Vượt lên số phận

Chàng trai đẹp đẽ và thông minh đứng cạnh mẹ tại khuôn viên của tập đoàn IBM là Trần Tôn Trung Sơn, người đã tốt nghiệp đại học Harvard danh tiếng ngành công nghệ thông tin. Và nay con cũng đang làm việc cho tập đoàn này sau khi vượt qua kỳ thi có nhiều ngàn ứng viên tham gia phỏng vấn và Hội đồng giám khảo vòng cuối có 8 người xét tuyển.

Nay Sơn được thăng chức quản lý vùng ở Atlanta, tiểu bang GA, Mỹ. Con là một người khuyết tật và có ba mẹ là nông dân nghèo quê ở Quảng Trị, ven dòng Bến Hải.

Khi sanh ra, con có thân hình không bình thường, một bàn tay bị cụt lủn và chỉ có 2 ngón. Sanh con xong thấy mệt mỏi vì dị nghị và cũng vì mưu sinh, ba mẹ con đã bồng con khi đó 20 ngày tuổi, lên đường vào Sài gòn.

Ba năm liền cả nhà sống vô gia cư, trải chiếu trong công viên Tao Đàn để ngủ. Ban ngày con được gửi vô làng Hòa Bình tại bệnh viện Từ Dũ, ban đêm đón con về ngủ cùng. Và hy vọng một ngày kia sẽ cho con ăn học thành tài. Nhưng 7 năm sau, ba mẹ Sơn mới đủ tiền thuê phòng trọ cho cả nhà. Mà sau đó xin học cho con là cả một gánh nặng vì không trường nào nhận bé khuyết tật. Ba con phải gõ cửa từng trường cho tới khi Hiệu trưởng trường tiểu học Vạn Hạnh quá xúc động và nhận con.

Trường học cách 20 km, anh Trần Sơn phải xin làm ở một chỗ gần trường để đưa đón con. Tan trường, anh lại chở con trai đến nhà một cô giáo dạy trẻ khuyết tật cách đó 15 km để luyện viết chữ. Phải đến tận 9 giờ tối hai cha con mới về tới phòng trọ, ngày nào cũng vậy. Sơn phải tập viết bằng bàn tay không lành lặn. Đau đớn và khổ sở bao nhiêu cũng không làm con nản chí.

Cậu bé Sơn rất thông minh và chăm chỉ. Năm lớp 5, con là một trong 5 học sinh xuất sắc nhất Quận Tân Bình, thủ khoa khi thi vào lớp chuyên Anh Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Đại Nghĩa, đậu vào Trường phổ thông Năng khiếu của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và trở thành học sinh xuất sắc của trường.

Không chịu lùi bước trước số phận, Sơn quyết tâm du học. Con nhận được học bổng 2 năm cuối cấp của một trường trung học tại Mỹ và lên đường. Tại Mỹ, con ráng học thiệt giỏi và tham gia rất nhiều hoạt động thiện nguyện tại châu Phi, dạy học cho trẻ em nghèo, gây quỹ giúp đỡ người vô gia cư. Và con nạp đơn vô Harvard để học đại học.

Bài essay của con có tên “Nhìn đời qua bàn tay” đã khiến cho Ban tuyển sinh phải rơi lệ, con được nhận học bổng toàn phần và học công nghệ thông tin:

“Khi còn là đứa trẻ, bàn tay này đã víu chặt mặt đất để giúp tôi cân bằng. Nó đã nắm chặt lại để giúp tôi có những cú đấm mạnh nhất khi chơi võ. Nó bám chặt vào thành chiếc xe đạp đua 4 bánh của tôi. Khi lớn lên, bàn tay này đã chịu đau đớn viết nên những con số, những nét chữ cho đến khi tôi có thể viết nên bài luận đầu tiên của mình về mẹ. Sau này, nó đã cầm bút để diễn tả những suy nghĩ tôi có trong đầu và giúp tôi giải những bài toán khó. Bàn tay duy nhất này đã từng tháo rời chiếc xe đạp của bố tôi ra để xem nó hoạt động thế nào, giúp tôi xoay tròn chiếc thước lên không trung giống như các nhà sư Thiếu Lâm, hay thích thú vẽ nên những bức tranh người quen. Nó đã cầm viên phấn khi tôi dạy toán cho trẻ em nghèo, gõ lên bàn phím khi tôi làm việc cho một công ty máy tính trong kỳ nghỉ hè, và nắm lấy tay của bất cứ ai tôi gặp…

Những chiếc ghế công viên đã trở thành ngôi nhà mới của chúng tôi, nơi hành trình của tôi bắt đầu. Bố tôi làm việc cả ngày trong nhà hàng, trên lưng vừa cõng tôi vừa rửa bát đĩa và lau chùi nhà vệ sinh. Đêm đến, hai cha con tôi ngủ trên bất kỳ chiếc ghế nào tìm thấy. Để giữ ấm cho tôi, bố tôi cởi áo trải lên ghế và ôm chặt lấy tôi… Trong ba năm, bố tôi chưa một đêm ngủ yên. Trong ba năm đó, ông đã không ngừng từ bỏ hy vọng sẽ tìm ra cuộc sống tốt hơn cho tôi”

___

Tôi viết bài này và khóc rất nhiều. Cháu Sơn là một tấm gương của nghị lực cho các con là học sinh. Còn ba mẹ cháu là tấm gương cho các ba mẹ hãy dũng cảm sống thật tốt, làm ăn lương thiện để giúp con ăn học thành tài.

Có chí thì nên. Vì sao nhiều gia đình có bao cơ hội mà các con không chịu ăn học tử tế ? Và có nhiều gia đình chỉ cần cố một chút, các con cố thêm một chút, cũng sẽ đổi đời mai sau.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Tại sao tờ 100 USD lại in hình chân dung Benjamin Franklin?

Bạn có biết ?
Tại sao tờ 100 USD lại in hình chân dung Benjamin Franklin?

Nhiều người Việt nam thích tờ 100 đô của Mỹ, nhưng chắc không mấy ai tò mò tự hỏi:

  • Chân dung trên tờ tiền này là ai ?

Một số người đoán có lẽ đó là một vị Tổng thống nào đó của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Thực ra đó không phải chân dung của Tổng thống nào của Hoa Kỳ, mà là chân dung của một người đóng vai trò quan trọng trong Lịch sử Hoa Kỳ còn hơn hầu hết các Tổng thống.

Đó là một người khổng lồ của lịch sử nhân loại. Một người đa tài. Một nhà phát minh và sáng chế hàng đầu. Một nhà kinh doanh tài ba. Một nhà tư tưởng xuất sắc. Một chính khách lỗi lạc. Một trong những ‘Người Cha Lập Quốc’ (Founding Fathers) và Anh hùng dân tộc của Hoa Kỳ. Trong lịch sử nhân loại khó có ai có thể sánh được về tài năng và ảnh hưởng với con người này. Ông là BENJAMIN FRANKLIN.

Benjamin Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại phố Milk, Boston. Cha Ông, Josiah Franklin, là người làm nến, xà phòng và bán hàng tạp hóa. Mẹ ông là vợ thứ hai của Josiah. Benjamin là con thứ 15 trong 17 người con của cha mình.

Do việc làm ăn của người cha sa sút, năm lên 10, Benjamin buộc phải thôi hẳn việc học ở trường. Năm 12 tuổi, Ben bắt đầu làm công việc của một thợ in cho xưởng in của anh trai James. Do ham học, cậu đọc ngấu nghiến mọi thứ sách báo cậu có được.

Năm 1721, James Franklin lập ra một tờ báo lấy tên là New England Courant. Đây được coi là tờ báo độc lập đầu tiên ở xứ sở này. Khi đó, Ben tỏ ý muốn làm một người viết bài cho báo nhưng bị từ chối.

Cậu bèn gửi bài theo bưu điện với bút danh là Mrs Silence Dogood, có vẻ như của một mệnh phụ. Và thật bất ngờ, những bài của cậu đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Nó nêu ra những vấn đề xã hội mà rất nhiều thành phần quan tâm. Tuy nhiên, James đã rất khó chịu khi phát hiện ra tác giả của những bài viết này chính là thằng oắt em trai mình !

17 tuổi, Benjamin bỏ nhà tới Philadelphia để tìm việc làm. Những năm sau đó, chàng trai phải vật lộn mưu sinh. Chứng kiến sự trì trệ của xã hội, năm 1727, Franklin lập ra một hội lấy tên là Junto, gồm “những người thợ và thương nhân hy vọng hoàn thiện chính mình đồng thời hoàn thiện cộng đồng”.

Việc xuất hiện của Junto châm ngòi cho phong trào hình thành các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác nhau ở Philadelphia. Một trong những hoạt động quan trọng của Junto là đọc sách.

Để có nhiều sách cho mọi người đọc, Franklin đã lập ra Library Company of Philadelphia (Công ty thư viện Philadelphia). Tiền mua sách do các hội viên đóng góp và các độc giả trả phí khi mượn sách. Công ty này vẫn tồn tại cho đến ngày nay và trở thành một trong những thư viện vĩ đại nhất thế giới.

Năm 1730, Franklin thành lập xưởng in của riêng mình, đồng thời lập ra tờ báo The Pennsylvania Gazette. Tờ báo này nhanh chóng trở thành diễn đàn bàn về việc cải cách xã hội. Với tư cách chủ bút và là người viết những bài quan trọng đề xuất những tư tưởng cách mạng, Benjamin Franklin nhanh chóng có được uy tín của một nhà cải cách thông thái.

Cùng năm, Franklin nhận là cha của một đứa bé tên là William và không cho biết mẹ nó là ai. Ông đã nuôi William cho đến khi người này trưởng thành và được chính Ông dàn xếp để làm thống đốc New Jersey rồi trở thành nhân vật hoàn toàn bất đồng chính kiến với Ông: William là người bảo hoàng, trong khi Benjamin Franklin là nhà cải cách.

Tháng 9 năm đó, Franklin kết hôn (không hôn lễ) với bà Deborah Read, người đã từng có 2 đời chồng. Sau này, họ có với nhau 2 người con. Năm 1731, Franklin trở thành một trong những nhà lãnh đạo của Hội Tam Điểm ở Mỹ. Ông bắt đầu viết sách về tôn chỉ và hoạt động của hội này.

Năm 1743, Ông sáng lập Hội Triết Học Mỹ. Trong những năm tháng đó, vốn kiến thức mà ông tích lũy được về khoa học và kỹ thuật đã đưa Ông lên tầm một nhà khoa học thực thụ.

Ông phát hiện ra là có 2 loại điện và gọi chúng là điện âm và điện dương. Ông nêu ra nguyên lý bảo toàn điện tích. Ông phân loại được các chất thành chất dẫn điện và chất cách điện, nhờ đó đã không gặp nguy hiểm về tính mạng khi thu điện từ các đám mây.

Ông là người đầu tiên phát hiện ra sự khác nhau giữa hướng gió trong cơn bão và hướng di chuyển của cơn bão, một điều rất quan trọng đối với dự báo bão. Ông tìm ra nguyên lý làm lạnh bằng hiện tượng bay hơi và đã tạo ra được nhiệt độ âm 14 độ C trong môi trường mùa hè bằng cách cho ether bay hơi.

Ông có những sáng chế đi vào lịch sử khoa học kỹ thuật. Trong số đó có:

  • Cột thu lôi,
  • Kính 2 tròng,
  • Ống thông tiểu mềm,

Năm 1753, Franklin được trao tặng Huy Chương Copley của Hội Hoàng Gia Anh giống như Viện Hàn lâm Khoa học..

Năm 1762, Ông được Đại học Oxford trao bằng tiến sĩ danh dự.

Trong đời sống xã hội, Franklin cũng có những đóng góp lớn lao. Ông đã:

  • Lập ra công ty cứu hỏa đầu tiên tại Mỹ;
  • Thành lập viện hàn lâm Philadelphia .Thực chất là trường đại học.
  • Cùng với Tiến sĩ Thomas Bond thành lập bệnh viện Pennsylvania .Bệnh viện đầu tiên ở Mỹ ;

Cuối thập niên 1740, Franklin bắt đầu các hoạt động với tư cách quan chức chính quyền. Ngoài các chức vụ trong chính quyền thành phố và vùng Pennsylvania .Khi đó chưa phải là một bang của HCQ Hoa Kỳ, vì chưa có liên bang. Ông còn đảm nhiệm công tác ngoại giao với Anh Quốc và Pháp..

Năm 1751, Ông được bầu vào quốc hội Pennsylvania.

Năm 1754, Franklin lãnh đạo phái đoàn Pennsylvania tham gia Đại hội Albany. Tại đó, Ông đưa ra một tuyên ngôn về Liên Minh Thuộc Địa. Mặc dù tuyên ngôn không được thông qua, nhưng nó là cơ sở về tư tưởng cho Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc sau này.

Từ 1757 đến 1762, Franklin sống ở Anh để giành tâm lực cho cuộc đấu tranh chống lại các đặc quyền đặc lợi của một số nhân vật Hoàng Gia Anh tại Mỹ và đòi quyền lợi kinh tế và chính trị cho các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ.

Năm 1763, Franklin thay mặt chính quyền Pennsylvania đứng ra dẹp một cuộc nổi loạn. Những người tham gia cuộc nổi loạn này khi đó đang tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo đối với những người Indian Mỹ ,người ‘da đỏ’.

Như vậy, Franklin đã giúp người Indian Mỹ tránh được một cuộc thảm sát. Sau vụ đó, Franklin lớn tiếng lên án những quan điểm phân biệt chủng tộc hiện đang khá phổ biến trong dân chúng gốc Âu.

Trong các năm từ 1764 đến 1774, Franklin liên tục có mặt ở châu Âu để vận động cho công cuộc giải phóng thuộc địa Mỹ khỏi sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Đến năm 1775 thì Ông trở thành phần tử nguy hiểm nhất trong mắt Hoàng Gia Anh. Tháng 3 năm đó, Ông rời Anh Quốc trở về Mỹ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1775, chiến tranh cách mạng Mỹ bắt đầu. Trong cuộc chiến này, một số vùng mà sau này là các bang đã liên kết với nhau chống lại sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Franklin được chọn làm đại diện của Pennsylvania tham gia Đại Hội Thuộc Địa lần 2.

Năm 1776, Franklin tham gia một ban gồm 5 người soạn thảo TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP trên cơ sở bản của Thomas Jefferson. Tháng 12 năm 1776, Franklin tới Pháp với tư cách công sứ Hoa Kỳ và làm việc tại đó mãi tới 1785.

Trong thời gian đó, Ông đã thuyết phục chính quyền cộng hòa Pháp tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Uy tín của Ông ở Pháp lớn đến mức việc treo chân dung của Ông trong nhà trở thành mốt. Một người là le Ray Chaumont đã thuê họa sĩ Duplessis vẽ chân dung ông.

Đến nay, nguyên bản của bức chân dung này vẫn còn được treo trong Phòng Tranh Chân Dung Quốc Gia ở Washington DC, và đó chính là bản gốc của chân dung Ông trên tờ 100 đô Mỹ.

Năm 1785, khi trở về Mỹ, Franklin đã trở thành người có ảnh hưởng thứ hai ở đất nước này, chỉ sau George Washington.

Những năm tháng cuối đời, Ông dành hết tâm sức cho công cuộc giải phóng nô lệ, chủ yếu là người da đen gốc Phi.

FRANKLIN LÀ NGƯỜI DUY NHẤT ĐỂ LẠI CHỮ KÝ TRONG CẢ 4 VĂN KIỆN LẬP QUỐC CỦA HOA KỲ, TRONG ĐÓ CÓ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ HIẾN PHÁP.

Benjamin Franklin cũng có năng khiếu và tham gia hoạt động nghệ thuật. Ông từng chơi mấy loại nhạc cụ và sáng tác nhạc. Ông là hội viên Hội Nghệ Thuật Hoàng Gia Anh nhiều năm. 200 năm sau, vào năm 1956, hội này đã lập ra Huy Chương Benjamin Franklin để trao tặng cho những tài năng nghệ thuật xuất sắc.
Về quan điểm Tôn giáo, Franklin tin vào Chúa Jesus.

Về đức hạnh, cả đời Ông luôn giữ vững 13 đức tính: ôn hòa, kín tiếng, ngăn nắp, quyết đoán, tiết kiệm, siêng năng, chân thành, công bằng, điều độ, sạch sẽ, tĩnh tại, giản dị, khiêm tốn (temperance, silence, order, resolution, frugality, industry, sincerity, justice, moderation, cleanliness, tranquility, chastity, humility).

Benjamin Franklin mất ngày 14 tháng 4 năm 1790 tại Philadelphia.
Thế giới trí thức

CUỘC ĐỜi BI KỊCH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI’ PHÁT MINH RA WIFI

Mẹ đẻ của nền tảng công nghệ tiền thân của Wifi, GPS và Bluetooth – Hedy Lamarr là một phụ nữ đi trước thời đại.

Bà là một nữ diễn viên xinh đẹp của Hollywood, thu hút khán giả bằng tài năng.

Không chỉ vậy Lamarr cũng là một nhà phát minh phát triển công nghệ truyền thông không dây hiện đại. Tuy nhiên, cuộc đời của bà tràn ngập cả danh vọng và bi kịch.


Sự nghiệp điện ảnh lẫy lừng:

Lamarr sinh vào năm 1914 tại thủ đô Viên, Áo. Bà là con gái của gia đình gốc Do Thái và cha là một giám đốc ngân hàng thành đạt.

Lamarr sớm thể hiện niềm yêu thích với diễn xuất và xuất hiện trong bộ phim đầu tiên “Geld auf der Strasse”, ở tuổi 16. Bà tiếp tục học diễn xuất tại Trường Sân khấu Max Reinhardt ở Berlin (Đức), nơi bà gặp và kết hôn với người chồng đầu tiên, một doanh nhân giàu có tên Friedrich Mandl.

Mandl là một tay buôn vũ khí và tham gia các thương vụ mua bán vũ khí cho Đức quốc xã và các chính phủ phát xít ở châu Âu, theo The US National Archives. Lamarr đã tháp tùng ông trong nhiều chuyến công tác và biết rõ những cuộc trò chuyện của ông với các nhà lãnh đạo quân sự và nhà khoa học. Việc tiếp xúc với giới công nghệ quân sự sau này đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Lamarr với tư cách là một nhà phát minh.

Cuộc hôn nhân của Lamarr và Mandl gặp nhiều sóng gió và cuối cùng Lamarr phải trốn đến Paris, Pháp để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Bà đã xuất hiện trong một số bộ phim của Pháp trước khi thu hút sự chú ý của nhà sản xuất Hollywood Louis B. Mayer, người đã đề nghị bà ký hợp đồng với hãng phim MGM vào năm 1937. Lamarr đến Mỹ mà không biết tiếng Anh và phải học ngôn ngữ này một cách nhanh chóng để thành công ở Hollywood.

Những bộ phim đầu tiên của Lamarr đều thành công và bà nhanh chóng nổi tiếng với vẻ đẹp và tài năng của mình. Bà đóng vai chính trong nhiều bộ phim trong suốt những năm 1940, bao gồm “Algiers” (1938), “Ziegfeld Girl” (1941) và “Samson and Delilah” (1949).

Sự nghiệp diễn xuất của Lamarr ghi dấu ấn sâu sắc, nhưng niềm đam mê thực sự của Lamarr là dành cho khoa học và công nghệ.

“Mẹ đẻ” của nền tảng công nghệ Wifi, Bluetooth, GPS:

Không ưa thích những buổi tiệc tùng và giao du với giới Hollywood hào nhoáng, Hedy Lamarr đã dành hàng đêm để mày mò, xây dựng và thử nghiệm trong nhà xưởng.

Là một người gốc Do Thái, Lamarr luôn mang trong mình mong muốn giúp Lực lượng Đồng Minh đánh bại Đức quốc xã.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Lamarr đã đồng phát triển một hệ thống dẫn đường vô tuyến cho ngư lôi của quân Đồng minh sử dụng công nghệ trải phổ và nhảy tần để tránh gây nhiễu tín hiệu dẫn đường của ngư lôi, theo The Guardian. Đáng tiếc, phát minh của Lamarr đã không được Hải quân Mỹ sử dụng trong Thế chiến thứ II, nhưng đã được dùng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (1962).

Quan trọng hơn, phương pháp chuyển đổi tần số này đã đặt nền móng cho các công nghệ liên lạc không dây hiện đại sau này như Bluetooth, Wi-Fi và GPS.

Bi kịch bị ngó lơ:

Trên thực tế, những đóng góp cho khoa học của Lamarr phần lớn bị ngó lơ vào thời điểm đó và bà ít được công nhận cho công việc của mình. Cái bóng của vai diễn quá lớn khiến nhiều người bỏ qua những đóng góp của bà cho công nghệ hiện đại.

Sau chiến tranh, Lamarr phải vật lộn để tìm kiếm chỗ đứng với tư cách là một nhà phát minh. Bà tiếp tục nghiên cứu những phát minh mới, nhưng những ý tưởng thường bị coi là lời nói “gió thoảng” của một nữ diễn viên xinh đẹp.

Phát minh công nghệ vô tuyến của Lamarr không được biết đến rộng rãi cho đến khi bà gần cuối đời, vào cuối những năm 1990 và đặc biệt thu hút sự chú ý hơn khi cáo phó của bà được công bố vào năm 2000. Kể từ đó, tin tức đã lan rộng và Lamarr đã trở thành một biểu tượng của phụ nữ trong khoa học.

Lamarr cũng phải đối mặt với một chuỗi bi kịch đời sống cá nhân. Bà đã kết hôn 6 lần và luôn kết thúc bằng ly hôn. Bà có 3 đứa con, trong đó có 1 người có chẩn đoán mắc chứng tự kỷ.

Mặc dù thành công với tư cách là một nữ diễn viên và nhà phát minh, Lamarr đã thực hiện một số khoản đầu tư và thường xuyên mắc nợ. Bà buộc phải bán nhiều tài sản để trả nợ. Bà cũng đã bị bắt nhiều lần vì các tội liên quan đến ma túy.

Năm 2000, Hedy Lamarr qua đời cô đơn trong một căn hộ nhỏ ở bang Florida (Mỹ). Di sản của Lamarr với tư cách là một biểu tượng Hollywood và nhà phát minh đột phá vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho những người theo đuổi kiến thức và đạt thành tựu bên ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.Cuộc đời bi kịch của ‘người phụ nữ đẹp nhất thế giới’ phát minh ra Wifi

Sưu tầm

NHỜ THA CHẾT CHO 1 CON BÒ GIÀ, MỘT TƯỚNG LĨNH ĐỨC ĐƯỢC SỐNG SÓT TRONG THẾ CHIẾN 2

Nhờ vào quyết định tha mạng cho con vật từng là tử thù của mình, một Tướng lĩnh của Đức quốc đã may mắn sống sót sau khi đế quốc Đức thua cuộc trong Thế chiến.
✪ Năm 1941, quân Đức đánh vào lãnh thổ nước Bỉ, khu chăm sóc sức khỏe Visuri là một trong những địa điểm bị chiếm cứ đầu tiên.
Bấy giờ, tư lệnh quân trú đóng của Đức là Thiếu tá Krupp vừa mới lên nhậm chức, liền được tham mưu trưởng là Tướng quân Liszt giao cho một nhiệm vụ hết sức kỳ lạ: Đến khu bệnh viện quân sự, bắn chết một con bò đực có tên là Kỵ Sĩ.

Nghe xong mệnh lệnh ấy, Thiếu tá Krupp hoài nghi không hiểu vì sao Tướng quân lại phải làm khó dễ một con vật như vậy.
Khi ấy, sĩ quan phụ tá liền tiết lộ nguyên nhân cho anh: Tướng quân Liszt và con bò này từng có thù oán. Đó là một trận đụng độ xảy ra trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi tướng Liszt vẫn còn là một viên Thiếu uý.

Trong trận chiến ở sông Thornton năm đó, người Bỉ đã cho 60 con bò mở đường để vượt qua bãi mìn của quân Đức. Con bò đầu đàn trong số chúng đã húc mù mắt phải của Tướng quân List. Bản thân nó cũng vì vậy mà đạp trúng mìn và bị thương một chân sau.

Cũng bởi biến cố xảy ra trong trận chiến nói trên, Tướng quân Liszt từ một quân nhân anh tuấn đã phải sống chung với một bên mắt mù cả đời. Đây chính là lý do khiến ông đem lòng căm thù với con bò đầu đàn năm ấy.

Sau đó, ông nhận được tin tức rằng kẻ thù của mình vì là con vật may mắn còn sống duy nhất trong chiến dịch năm nào nên đã được đưa tới Wesley sau chiến tranh.

Khi Thiếu tá Krupp đem người tới bệnh viện quân sự, nơi này đang chăm sóc cho các tù binh bị thương và nhốt 400 quân nhân Bỉ. Con bò Kỵ Sĩ cũng nằm trong số đó.
Không lâu sau, con vật ấy đã bị đưa tới trước mắt Thiếu tá. Đó là một con bò đực màu đen, thần thái điềm tĩnh, chân sau bên phải đã què. Nó chính là Kỵ Sĩ – một con bò già đã phải trải qua sự tang thương của chiến tranh và chứng kiến nhiều biến cố trong buổi thế thời loạn lạc.
Vào khoảnh khắc Thiếu tá Krupp rút súng lục chĩa về phía con vật ấy, toàn bộ quân nhân Bỉ đang có mặt ở đó bỗng đồng loạt la lên một cách đầy giận dữ.
Một người đàn ông gầy yếu từ trong đám tù binh bước ra, kính cẩn đi tới trước mặt Krupp và nói:
“Thưa thiếu tá, tôi là Jovak – Trung sĩ lục quân của quân đội Bỉ, cũng là người hầu của Kỵ Sĩ. Theo ‘Công ước Geneve’, ngài không thể giết con bò này, ngài phải coi nó như một tù binh chiến tranh”.
Krupp nghe xong liền không khỏi sửng sốt:
“Phải coi một con bò là tù binh chiến tranh? Ông đang đùa với tôi hay sao?”.
Jovak trịnh trọng lấy ra một tờ giấy, đưa cho Krupp:
“Mời ngài xem, đây chính là sắc lệnh chứng minh vua Leopold đã dành cho Kỵ sĩ một vinh dự”.
Thiếu tá Krupp nhận lấy tờ giấy, trên đó có viết rất rõ ràng:
“Trao tặng Kỵ Sĩ cấp bậc Thượng tá lục quân Vương quốc Bỉ, ban huy chương danh dự hạng hai, ngày 11 tháng 12 năm 1917”.
Đọc xong những dòng chữ ấy, Krupp lại càng ngỡ ngàng khi nhận ra rằng: Kỵ Sĩ là một con bò có quân tịch, hơn nữa quân hàm của nó còn cao hơn cả cấp bậc Thiếu tá mà anh đang mang.
Chiếu theo “Công ước Geneve”, anh chẳng những không có quyền bắn chết nó mà còn phải đưa nó vào trại tập trung và đối xử công bằng như với những tù binh chiến tranh khác.

Sau đó, Krupp không còn cách nào khác, buộc phải gọi điện cho Tướng quân Liszt để báo cáo về tình huống xảy ra ngoài ý muốn này.
Vị tướng ấy nghe xong, liền tức giận mà nói lớn:
“Vậy thì hãy xử lý nó một cách hợp pháp ngay trong trại tù binh. Ta không tin con bò ấy có thể an ổn ở đó mà không phạm phải bất kỳ một lỗi gì”.

● Những âm mưu chết chóc trong trại tập trung
Theo quy định quản lý của trại tù binh thuộc căn cứ Đức, nếu tù binh kháng lại mệnh lệnh một cách nghiêm trọng hoặc tìm cách chạy trốn thì có thể tiêu diệt ngay tại chỗ. Điều này đã khiến Thiếu tá Krupp nảy ra một chủ ý.

Ngày hôm đó, anh lệnh cho binh lính đưa Kỵ Sĩ và các tù binh khác tới một nhà máy sản xuất gỗ, ở đó đã có sẵn 5 xe chở gỗ da. Krupp muốn để Kỵ Sĩ kéo xe bò và chở những đống gỗ chất như núi ở trên đó.

Đối với một con bò già có cả người hầu và từng sống trong nhung lụa mà nói, chuyện khổ cực như vậy ắt sẽ khiến nó khó có thể nhẫn nhịn nổi. Chỉ cần Kỵ Sĩ có bất kỳ hành động bất hợp tác nào, các binh lính Đức sẽ sẵn sàng chọc giận nó, chờ tới khi nó phản kháng mạnh hơn thì họ có thể danh chính ngôn thuận giết chết.

Thế nhưng điều mà không ai có thể dự liệu được đã thực sự xảy ra: Kỵ Sĩ chẳng những không hề phản kháng mà còn điềm nhiên kéo từng chiếc xe gỗ nặng nề, lặng lẽ đi về phía trước.

Một chuyến, hai chuyến rồi ba chuyến… Cơ thể của nó bắt đầu đổ mồ hôi, đôi chân tập tễnh vẫn cố hết sức lết từng bước. Dù cả người lảo đảo, lắc lư, Kỵ Sĩ vẫn không hề dừng lại hay làm ra bất kỳ hành động phản kháng nào.

Khi con bò già ấy kéo đến chuyến xe thứ 50, các tù binh nước Bỉ đã không thể nhẫn nhịn, bắt đầu xôn xao bàn tán. Bấy giờ, Jovak tiếp tục đứng ra kháng nghị:
“Thưa thiếu tá, Kỵ Sĩ đã 26 tuổi, dựa theo tuổi thọ của giống loài này mà nói thì nó đã già. Ngài nhẫn tâm để một quân nhân già cả làm công việc nặng nề đến thế hay sao? Nếu cứ như vậy, nó sẽ kiệt sức mà chết. Ngài làm thế chính là đang phạm tội”.

Krupp nhíu mày một cái, sau một hồi suy nghĩ liền nảy ra chủ ý mới. Anh tiếp nhận kháng nghị của Jovak, thoải mái nói:
“Đúng vậy, hôm nay nó đã làm được khá nhiều rồi. Ngày mai hãy để cho nó nghỉ phép một hôm”.
Sang ngày hôm sau, Thiếu tá cho người dẫn Kỵ Sĩ ra cửa khu tập trung để hóng gió, lại dặn binh lính ở đó để cửa mở, cho nó tự do hoạt động.
Bên ngoài cửa khu tập trung là một bãi cỏ rộng thênh thang. Thế nhưng đường dẫn đi tới bãi cỏ ấy lại giăng đầy mìn.
Cỏ xanh đối với trâu bò mà nói chính là cám dỗ chí mạng. Chỉ cần Kỵ Sĩ dám chạy đến bãi cỏ, nó không chỉ vi phạm vào quy định cấm chạy trốn mà cũng sẽ bị mìn nổ đến tan xương nát thịt.

Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán của Krupp, Kỵ Sĩ nhanh chóng bị đám cỏ xanh mơn mởn ở bên ngoài hấp dẫn.
Nó chậm rãi tiến ra phía ngoài, thế nhưng khi đi tới một tẩm biển hiệu có hình đầu lâu cảnh báo về bãi mìn ở đây, nó liền dừng chân, một bước cũng không tiến thêm. Sau một hồi do dự, Kỵ Sĩ liền quay lại, bình thản trở về doanh khu.

Điều này càng khiến Thiếu tá Krupp thêm sửng sốt. Anh không nghĩ rằng con bò ấy lại có khả năng nhận biết cả ranh giới nguy hiểm.

Sau khi được Jovak kể lại về lịch sử chinh chiến của con vật ấy, vị Thiếu tá trẻ lại tiếp tục đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.
Kể từ sau khi bị thương trong chiến dịch ở sông Thornton, Kỵ Sĩ bị quân Đức bắt làm tù binh, phải sống cuộc sống nô dịch như súc vật trong trại tập trung suốt 3 tháng ròng rã.

3 tháng sau, nước Đức thua trận, con bò này một lần nữa trở về với người Bỉ và được quốc vương sắc phong.
Nghe xong câu chuyện ấy, Thiếu tá Krupp không khỏi xúc động khi nhận ra rằng: Hóa ra đây là lần thứ hai mà Kỵ Sĩ bị đưa vào trại tập trung của quân Đức.
Cũng kể từ đó, anh thầm đem lòng kính nể với con bò già ấy. Trong mắt Krupp, dường như Kỵ Sĩ không chỉ là một con vật đơn thuần mà đã trở thành một người lính già với những kinh nghiệm chiến đấu lão làng.

Vì vậy, anh quyết định làm trái với mệnh lệnh của Tướng quân, cho Kỵ Sĩ được hưởng đãi ngộ của một tù binh bình thường. Krupp luôn tâm niệm, chiến tranh loài người không nên trở thành lý do khiến con vật ấy bị ngược đãi hay bị sát hại…

● Người canh giữ đặc thù của Kỵ Sĩ
Một tháng trôi qua, Kỵ Sĩ vẫn đang an toàn sống trong trại tù binh. Điều này khiến cho Tướng quân Liszt vô cùng tức giận. Ông cho gọi Thiếu tá Krupp tới Bộ Tư lệnh rồi mắng cho một trận xối xả.
Trước cơn thịnh nộ của cấp trên, Thiếu tá trẻ giãi bày nói:
“Thưa Tướng quân, tôi và binh lính Đức đều có danh dự của một quân nhân. Mọi người quả thực không thể xuống tay với một con vật có chiến công như vậy. Nó dễ bảo, ôn hòa, giống như một người lính già hiền lành, đáng kính. Chúng tôi không thể tìm ra lý do để giết chết nó”.
Nghe xong những lời ấy, ánh mắt của Liszt càng đỏ lên vì tức giận.
“Tốt lắm! Nếu đây là một tù binh đặc thù, vậy thì phải có một người canh phòng đặc thù tới để trông chừng nó”.
Nói xong, Tướng quân Liszt vẫy tay ra hiệu, sĩ quan phụ tá liền dắt tới một con chó thuộc giống Béc-giê đặc trưng của Đức.
Liszt nói:
“Đây là chú chó hậu vệ của ta, nó tên là Chó Sói. Ta đã ký sắc lệnh trao tặng cho nó cấp bậc Thiếu tá lục quân. Từ ngày mai trở đi, nó sẽ phụ trách việc trông coi con bò ngu ngốc kia. Bất kể nó làm ra việc gì với con bò ấy, các cậu cũng không nên can thiệp. Đây là chuyện của động vật, hãy để cho động vật tự giải quyết”.

Thiếu tá Krupp không thể làm gì hơn ngoài việc mang Chó Sói về trại tập trung, nhốt nó chung một chỗ với Kỵ Sĩ.
Vừa nhìn thấy con bò già, Chó Sói liền hung hăng nhào tới cắn xé. Kỵ Sĩ bị nó cắn vào chân sau, dù giãy giụa thế nào cũng không thoát khỏi hàm răng sắc bén của con chó.

Máu từ chân sau của nó chảy ra xối xả. Kỵ Sĩ liền nổi giận, trợn to hai mắt, miệng phát ra tiếng gầm trầm thấp rồi đột ngột lao tới xông vào tấm lưới sắt bên cạnh.
Những thanh sắc bén nhọn đâm vào thân thể nó, cũng ghim vào cơ thể của Chó Sói. Con chó đau đớn tới mức rên rỉ, buông lỏng hàm răng đang cắn vào chân sau của đối thủ.
Kỵ Sĩ nhân đà này húc mạnh vào Chó Sói, khiến nó ngã lăn xuống đất, thống khổ kêu gào. Con bò già nâng lên hai chân trước, chuẩn bị cho đối phương một cú chí mạng.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, Thiếu tá Krupp không khỏi hốt hoảng. Nếu chú chó yêu của Tướng quân Liszt bị Kỵ Sĩ húc chết, anh sẽ chẳng biết ăn nói thế nào, mà con bò kia ắt cũng không thoát khỏi án tử.

Ngay lúc ấy thì một cảnh tượng không ai có thể ngờ được đã xảy ra: Kỵ Sĩ nhìn chằm chằm vào Chó Sói, hai chân trước vốn đang thủ thế cũng từ từ hạ xuống. Nó thở hổn hển một hồi, lặng lẽ sang góc bên cạnh và nằm xuống.

Chó Sói khi ấy mới từ từ bò dậy, sợ hãi trốn vào một góc xa nhất có thể, không dám mon men tới gần Kỵ Sĩ thêm một lần nào nữa. Khí thế hung hăng ban đầu của nó cũng đã biến mất từ lúc nào không hay.

Sau khi biết được tin này, Jovak cùng các tù binh Bỉ rối rít trách móc Krupp. Vị Thiếu tá trẻ cũng không khỏi tức giận, lớn tiếng răn đe:
“Đây là lệnh của Tướng quân Liszt. Chó Sói cũng là Thiếu tá của Đế quốc, cho nó đến quản lý Kỵ Sĩ vốn là điều hợp tình hợp lý. Các người nếu còn dám ăn nói linh tinh thì đừng trách ta không khách khí. Nên nhớ nơi này là trại tù binh chứ không phải quảng trường tự do”.
Các tù binh không thể nói gì, nhưng ai ai cũng rất mực lo lắng cho Kỵ Sĩ. Thế nhưng vào sáng sớm ngày thứ hai, khi mọi người tới thăm khu chuồng của nó, họ đã bắt gặp một cảnh tượng khó ai có thể tin nổi.
Trong chiếc chuồng rộng rãi ấy. Chó Sói và Kỵ Sĩ đang rúc vào sưởi ấm cho nhau. Hai con vật nằm cùng một chỗ với dáng vẻ hết sức bình thản, thoải mái. Không ai có thể nhìn ra được chúng đã từng là hai kẻ địch liều chết vật lộn với nhau chỉ một ngày trước đó.
Điều khiến tất cả những người ở trại tập trung ấy còn kinh ngạc hơn chính là, kể từ đó trở đi, hai con vật ấy đã trở thành những người bạn tốt.

Bất kể Kỵ Sĩ đi tới nơi đâu, Chó Sói đều sẽ vui vẻ theo sau lưng nó. Khi bắt gặp bất cứ ai la mắng người bạn của mình, chú chó ấy đều sẽ tức giận mà sủa lớn để cảnh cáo đối phương.
Thế nhưng chiến tranh và hết thảy những hiềm khích giữa các thế lực có lẽ cũng mới chỉ kết thúc giữa hai con vật ấy mà thôi…

● Màn đối đầu trong im lặng và cái kết
Khi nhận được thông báo về tình hình ở trại tập trung, Tướng quân Liszt dường như không thể tin vào tai mình. Bởi con chó mà ông từng tự tay huấn luyện giờ đây lại dễ dàng kết bạn với tử thù của chủ nhân nó.
Liszt vội vàng chạy tới trại tập trung, bản thân lại càng thêm giận dữ khi chính mắt nhìn thấy cảnh hòa thuận giữa hai con vật.
Ông lập tức hạ lệnh bắt giữ Chó Sói, đưa nó tới khu quảng trường và chuẩn bị xử tử nó bằng cách treo cổ trước mắt các tù binh.
Khi sợi dây thừng càng lúc càng siết chặt vào cổ, Chó Sói rên rỉ lên từng hồi đau đớn. Tiếng kêu của nó khiến cho Kỵ Sĩ đang trong chuồng cũng vô cùng bất an.

Đột nhiên, con bò già liều chết lao ra khỏi nơi canh giữ, trực tiếp húc ngã mấy vệ binh rồi bỏ chạy như điên về phía quảng trường.
Khi tới nơi, chứng kiến Chó Sói đang giãy giụa vì bị xiết cổ, Kỵ Sĩ liền đồng loạt húc ngã cả hàng binh lính tại đó, nhanh chóng xông lên cắn nát dây thừng trên, cứu thoát bạn mình trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc.

Chứng kiến một màn kinh động này, Tướng quân Liszt càng thêm điên cuồng. Dưới cơn thịnh nộ, ông nhanh chóng rút súng lúc ra, muốn đích thân bắn chết con bò già từng gây cho mình vết thương vĩnh viễn không thể lành lại.
Thế nhưng bản thân vị tướng ấy có lẽ cũng không thể ngờ rằng, vào thời khắc mà tiếng súng vang lên, Chó Sói đã nhanh chóng nhảy lên một cái, dùng thân mình che chở cho Kỵ Sĩ.
Sau khi lãnh trọn phát đạn từ Liszt, thân thể của nó bị bao phủ bởi màu máu. Chú chó ấy chẳng hề kêu lấy một tiếng, ngã xuống đất và nhanh chóng tắt thở.

Tất cả mọi người có mặt ở quảng trường lúc bấy giờ đều bị cảnh tượng này làm cho kinh sợ, bốn phía huyên náo bỗng chốc trở nên yên lặng như tờ.
Trong không gian tĩnh lặng ấy, chỉ có Kỵ Sĩ khẽ kêu lên những tiếng bi thương. Nó từ từ tiến về phía trước, quỳ xuống bên cạnh Chó Sói, dùng lưỡi khẽ liếm thi thể của bạn mình.
Tướng quân Liszt lại giơ nòng súng lên, ngắm thẳng vào đầu Kỵ Sĩ. Con bò già cũng không hề sợ hãi, bình tĩnh ngẩng đầu, lặng lẽ nhìn ông.

Hai bên đối đầu trong khung cảnh không một tiếng động, tựa như trở về trận chiến cách đó 23 năm về trước, mặt đối mặt, mắt hướng mắt.
Hơn 2 thập kỷ đã trôi qua, ánh mắt của tướng Liszt vẫn tràn đầy thống hận và sát ý. Vậy nhưng trong đối mắt của Kỵ Sĩ giờ đây đã không còn dã tính và sự hung hăng của năm ấy mà chỉ ánh lên sự bình thản, điềm tĩnh.

Tất cả những người có mặt ở quảng trường khi đó dường như nín thở chờ đợi tiếng súng vang lên. Thế nhưng tới 5 phút sau, cánh tay cầm súng của Liszt từ từ rũ xuống.

Vị tướng quân ấy lẳng lặng cất khẩu súng lục vào bên hông, nói với Thiếu tá Krupp đang hốt hoảng đứng bên cạnh:
“Hãy an táng cho chú chó của ta theo nghi lễ dành cho một quân nhân, và hãy đối xử tử tế với con bò này”.
Nói xong câu ấy, ông xoay người rời khỏi quảng trường trong sự im lặng và trầm tư. Mãi tới sau này, người ta mới biết được những dòng chữ mà Liszt đã ghi lại trong nhật ký của mình về ngày hôm đó:
“Thông qua ánh mắt của con vật ấy, ta đã thấy được ánh sáng từ Thượng đế…”

3 ngày sau, tất cả các trại tù binh ở biên giới nước Bỉ nhận đều nhận được mệnh lệnh từ Tướng quân Liszt:
“Nghiêm chỉnh chấp hành ‘Công ước Geneve’ trong việc đối đãi với tù binh, tuyệt đối nghiêm cấm tất cả những hành động ngược đãi và sát hại tù binh”.

Sau khi chiến tranh kết thúc, rất nhiều tướng lĩnh cấp cao của Đức đều bị hành hình trong lúc dẫn độ, chỉ có Liszt nhờ vào mệnh lệnh bảo vệ tù binh năm xưa mà được nhân dân Bỉ thông cảm.

Ông chẳng những giữ được mạng sống ngay cả khi Đế quốc đã thất thế mà còn không bị truy tố và được an hưởng những năm tháng tuổi già trong yên bình.

Khi hòa bình được lập lại, Kỵ Sĩ một lần nữa nhận được huy chương danh dự của quân đội. 3 năm sau khi chiến tranh kết thúc, nó qua đời một cách thầm lặng ở thành phố Vasili.

Vào ngày tổ chức tang lễ, những người lính từng đứng trên các chiến tuyến đối địch như Tướng quân Liszt, Thiếu tá Krupp, Trung sĩ Jovak đều tới tham dự lễ tang để tiễn đưa người quân nhân già mà họ đều từng tôn trọng và cảm phục năm xưa…

✍️Viet Chau Nguyen dịch từ báo nước ngoài

TIỄN THẦY VỀ TRỜI , LANG THANG KHẮP CÕI HƯ KHÔNG….

* Nguyễn Thế Thọ

Tôi nghe tin thầy viên tịch lúc cuối giờ chiều qua khi đang ở Cần Thơ giữa cơn mưa lạnh. Thầy Tuệ Sỹ, bậc chân tu, đại lão hòa thượng, thầy đã thành mây trời lang thang khắp cõi hư không rồi, (tôi đâu dám nói là nghe tin thầy đi, tôi buồn, mà sao tôi thảng thốt thấy lòng mình buồn thế?). Chợt nhớ rõ mồn một 4 câu thơ thuộc lòng đã chép trong tập, mấy chục năm trước, mở đầu bài Khung trời cũ. Và còn nhớ rõ hơn dáng thầy gầy nhom, áo xám thong dong đi lại trên sân trường Vạn Hạnh, nhẹ như gió như mây mà đôi mắt tinh anh, sâu thẳm, hiền, đẹp, đẹp lạ lùng khó tả…

Đám sinh viên nữ chúng tôi hồi ấy thua thầy chừng 5, 7 tuổi vẫn lén gọi thầy với một biệt danh “thầy Tuệ Sỹ mắt đẹp”. Giờ nói ra đây chắc bị mắng là lũ “thứ ba học trò” quỷ ma khùng điên bất kính mạo phạm. Nhưng hồi đó, thầy trẻ lắm, nụ cười dịu dàng, xa vắng, hơi ngượng nghịu khi bị lũ nữ sinh viên tinh quái cứ đi theo bạch thầy, bạch thầy. Tôi vào trường Vạn Hạnh năm 1969. Năm sau đã nghe tin thầy Viện trưởng Thích Minh Châu vừa bổ nhiệm một giáo sư uyên bác, cực giỏi mới 27 tuổi. Nghe lại thì đúng là “thầy hiền mắt đẹp” Tuệ Sỹ. Mà hồi đó, Vạn Hạnh qui tụ những ngôi sao trí lực siêu phàm, ngoài thầy Viện trưởng có nụ cười hiền như Phật Di Lặc còn có thầy cô như thầy Tuệ Sỹ, thầy Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, ni sư Trí Hải…
Nhiều hôm học bài trên thư viện về khuya, tôi đứng trên lầu cao, nhìn dáng thầy Tuệ Sỹ, bấy giờ đã là Tổng thư ký tạp chí Tư Tưởng, gầy yếu mong manh in trên nền trời đêm trăng mờ như một bậc tiên hiền, lẩm nhẩm trong đầu các bài thơ của thầy, nhớ những bài thầy giãng (tôi học phân khoa Khoa học Xã hội, nhưng cũng thường lén đi nghe thầy nói Pháp) mà kính phục vô song.

Đêm qua tôi thức đọc hầu hết các bài viết trên FB về thầy. Kinh ngạc, mỗi người một góc nhìn đều biết ơn thầy dạy dưỡng dù chưa lần gặp. Nhiều người là con Chúa sao hiểu và kính quí thầy Tuệ Sỹ sâu sắc đến vậy. Tôi cũng nhận được một tin nhắn thiết tha của một bạn trẻ là con Chúa, cô ơi, con muốn đến lễ tang để tưởng nhớ thầy mà con không quen ai hết, nếu cô có đi cho con đi theo với….

Đã có địa chỉ một trang web rất quí để mọi người vào đọc về thầy. Đã có bài rất cảm động và giàu thông tin của anh Mạnh Kim, một SV Vạn Hanh . Có bài về Bùi Giáng bình bài thơ “Khung trời cũ” của thầy.
Tôi nghĩ có viết một trăm trang ở đây cũng không nói hết tấm lòng kính nhớ tiếc thương bậc chân tu trong cuộc quốc tang thực chất trong tâm tưởng của người Việt đang diễn ra.
Viết bao nhiêu cũng không đủ. Tôi tạm ghi lại đây mấy điều …

-Điều 5 trong di chúc của thầy: “Nhục thân đưa đi hỏa táng. Tro bụi nhục thân đem rải ra Thái Bình Dương để được tan theo biển, bốc thành mây trời , lang thang khắp cõi hư không
Hư không hữu tận.
Ngã nguyện vô cùng.…

-Nỗi buồn của bạn thân – nhà văn Đoàn Minh Phượng, như nói giùm tôi:…”Những người mà thế hệ chúng tôi yêu thương nương tựa đang dần từng người qua đời. Buồn bao nhiêu vẫn phải học quen với chuyện này.
Mà sao lần này thảng thốt quá. Tôi như đứa nhỏ chưa học xong làm người ra làm sao đã chợt thấy mình mồ côi.”



Lòng biết ơn thầy của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình. Anh Bình là người tôi rất biết ơn vì đã tặng tôi món quà quí vô biên là bộ sách của thầy Tuệ Sỹ.
Anh viết khi nghe tin thầy viên tịch:
Với nỗi buồn khôn tả …
Có lẽ, thay đổi quan trọng nhất trong đời một người là “thay đổi nhận thức” !
Có nhiều nguyên nhân, nhiều lý do để nhận thức thay đổi … và sự thay đổi cũng có nhiều mức độ khác nhau…
Giáo lý nhà Phật dạy rằng : chúng sinh, có người suốt đời ở ngoài sáng, có kẻ suốt đời ở trong tối, có người từ trong tối bước ra sáng, cũng có kẻ từ sáng bước vào tối.
…Từ sự hiểu hiện tượng một cách nông cạn, biến thành nhận thức sâu sắc là một quá trình dẫn đến thiện duyên : được gặp trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Có thể nói không ngoa rằng : Ôn Tuệ Sỹ là người khai sinh ra tôi lần thứ hai.
Ôn Tuệ Sỹ dạy : “… Một xã hội mà không có nơi nào để cho tín tâm an trụ, xã hội ấy dễ dàng rơi vào tà kiến điên đảo. Trong một xã hội mà phẩm giá con người không được tôn trọng, trong một xã hội mà quyền lực được dựng lên không còn mục đích hòa giải những mâu thuẫn tranh chấp giữa các thành viên, từ thuở loài người khởi đầu lịch sử đấu tranh vì lợi dưỡng, vì quyền lực. Mỗi con người chỉ là một cọng cỏ yếu ớt gấp mình trước những thế lực tham tàn hung bạo. Không còn nơi nương tựa vững chắc, ngoài những bóng ma chập chờn để bám víu …”
Ngày 25 tháng 9 năm 2015, (ngày mà anh Nguyễn Thanh Bình được thầy Tuệ Sỹ truyền giới (tức qui y- KH ghi) thầy Tuệ Sỹ đã dạy: ”vì mình vẫn đang đi giữa thế tục, vẫn còn bươn chải với đời, nên khó tránh khỏi gặp chuyện này chuyện kia, nhưng đừng bao giờ quên mình là Phật tử …!”

-Và cuối cùng, xin trích lời bình của nhà thơ Bùi Giáng về bài thơ mênh mông “khung trời cũ” của thầy.
Bài thơ tôi nhắc ở trên là bài “không đề” hay là “Khung trời cũ” hay là “Khung trời hội cũ” mà Bùi Giáng phân tích và bình quá tuyệt. Xin cho phép tôi dài dòng môt chút vì bài thơ trác tuyệt này của thầy và xin trích một số đoạn của Bùi Giáng.

Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…
Có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia,lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ.
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.
Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho. Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

…Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ…
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh… Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều “phải nói” với mọi người “muốn nghe”, với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.
Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?
Mình là thân bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?
Phải có nhìn thấy gương mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

…Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng.
Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche.
Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn…
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhoà ủ rũ ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.