thượng nguồn sông Hương, nơi có những ngọn núi cao, trong đó có Thương Sơn (núi Kim Phụng) là chủ sơn của xứ Huế. Nhìn rộng ra, cả khu vực đồi núi phía Tây của xứ Huế đều bắt nguồn từ những nhánh núi của dãi Trường Sơn tạt ngang ra biển, tạo nên một đại địa cục, phong thủy gọi là hoành long.

Dòng sông Hương trước khi ra đến biển cũng đã uốn lượn, đổi hướng nhiều lần, trước khi ôm trọn cuộc đất, mà về sau được vua Gia Long lựa chọn để xây đắp Kinh Thành Huế. Theo sách “Địa đạo diễn ca” của Tả Ao, một cuộc đất có long mạch uốn lượn, gấp khúc càng nhiều thì địa cuộc ấy càng có nhiều sinh khí. Vua Gia Long đã lựa chọn địa cuộc ấy để kiến tạo diện mạo của kinh đô, với đầy đủ các yếu tố: tiền án (núi Ngự Bình), tả thanh long (cồn Hến), hữu bạch hổ (cồn Dã Viên), triều củng, minh đường, thủy đáo điện tiền… Nói xứ Huế có long địa cuộc là vậy.

Có lẽ vì thế mà Nguyễn Đức Quán, một viên quan thời Nguyễn khi viếng thăm điện Huệ Nam, một thắng tích của xứ Huế, chỉ bằng hai câu thơ đã miêu tả trọn vẹn thần sắc của non nước thần kinh:

Sông xanh uốn khúc thân rồng lượn

Núi thẳm nhìn theo dáng cọp ngồi

… ĐẾN VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG

Thăng Long là kinh đô của các triều đại: Lý – Trần – Hồ – Lê sơ – Mạc – Lê Trung Hưng trong gần 8 thế kỷ (1010 – 1789), là vùng đất “rồng bay lên”. Huế là kinh đô của vương triều Nguyễn chỉ trong 143 năm (1802 – 1945), lại là vùng đất hội tụ của rồng. Bởi lẽ, trong gần 1,5 thế kỷ nhà Nguyễn cầm quyền ở Huế, vùng đất này đã trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và nghệ thuật lớn nhất Việt Nam / Đại Nam. Và đó là lý do để hình tượng con rồng hiện diện khắp nơi trên đất Huế và tồn tại cho đến ngày nay.

Con rồng xuất hiện ở trong không gian, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… xứ Huế, với đủ loại chất liệu, nghệ thuật thể hiện, đề tài trang trí, và ý nghĩa biểu đạt.

Về không gian, rồng có mặt trên các đền đài, cung điện, miếu vũ, đình chùa ở trong và ngoài hoàng cung Huế. Rồng xuất hiện ở bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm, đầu hồi, máng xối, bình phong, bậc cấp, vì kèo, khung cửa, nghi môn… của các công trình kiến trúc. Rồng trang trí trên Cửu đỉnh, ngai vàng, bửu tán, án thờ vua quan thời Nguyễn. Rồng làm thành tay núm các con triện, ấn tín, đồ văn phòng tứ bảo… Rồng là họa tiết trang trí trên áo quần, mũ mão, giày dép của các bậc đế hậu, hay có khi là một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt trong các sân chầu, đình viên như hai tượng rồng trước sân Duyệt Thị Đường. Rồng còn xuất hiện trên Cửu vị thần công hay là những hoa văn trên các khẩu súng điểu thương của vua Thiệu Trị, hiện vẫn lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế… Người ta có thể bắt gặp hình tượng con rồng ở bất kỳ nơi nào của xứ Huế: trong cung điện vàng son lộng lẫy, chốn lăng tẩm thâm nghiêm, nơi đình chùa miếu vũ bình dị ở các làng quê ven Huế, ở những tượng đài uy nghi, kiến trúc đồ sộ, hay ở những bến sông hay bậc thềm trong công viên…

Về chất liệu, con rồng thời Nguyễn có thể được đúc bằng đồng, chạm trổ trên đá, điêu khắc trên gỗ, xương, ngà và các loại vàng bạc đá quý. Rồng xuất hiện trên vải, lụa trong y phục, mũ mão của vua quan, phi tần. Rồng làm bằng đất nung trong điện Ngưng Hy ở lăng vua Đồng Khánh; đắp bằng vôi vữa ở lăng vua Gia Long hay ở Thế Tổ Miếu; ghép bằng sành sứ và thủy tinh trong cung Thiên Định ở lăng vua Khải Định; làm bằng pháp lam trên bờ nóc và bờ quyết điện Hòa Khiêm ở vua lăng Tự Đức… Rồng là họa tiết trang trí trên đồ sứ ký kiểu, trên tranh treo tường bằng giấy trong Thái Bình Lâu hay trên tranh gương trong điện Biểu Đức ở lăng vua Thiệu Trị…

Nghệ thuật thể hiện con rồng thời Nguyễn ở Huế thực là đa dạng: chạm lộng, chạm nổi, đúc đồng, gia công bằng vàng bạc, đá quý, khảm cẩn bằng trai, sành sứ, dệt thêu trên vải, vẽ bằng bột màu trên giấy, trên đồ sứ, chế biến từ rau củ thành những món ăn sang trọng trong ẩm thực cung đình Huế… Khi thì tạo thành hình khối, lúc lại thể hiện trên bề mặt phẳng, lúc khác lại vẽ chìm dưới lớp men phủ. Thực là thiên hình vạn trạng.

Đề tài thể hiện cũng là một nét đặc sắc khi nói về rồng thời Nguyễn. Các motif: lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nhật, long hí thủy, hồi long, viên long, long truy, long phụng, long lân, long thọ, long vân khánh hội, trúc hóa long, cúc hóa long… xuất hiện ở hầu khắp các di tích kiến trúc, các tác phẩm trang trí, nghệ thuật thời Nguyễn hiện đang được bảo lưu ở Huế.

Con rồng đã vượt khỏi chốn cung đình và hiện diện khắp nơi trên xứ Huế, trở thành một nét văn hóa, một biểu tượng nghệ thuật của cố đô Huế. Ngoài những hình tượng rồng mang biểu trưng của đế vương: uy nghi và cầu kỳ, xứ Huế còn có những con rồng đã được “dân dã hóa” thành những con giao, con cù… bình dị, xuất hiện ở nơi đình làng, chùa miếu dân gian. Và đôi khi, những con rồng “dân dã” này lại sống động hơn, giàu tính biểu cảm hơn những con rồng uy nghi ở chốn cung đình. Đây chính là điều tạo nên sự thú vị cho ai đó khi họ tìm đến Huế để tham quan, khám phá và tìm hiểu về “vùng đất của rồng.

Năm 2024 là năm Giáp Thìn – năm của con rồng, người viết bài này ước mong những con rồng Huế sẽ bước ra từ văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc…, sẽ cất cánh từ thế đất long địa cuộc, biến thành biểu tượng trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa…, để xứ Huế thực sự “hóa rồng” trong tương lai.

T.Đ.A.S.

PHẠM NGỌC THẢO, NHÀ TÌNH BÁO PHI THƯỜNG VÀ CUỘC ĐỜI BI TRÁNG !

* Hoàng Hải Vân

“Trong lịch sử tình báo ta, câu chuyện ly kỳ như Phạm Ngọc Thảo là hãn hữu, nếu bỏ qua không nghiên cứu đến nơi đến chốn là thiếu trách nhiệm đối với công cuộc tích tụ kho tàng tình báo Việt Nam”

(Lời tướng Nguyễn Đức Trí,
nguyên Thủ trưởng Cơ quan tình báo Miền)

Tấm hình đăng kèm theo đây do nhà báo Chin Kah Chong của hãng tin Pan-Asia Newspaper Alliance (PANA News) của Nhật Bản chụp Phạm Ngọc Thảo mang lon đại tá quân đội Sài Gòn lúc chỉ huy cuộc đảo chính ngày 19.2.1965 lật đổ chính quyền Nguyễn Khánh. Ông Chin đã gửi tặng tấm hình cho chúng tôi trong dịp sang lại Việt Nam cách đây không lâu. Ông bảo ông đã hai lần gặp Phạm Ngọc Thảo, ông kể lại không khí của cuộc đảo chính mà ông trực tiếp chứng kiến hồi đó, nhưng ông không lý giải được về hoạt động của vị đại tá này dù ông rất ngưỡng mộ.

Cho đến nay, Phạm Ngọc Thảo vẫn còn là một bí ẩn khó có thể giải mã. Không phải vì xung quanh ông vẫn còn những bí mật quân sự, cũng không phải xung quanh ông có những điều “nhạy cảm” khó nói. Khó giải mã là do tầng tầng lớp lớp những biến cố lịch sử, những quan hệ, sự thiên biến vạn hóa của chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật, nghệ thuật chiến tranh tồn tại trên chiến trường, trên chính trường và trong cuộc sống nhưng nằm ngoài sách vở và các bản tổng kết.

Sau khi bộ phim nổi tiếng “Ván bài lật ngửa” bắt đầu công chiếu từ năm 1982, khi biết nhân vật Nguyễn Thành Luân được nhà văn Trần Bạch Đằng xây dựng dựa trên nguyên mẫu là Phạm Ngọc Thảo, những giai thoại về Phạm Ngọc Thảo dần dần lưu truyền rộng rãi trong dân chúng. Nhà văn – nhà cách mạng Trần Bạch Đằng từng là Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ, là một trong số rất ít người biết rất rõ Phạm Ngọc Thảo, nhưng Ván bài lật ngửa vốn là một cuốn tiểu thuyết được dựng thành phim, tất nhiên Nguyễn Thành Luân dù mang dáng dấp Phạm Ngọc Thảo nhưng vẫn là một nhân vật hư cấu. Lúc ấy ngôi mộ của Phạm Ngọc Thảo vẫn chỉ là một nấm mồ vô danh.

Mãi đến ngày 30.8.1995, đại tá QĐND Việt Nam, liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo mới được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lý do của sự chậm trễ này chưa bao giờ được công bố chính thức.

Sau năm 1987, báo chí trong nước có viết một số bài về Phạm Ngọc Thảo, nội dung còn sơ lược, chủ yếu dựa vào lý lịch và bản thành tích được công bố. Trong khi ở nước ngoài, nhiều người từng ở “phía bên kia” quen biết Phạm Ngọc Thảo cũng viết về ông, bên cạnh việc thuật lại các góc độ khác nhau những sự kiện mà họ chứng kiến là những phỏng đoán, nhất là sự phỏng đoán xung quanh 2 vấn đề mà họ không giải thích được: Vì sao mãi tới 12 năm sau ngày hòa bình Nhà nước Việt Nam mới chính thức công nhận Phạm Ngọc Thảo là “người của mình”? Nếu Phạm Ngọc Thảo là tình báo “Việt cộng” thì khi cuộc đảo chính tháng 2.1965 thất bại, ông hoàn toàn có thể chạy ra căn cứ một cách an toàn, nhưng vì sao ông không đi mà ở lại tại một xứ đạo để cuối cùng phải chết một cách bi thảm?

Không thể đem những lý lẽ thông thường để luận giải cuộc đời bi tráng của người anh hùng phi thường này. Giữa một rừng gươm giáo hiểm ác, ông như một nghệ sĩ xiếc đi trên dây, bên phải thì địch muốn giết, bên trái thì ta cũng muốn giết. Ông hiên ngang lật ngửa ván bài và “chơi” tới tận cùng. Địch coi ông là tên “Việt cộng” nằm vùng nguy hiểm, ông không ngại, thậm chí còn viết báo công khai ca ngợi tinh thần vì dân vì nước của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chống Pháp. Ngại nhất là ta, bởi vì ngay tại Tổng hành dinh chỉ huy kháng chiến cũng chỉ vài người được biết ông là người của ta, nên khi ông thả hàng ngàn tù chính trị, cơ quan chỉ huy kháng chiến cấp dưới lập tức kết luận ông là tên tỉnh trưởng mị dân nguy hiểm nhất cần phải trừ khử. Ông đã nhiều lần thoát chết, không phải do sự nương tay của ta, mà do may mắn.

Sinh thời cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bao giờ cũng rơm rớm nước mắt mỗi khi nhắc đến Phạm Ngọc Thảo. Ông bảo Phạm Ngọc Thảo do đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ ở lại miền Nam làm tình báo chiến lược, không phải để cung cấp tin tức, mà đi sâu vào hàng ngũ cao cấp của chính quyền Sài Gòn nhằm xoay chuyển thời cuộc, chuẩn bị cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đối với ông Võ Văn Kiệt, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo kiệt xuất, là người anh hùng hội đủ nhân, trí, dũng. Ông vẫn tiếc là không cứu được Phạm Ngọc Thảo mặc dù ông đã làm hết cách.

Còn ông Mười Hương thì vừa nói đến Phạm Ngọc Thảo đã khóc như một đứa trẻ. Lần đầu gặp ông, khi chúng tôi hỏi vì sao Phạm Ngọc Thảo được công nhận liệt sĩ và phong anh hùng chậm như vậy, ông nức nở: “Phong anh hùng 10 lần cho Phạm Ngọc Thảo cũng xứng đáng, nhưng chưa thể được, vì vợ con Thảo đang ở Mỹ. Khi chiếu phim Ván bài lật ngửa, tôi gọi cho ông Trần Độ (lúc ấy làm Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ T.Ư) bảo hãy cấm cái phim đó đi, đừng làm hại vợ con Phạm Ngọc Thảo”. Ông Phạm Xuân Ẩn từng nói với chúng tôi rằng, sau khi Phạm Ngọc Thảo bị giết chết, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã đề nghị chính quyền Mỹ trục xuất vợ con ông Thảo, lúc đó ở Mỹ có một cuộc vận động bảo vệ vợ con ông Thảo, ngay cả những nhà báo Mỹ chống cộng cũng phản đối sự trục xuất này, vì vậy mà vợ con ông Thảo vẫn bình an vô sự cho đến bây giờ.

Sự lo xa của ông Mười Hương là tình nghĩa rất đáng trân trọng. Giọt nước mắt của ông đủ để giải thích lý do vì sao Phạm Ngọc Thảo chậm được thừa nhận một cách công khai. Quốc gia đại sự không bao giờ bỏ sót cái tình, và suy cho cùng cũng vì cái tình mà có quốc gia đại sự.

HOÀNG HẢI VÂN

Trên đây là phần mở đầu của loạt ký sự nhiều kỳ về nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo đăng trên Thanh Niên năm 2012.

Trước khi viết loạt bài này, ngoài việc nghiên cứu những tài liệu ghi chép từ các nhà tình báo lão thành hoạt động trong mạng lưới tình báo Miền, tôi đã có dịp tiếp xúc với ông Mười Hương (Trần Quốc Hương), nguyên Bí thư T.Ư Đảng, người trực tiếp tổ chức hoạt động cho những nhà tình báo lừng danh Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ… sau Hiệp định Genève, trao đổi với cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, với ông Sáu Trí, ông Mười Nho (người phụ trách công tác tình báo đặc khu Sài Gòn – Gia Định đầu những năm 1960), chúng tôi còn gặp 1 trong 2 nhân vật được Tỉnh ủy Bến Tre giao nhiệm vụ ám sát Phạm Ngọc Thảo. Chúng tôi cũng đã có dịp nói chuyện với cựu Phó tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Nguyễn Cao Kỳ, người lên chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp T.Ư (Thủ tướng) ngay sau khi cuộc đảo chính năm 1965 thất bại. Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo nhiều tài liệu liên quan đến ông Thảo trên báo chí Sài Gòn trước năm 1975.

Loạt ký sự đăng trên Thanh Niên mới là một phần của những câu chuyện ly kỳ về Phạm Ngọc Thảo. Tôi đang viết tiếp để in thành một cuốn sách dựng lại chân dung đầy đủ hơn của ông trong sự chuyển động về chính trị – quân sự trên chính trường và chiến trường miền Nam 20 năm trước 1975.

NGUYỆN CHO NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ DANH VỌNG ĐỪNG KHỞI LÊN TRONG CON, DÙ TRONG GIÂY LÁT !

Trong một huấn từ nói với giáo dân mới đây, dẫn hình ảnh một số người giăng biểu ngữ đứng phát gạo cho người nghèo, đức Tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng nhắc nhở : “Cho người ta 20 kg gạo, quý lắm. Nhưng tại sao phải giăng biểu ngữ, tại sao mình phải đứng đấy (cho người ta thấy) ? Nếu là lòng thương người thật thì cứ âm thầm phát gạo cho người ta thôi. Coi chừng đấy, biết đâu, tôi nói biết đâu chứ không dám khẳng định hết, biết đâu mình kinh doanh người nghèo, mình lợi dụng người nghèo để mình đánh bóng mình. Phải hết sức cẩn thận, phải xem mình làm việc đó có phải từ động lực Caritas, xuất phát từ trái tim đầy Chúa hay không ? Biết đâu trong lòng chúng ta có chút gì đó tự hào tự mãn vì mình đã làm việc bác ái”.

(Hình Đức Phật mẫu Tara)

Lời Đức Cha Năng không khác lời các đạo sư Phật giáo Kim cang thừa dạy đệ tử. Trong những lời cầu nguyện của đệ tử Kim cang thừa có câu này :

“Nguyện cho những tư tưởng về danh vọng, về sự tôn kính, niềm vinh hạnh, và những ưu tư về đời sống này đừng khởi lên trong con dù chỉ trong giây lát!”.

Nhiều nhà sư tỏ lòng ngưỡng mộ Đức Chúa Jésus, nhiều vị linh mục ngưỡng mộ Đức Phật Thích Ca. Đối với họ, Thiên Chúa là hiện thân của Phật và Phật là vĩnh hằng trong nước Trời của Chúa. Đại sư Kim Cang thừa Garchen Rinpoche nói với đệ tử rằng hình ảnh Đức Mẹ Maria chính là hiện thân của Phật mẫu Quán thế âm Tara. Là một Phật tử, khi nghe những lời đó và nghe những lời Đức Cha Năng, tôi thấy trong lòng thật bình an.

Các tôn giáo đều hướng thiện theo những con đường khác nhau. Các Phật tử, các Ki-tô hữu và đạo hữu của các tôn giáo khác đều hành trì để giữ gìn, bồi đắp thiện căn trong lòng mình. Con người chỉ sống được với nhau, yêu thương dung chứa lẫn nhau khi trong lòng có đủ thiện căn. Thế giới chỉ có thể hòa bình, dân tộc chỉ có thể đoàn kết khi đạo hữu của tôn giáo này không bài bác tôn giáo khác.

HOÀNG HẢI VÂN