HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

NGUYỄN HỒNG LAM

NCGH – Lễ sớt bát – thu hụi chết mùa Vu Lan năm 2022; Trò áp vong, cúng giải vong chia ca áp giá mùa An cư Kiết hạ năm 2019; Vụ “cọng tóc ngo ngoe” bất minh năm 2023; Clip tuyên truyền nhăng cuội về xá lợi tự sinh, xá lợi máu của Phật Tổ múc lên từ nước sông Hằng nhờ đức tin mà kết thành năm 2023 đều diễn ra tại hoặc liện quan đến chùa Ba Vàng. Tất tật đều là những trò dối Phật lừa Dân, bịp bợm có tổ chức, lợi dụng niềm tin tôn giáo, gieo rắc nỗi sợ hãi và mê tín dị đoan để trục lợi, làm tiền trên sự mê muội của chúng sinh. Tất cả đều do một tổ chức núp bóng Phật môn do Thích Trúc Thái Minh – Phạm Thị Yến cầm đầu.

Suy cho cùng, gọi bằng tên gì đó cũng là trò buôn Thần bán Phật, cần phải chặn đứng và nghiêm phạt bằng luật pháp. Không thể làm ngơ để cho chúng tiếp tục hoành hành, tàn phá, làm bại hoại xã hội về nhiều mặt. Tuy nhiên, dù có thu hàng chục tỷ, trăm tỷ, những trò lừa đảo mượn danh Phật Giáo ấy vẫn chỉ là những thương vụ cò con. Còn có kiểu kinh doanh tôn giáo khác, tuy khoác bộ cánh sạch sẽ hơn, ít tai tiếng hơn, nhưng thực chất còn hủy hoại dân tộc, xã hội tàn bạo hơn bội phần. Đó là kiểu kinh doanh cướp cạn tài nguyên, ăn ruỗng mục cả đất nước. Đau xót thay, chúng vẫn đang nằm ngoài mọi chế tài của luật pháp. Đất nước đang oằn mình chứng kiến một trào lưu cướp cạn hợp pháp!

Vì thế, tôi đã phải viết bài này. Bạn đọc lưu ý: những dữ liệu và ảnh chup được đề cập đều dừng lại ở thời điểm ngay mùa lễ hội sau tết Nguyên Đán năm 2019.


HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

Huyền sử truyền rằng, năm 520, Tổ đời thứ 28 của dòng Thiền Tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) đã theo đường biển đến Quảng Châu, miền Nam Trung Hoa hoằng dương Phật Pháp. Lương Vũ Đế (464 -549), Hoàng đế khai quốc Lương triều vốn là một ông vua luôn đề cao việc học tập, giáo dân, vốn đã thành tâm cầu Phật, nghe tiếng đã cho mời Bồ Đề Đạt Ma hội kiến.

Gặp Tổ Phật, Hoàng đế Lương triều hỏi: “Từ ngày tôi làm vua đến nay lập nhiều chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như vậy có được công đức không?”. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Không có công đức gì cả”. Băn khoăn, Vua hỏi tiếp về chân công đức. Câu trả lời của Bồ Đề Lạt Ma được xem như một cứu cánh của bậc Chân Như: “Trí thanh tịnh, thể vốn vắng lặng nhiệm mầu, công đức như vậy không thể lấy thế pháp mà cầu được”. Trước ham muốn tu nhân tích đức, hành công quả để thành Thánh Đế mà Lương Vũ Đế đeo đuổi, Bồ Đề Lạt Ma chỉ buông gọn bốn chữ: “Quách nhiên vô Thánh”, nghĩa là “Vốn trống rỗng, chẳng có gì gọi là Thánh cả”.

Rồi bái biệt. Thất vọng vì cái tâm của ông vua sùng đạo vẫn động, trái ngược với mục đích/cảnh giới Thiền (Dhyana) vốn được hiểu là tĩnh tâm, quán định để giác ngộ chân lý, ngài quay lưng bỏ lên phía Bắc, không một lần ngoái lại. Công án “bất thức” (không biết), ngay từ thuở Thiền Tông vừa du nhập phương Đông đã khẳng định: xây chùa to, tạc tượng lớn, hành thí nhằm đạt tham vọng nhân thiên hữu lậu không bao giờ là con đường của Phật Pháp.

Không lâu sau đó, khoảng năm 580, Tỳ-ny-đa-lưu-chi (Vinitaruci), dòng Thiền đầu tiên từ Ấn Độ đã du nhập, bén rễ tại Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, khởi đầu cho một giai đoạn truyền bá mạnh mẽ của Thiền Tông và nhiều hệ phái Phật Giáo khác như Tịnh Độ Tông, Vô Ngôn Thông, Mật Tông… vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ bây giờ. Tuy nhiên, đó là giai đoạn hoằng dương bài bản và quy mô, còn sự tiếp nhận Phật Giáo vào Việt Nam thì đã xuất hiện sớm hơn nhiều. Đầu Công nguyên đã có truyền thuyết Chữ Đồng Tử theo học Phật Pháp từ một cao tăng đến từ Ấn Độ. Từ thế kỷ II sau Công nguyên, một số dòng Phật Giáo đã chính thức xuất hiện, chùa Phật đã được dựng nên tập trung nhiều ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh ngày nay.

Dù mang một số đặc điểm khác nhau, các dòng Phật Giáo vẫn nhất quán đề cao Phật tại tâm, giác ngộ Phật Tâm đồng nghĩa nhập Niết Bàn, vô ảnh vô hình, như một chữ Không bao trùm. Mọi thành quả khác, dù hiện hữu, chẳng qua là “hữu lậu, chỉ là quả nhỏ nhoi trong cõi nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật” như Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị về yếu tính Phật Pháp cho Lương Vũ Đế nhưng bất thành.

So từ nguyên ủy, chùa to, tượng lớn, phô trương hoành tráng hay lập kỷ lục về những cái nhất chưa bao giờ là con đường Phật Giáo. Tu hành Phật giáo là quá trình diệt dục, thực hành Tứ Diệu Đế. Dù không hẳn là pháp quy bắt buộc, thực hành Phật Pháp cũng nghiêng về phía khổ hạnh, vong thân. Hảo tự ố tăng (Chùa to đẹp, tăng hoen ố), nó đi ngược quá trình tu hành giác ngộ Phật, hủy hoại Phật Pháp, cũng đồng thời hủy hoại đạo đức xã hội, làm phương hại đến luật pháp, đảo tung các giá trị vì lợi nhuận. Những siêu công trình tôn giáo mọc lên ngày càng nhiều không chứng tỏ sự phát triển của tôn giáo, chỉ chứng minh sự tha hóa nghiêm trọng của cả đạo đức xã hội lẫn đức tin tôn giáo, khi mà tất cả ham muốn, dục vọng vật chất “hữu lậu nhân thiên” đểu có thể được thỏa mãn, đều đổi chác được bằng tiền và rất nhiều tiền.

Những người ủng hộ hoặc biện hộ cho sự bùng nổ xây dựng chùa chiền thường viện dẫn thời Lý – Trần, Phật Giáo phát triển, để lại nhiều di sản vật chất, văn hóa, văn hiến, tạo nên một dung mạo văn hóa Việt Nam đặc sắc, đáng tự hào ngay cả trong thời hội nhập. Họ quên rằng, chính trong thời Lý, khi Phật giáo phát triển huy hoàng nhất, nạn mượn danh Phật Giáo để hoành hành, làm bại hoại cửa Phật, suy yếu nền tảng đạo đức xã hội và luật pháp còn phát triển hơn. Nhà nhà đi tu, nơi nơi dựng chùa, sư tăng kết đảng hoành hành bá đạo… trở thành quốc nạn. Ngay chính những chân tăng, quan lại chính trực, giới trí thức, nhà chép sử thời đó cũng đã nhiều người kịch liệt phản đối nạn buôn Tăng bán Phật. Đời Lý Cao Tông (1173–1210) , triều đình đã phải bất đắc dĩ đuổi sư, buộc hằng hà sa số sư sãi (mượn danh) phải hoàn tục, tránh cho quốc gia một vấn nạn (khi đã quá muộn).

Mượn cớ tạo ra công trình, sản phẩm có tầm vóc để nâng cao vị thế hội nhập, không ít người đã ủng hộ khuynh hướng chạy theo kỷ lục, chạy theo những cái nhất khi xây dựng chùa, tháp, với “hy vọng” đất nước sẽ có thêm ngày càng nhiều những công trình khiến cả thế giới phải nghiêng mình, sánh ngang với Vạn Lý Trường Thành hay Kim Tự Tháp, thậm chí cả người ngoài hành tinh cũng có thể nhìn thấy từ vũ trụ. Tôi cho rằng, đây là một quan niệm phi văn hóa, sặc mùi vật chất chủ nghĩa. Chùa Tam Chúc khi xây xong, dù có “lớn nhất thế giới” cũng không thể có giá trị văn hóa bằng một mảnh gốm vỡ thời Trần còn được lưu giữ trong bảo tàng. Vòm trần điện thờ dát vàng trong bảo tháp chùa Bái Đính không thể đẹp và quyến rũ nhân loại yêu sự tinh tế hơn phù điêu tạo dáng rồng thời Lý hay mái đao dù đã mốc thếch thời gian vẫn cong vút của chùa Keo được dựng từ thời Lê. Đó mới đích thực là màu sắc, đường nét văn hóa Việt. Bởi lẽ, không thể lấy thành quả đồ sộ của văn minh – những giá trị nghiêng về vật chất – để thay thế sự đặc sắc của văn hóa – những giá trị thiên về tinh thần. Những hoành phi, đại tự tầm thường thời hiện đại dù có sơn son thếp vàng, những đại hồng chung mới đúc khắc thô thiển tên tuổi nhà giàu, quan chức to cung tiến cũng không thể quý giá bằng một góc những báu vật văn bia, mộc bản cổ đã sứt sẹo hình hài vẫn rực rỡ nghìn năm văn hiến – những giá trị nghiêng về văn bản. Đó mới đích thực là những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt.

Đừng vội chê những ai ủng hộ việc giữ gìn văn hóa Việt trong nét khiêm nhường, tinh tế, giản dị là nệ cổ, là nhược tiểu, là không dám vươn ra thế giới. Mỗi nền văn hóa có một cách đóng góp riêng cho di sản văn minh – văn hóa nhân loại, phù hợp với điều kiện và tập quán sinh sống của từng vùng địa lý cư trú, từng nhóm tộc người. Từ đúng 100 năm trước, khi nói về nghệ thuật kiến trúc và trang trí của người Việt, trong bài viết “Mỹ thuật ở Huế” đăng trong tập 16, năm 1919, Tạp chí “Đô thành hiếu cổ” (BAVH), nhà nghiên cứu uy tín người Pháp, giáo sĩ dòng Thừa sai Paris Leopold Cadìere đã có nhận xét: “Người An Nam dường như chẳng bao giờ có những dự kiến to lớn. Những cung điện nguy nga, những đền thờ đồ sộ vẫn thường nằm ngoài ý niệm của họ, và cũng như nằm ngoài tầm phương tiện của họ. Nhưng các ngôi chùa nhỏ, các ngôi nhà thấp tối của họ lại được trang trí công phu. Những nóc khuyết, trụ cột, lối ra vào, bình phong và dày đặc mẫu thức trang trí với màu sắc rực rỡ, đôi khi lòe loẹt, nhưng vẫn hài hòa với sắc màu phong cảnh, với sức chói chang của ánh sáng”.

Đó là một nhận xét xác đáng. Hãy để thế giới khâm phục Việt Nam bằng bản sắc tinh tế, đâu cần phải làm thế giới giật mình kinh hãi bằng sự sao chép, bắt chước hợm hĩnh phô phang? Lai căng đua đòi làm suy yếu sức đề kháng văn hóa. Văn hóa suy đồi, ắt hẳn quốc gia bạc nhược. Đó là mối nguy tự diệt.

Ngày nay, hiện tượng mượn mác tôn giáo – không riêng Phật Giáo – lập các dự án “du lịch tâm linh” để được giao đất, phá rừng bạt núi xây Chùa to, Tháp cao, kinh doanh trên tín ngưỡng đã thành phổ biến. Những công trình chùa chiền kiểu Bái Đính, Tam Chúc, Sơn Trà… hầu hết đều là kinh doanh tôn giáo, không phải là công trình phục vụ tín ngưỡng đúng nghĩa. Chúng đều là cú áp phe của giới tài phiệt, lợi dụng Phật giáo và phá hoại Phật giáo. Viện dẫn quy luật cung cầu, nại cớ Luật không cấm để biện hộ cho kiểu kinh doanh, khai thác dịch vụ, gắn mác “văn hóa, tâm linh” vào công cuộc buôn thần bán thánh thật ra chỉ là luận điệu của kẻ hoặc cố chấp, thiếu hiểu biết, hoặc là kẻ lạm dụng đức tin, tín ngưỡng để trục lợi. Nếu đông đảo nhân dân chưa nhìn thấy sự dị hơm, băng hoại ấy, vẫn háo hức lao theo và ngưỡng mộ thì trí thức, người có hiểu biết cần góp tiếng nói chỉ ra: đó là một nguy cơ đã trở thành quốc nạn.

Trong cả mục đích và bản chất, những công trình đồ sộ đang đua nhau mọc lên thực chất chỉ là những dự án cướp cạn văn minh, công khai vơ vét tài nguyên đất nước, cướp đoạt ngân sách của nhà nước do nhân dân đóng góp.

Đầu tiên là cướp đất. Khá đông đại gia khét tiếng và tai tiếng đều gắn tên mình với những công trình xây dựng chùa chiền, dù đức tin tôn giáo, đạo đức tôn giáo của họ hầu như đều phô ra tỉ lệ nghịch với sự đồ sộ của các công trình. Trầm Bê xây chùa ở Trà Vinh để….treo ảnh gia đình. Trần Bắc Hà bỏ hàng chục, hàng trăm tỷ trùng tu, dựng mới chùa ở Bình Định, Quảng Bình. Ông Chủ Tôn Hoa Sen Lê Phước Vũ hẳn là đang rất bận bịu “thoát tục” với công trình chùa chiền trên diện tích 1500 ha rừng đã và sẽ bị phá ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Và bây giờ thì đại gia của tập đoàn Xuân Trường đang chiếm lĩnh truyền thông với những siêu dự án ăn đất.

Những siêu dự án Xuân Trường đang đầu tư đều gắn với chữ “du lịch tâm linh” gồm: khu du lịch văn hóa tâm linh tổng hợp đảo Cái Tráp ở Hải Phòng, 450 ha đất, 9.800 tỷ đồng; Quần thể Bái Đính – Tràng An (Ninh Bình), 80ha, 17.000 tỷ đồng, nhưng ăn vào 4000 ha vùng lõi Tràng An; Khu Du lịch tâm linh Tam Chúc – Ba Sao (Hà Nam) chiếm 5.100 ha đất, đầu tư 11.000 tỷ đồng: Khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) chiếm 18.940 ha, đầu tư 15.000 tỷ…

To hơn, cao hơn, rộng hơn… chiến lược trương phình dự án chỉ nhằm duy nhất chiếm hữu được nhiều diện tích đất đai hơn. Toàn bộ diện tích Khu du lịch tâm linh Tam Chúc rộng 5.100 ha, bằng 300 lần sân vận động Mỹ Đình (theo so sánh của đồng nghiệp Đào Tuấn, Báo Lao Động) trong khi mặt bằng xây dựng chùa Tam Chúc chỉ mới chiếm 144 ha. Phần đất đai mênh mông còn lại rồi đây sẽ được xây dựng thành khu trung tâm đón tiếp, khu ẩm thực, khu nghỉ dưỡng, khách sạn 5 sao, bến xe điện, bến du thuyền, khu vui chơi tổng hợp, casino, biệt thự cao cấp bán và cho thuê… Đó đều là những công trình không liên quan gì đến tôn giáo và tín ngưỡng nhưng đều là những mũi nhọn kinh doanh béo bở.

Thì đã làm sao? Nếu có tiền, người ta cứ đầu tư, miễn luật không cấm. Đầu tư kiếm lời hướng phục vụ nhu cầu tôn giáo tâm linh vẫn còn tốt hơn có tiền đem ném vào những cuộc phá phách. Mỉa mai cho những ai vẫn ngây thơ tin vào điều đó. Họ đã không nhìn thấy, hoặc cố tình nhắm mắt không nhìn thầy sự tàn phá kinh hoàng, đúng hơn là tận diệt của các siêu dự án. Sau cướp đất là ăn thủng ngân sách. Phần lớn tiền đầu tư, có thể lên tới 70% sau khi có dự án đều là tiền vay ngân hàng. Ông chủ các siêu dự án sẽ không ngần ngại vẽ vời, đội vốn các dự án lên 1,5 -2 lần hoặc hơn thế nữa để vay được càng nhiều tiền từ ngân hàng càng tốt. Lãi ngân hàng dù có rất lớn cũng thấp hơn nhiều khấu trừ thu nhập. Nếu kinh doanh không hiệu quả, dự án bị thu hồi, ngân hàng ngắc ngoải, đại gia vẫn sống khỏe. Vì mục đích lợi nhuận, họ phá rừng, bạt núi, tàn hại môi trường, phá thủng ngân sách, cướp bóc quốc gia, còn tàn bạo hơn phá hoại.

Vẫn chưa hết. Khi các công trình tâm linh đã đi vào khai thác, bằng mọi cách, họ cố phù phép để chúng được công nhận là “Di tích văn hóa – lịch sử” – với hồ sơ thuyết minh đa phần là bịa đặt và thêu dệt. Với một khoản tiền bôi trơn cực lớn, họ sẽ đạt được điều đó rất nhanh mà không quá khó. Vậy là nghiễm nhiên “Công trình tâm linh, danh thắng” sẽ được bảo vệ, giữ gìn bằng tiền ngân sách (chi cho công an, dân phòng, bảo vệ, cả bộ máy chính quyền địa phương), nghĩa là thêm một bước nữa trắng trợn móc túi ngân sách.

Dùng mỡ nó rán nó, đó là bản chất công cuộc cướp cạn tài nguyên, ngân sách quốc gia một cách công khai. Đó là lý do vì sao các công trình siêu khủng đều có xuất phát ăn theo một cổ tự, danh thắng nổi tiếng đã có sẵn. Nếu phải so sánh với công trình mới đầu tư, công trình nguyên thủy, Bái Đính cổ tự so với Bái Đính mới chẳng hạn, xem ra chỉ bé như mắt muỗi. Lấy mở nó rán nó, nhà đầu tư chỉ giàu lên cực nhanh, không bao giờ chết.

Một ví dụ cụ thể, hàng năm, sau mỗi đợt lễ hội Chùa Hương, chùa chiền ở đây sẽ thu được vài chục tỷ đồng, năm cao nhất là 31 tỷ. Số tiền lẻ của khách thập phương cúng hòm công đức và nhét vào tay, vào chân tượng Phật hoặc đặt lễ trên bàn thờ gom lại đem gửi tại Ngân hàng Mỹ Đức, Hà Nội có khi lên tới 1.200 bao tải!

Thế nhưng, chỉ 4% trong số đó được trích lại cho BQL di tích để phục vụ trùng tu, tôn tạo, bảo vệ rừng. Trong khi đó mỗi năm nhà nước vẫn phải bỏ ra ít nhất 10 tỉ đồng để nuôi bộ máy cũng như bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, tu sửa hạ tầng, đường hành hương và chăm sóc, bảo vệ rừng. Vì đây là di tích văn hóa – lịch sử quốc gia, những đợt sửa chữa, tu bổ lớn trị giá hàng chục, hàng trăm tỉ đồng cũng đều dùng tiền ngân sách chi trả.

Và đó cũng là lý do vì sao Tập đoàn Xuân Trường – lại Xuân Trường chứ không phải ai khác – đang làm hồ sơ đề xuất siêu dự án 15.000 tỷ, chiếm trọn quần thể Chùa Hương với 1000 ha đất!

Sẽ không có đại gia nào có thể thâu tóm đất đai, moi tiền ngân sách, nếu không có sự gật đầu và tiếp tay của bộ máy công quyền từ Trung ương đến địa phương. Vì sao và để làm gì, hỏi tức là đã trả lời.

Không có sự phát triển tôn giáo, thần thánh nào ở đây cả, chỉ có sự hiện hữu và lớn mạnh kinh khủng của các tập đoàn tư bản thân hữu ăn ruỗng tài nguyên, nguồn lực của đất nước. Không ngăn chặn, tiêu diệt nguy cơ ấy bằng luật pháp nghiêm minh, bằng chính sách minh bạch một cách triệt để, đất nước sẽ ruỗng mục, xã hội sẽ băng hoại. Thờ ơ với quốc nạn không chỉ là vô trách nhiệm mà là có tội. Phải làm gì, làm như thế nào, đó là trách nhiệm của hệ thống chính trị, các nhà lập pháp, bộ máy hành pháp, tư pháp, thay vì và cần thiết, cấp bách hơn nhiều so với mối lo loay hoay tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao tinh thần dân túy, phản đối ngày càng bùng phát mạnh mẽ trong xã hội.

Từ hơn 2000 năm trước, trong thiên Thái Bá, sách Luận Ngữ, Không Tử đã khái quát: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Đất nước vô đạo, chạy theo giàu sang, thật hổ thẹn”. Xem ra, chỉ với vấn nạn “hảo tự ố tăng”, thực tế đất nước đã khốn nguy, bị tàn phá nghiêm trọng hơn bội phần so với chữ “sỉ dã” được bậc minh sư nhắc từ thiên cổ!

14.02.2019
NGUYỄN HỒNG LAM

VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG


TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam (1804), chọn Huế làm kinh đô của vương triều Nguyễn, mà không dời đô về Thăng Long, vốn là “thượng đô muôn đời của Đại Việt”.

  • TỪ LONG ĐỊA CUỘC…

Sách “Đại Nam nhất thống chí”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chép (Việt dịch): “Kinh sư [Huế] là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam, miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trước, núi cao ngữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi ấy, là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua” (quyển 1).

Từ góc nhìn của Dịch lý và thuật phong thủy, xứ Huế là là “cuộc đất của rồng”, xứng đáng được chọn làm kinh đô của một nước Việt Nam thống nhất sau hơn gần 2,5 thế kỷ bị phân tách Đàng Ngoài – Đàng Trong. Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã đánh giá Phú Xuân (tên cũ của Huế) có “thế đất bằng phẳng như bàn tay, rộng hơn 10 dặm, ở giữa là chính dinh, đất cao bốn bên đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng, ở vị trí càn (tây bắc) trông về hướng tốn (đông nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông, đằng trước là quần sơn chầu về la liệt”, là nơi “có năm lần hổ thủy ôm đằng trước… có ba lần long sa ngăn bên tả”.

Xứ Huế là trung tâm của miền Trung, phía tây có Trường Sơn hùng vĩ che chắn, cuồn cuộn tuôn theo mạch đất nhằm hướng tây bắc – đông nam; phía đông có biển cả bao la, lại nằm trên lưu vực của hệ thống sông Hương – sông Kim Long – sông Bạch Yến; phía nam có núi chắn, phía bắc có sông giăng, xét quan điểm của thuật phong thủy, tất phải có long mạch. Sông Hương là một dòng sông chảy ngược từ phía nam lên phía bắc. Phía nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lưu ở thượng nguồn sông Hương, nơi có những ngọn núi cao, trong đó có Thương Sơn (núi Kim Phụng) là chủ sơn của xứ Huế. Nhìn rộng ra, cả khu vực đồi núi phía Tây của xứ Huế đều bắt nguồn từ những nhánh núi của dãi Trường Sơn tạt ngang ra biển, tạo nên một đại địa cục, phong thủy gọi là hoành long.

Dòng sông Hương trước khi ra đến biển cũng đã uốn lượn, đổi hướng nhiều lần, trước khi ôm trọn cuộc đất, mà về sau được vua Gia Long lựa chọn để xây đắp Kinh Thành Huế. Theo sách “Địa đạo diễn ca” của Tả Ao, một cuộc đất có long mạch uốn lượn, gấp khúc càng nhiều thì địa cuộc ấy càng có nhiều sinh khí. Vua Gia Long đã lựa chọn địa cuộc ấy để kiến tạo diện mạo của kinh đô, với đầy đủ các yếu tố: tiền án (núi Ngự Bình), tả thanh long (cồn Hến), hữu bạch hổ (cồn Dã Viên), triều củng, minh đường, thủy đáo điện tiền… Nói xứ Huế có long địa cuộc là vậy.

Có lẽ vì thế mà Nguyễn Đức Quán, một viên quan thời Nguyễn khi viếng thăm điện Huệ Nam, một thắng tích của xứ Huế, chỉ bằng hai câu thơ đã miêu tả trọn vẹn thần sắc của non nước thần kinh:

Sông xanh uốn khúc thân rồng lượn

Núi thẳm nhìn theo dáng cọp ngồi

… ĐẾN VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG

Thăng Long là kinh đô của các triều đại: Lý – Trần – Hồ – Lê sơ – Mạc – Lê Trung Hưng trong gần 8 thế kỷ (1010 – 1789), là vùng đất “rồng bay lên”. Huế là kinh đô của vương triều Nguyễn chỉ trong 143 năm (1802 – 1945), lại là vùng đất hội tụ của rồng. Bởi lẽ, trong gần 1,5 thế kỷ nhà Nguyễn cầm quyền ở Huế, vùng đất này đã trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và nghệ thuật lớn nhất Việt Nam / Đại Nam. Và đó là lý do để hình tượng con rồng hiện diện khắp nơi trên đất Huế và tồn tại cho đến ngày nay.

Con rồng xuất hiện ở trong không gian, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… xứ Huế, với đủ loại chất liệu, nghệ thuật thể hiện, đề tài trang trí, và ý nghĩa biểu đạt.

Về không gian, rồng có mặt trên các đền đài, cung điện, miếu vũ, đình chùa ở trong và ngoài hoàng cung Huế. Rồng xuất hiện ở bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm, đầu hồi, máng xối, bình phong, bậc cấp, vì kèo, khung cửa, nghi môn… của các công trình kiến trúc. Rồng trang trí trên Cửu đỉnh, ngai vàng, bửu tán, án thờ vua quan thời Nguyễn. Rồng làm thành tay núm các con triện, ấn tín, đồ văn phòng tứ bảo… Rồng là họa tiết trang trí trên áo quần, mũ mão, giày dép của các bậc đế hậu, hay có khi là một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt trong các sân chầu, đình viên như hai tượng rồng trước sân Duyệt Thị Đường. Rồng còn xuất hiện trên Cửu vị thần công hay là những hoa văn trên các khẩu súng điểu thương của vua Thiệu Trị, hiện vẫn lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế… Người ta có thể bắt gặp hình tượng con rồng ở bất kỳ nơi nào của xứ Huế: trong cung điện vàng son lộng lẫy, chốn lăng tẩm thâm nghiêm, nơi đình chùa miếu vũ bình dị ở các làng quê ven Huế, ở những tượng đài uy nghi, kiến trúc đồ sộ, hay ở những bến sông hay bậc thềm trong công viên…

Về chất liệu, con rồng thời Nguyễn có thể được đúc bằng đồng, chạm trổ trên đá, điêu khắc trên gỗ, xương, ngà và các loại vàng bạc đá quý. Rồng xuất hiện trên vải, lụa trong y phục, mũ mão của vua quan, phi tần. Rồng làm bằng đất nung trong điện Ngưng Hy ở lăng vua Đồng Khánh; đắp bằng vôi vữa ở lăng vua Gia Long hay ở Thế Tổ Miếu; ghép bằng sành sứ và thủy tinh trong cung Thiên Định ở lăng vua Khải Định; làm bằng pháp lam trên bờ nóc và bờ quyết điện Hòa Khiêm ở vua lăng Tự Đức… Rồng là họa tiết trang trí trên đồ sứ ký kiểu, trên tranh treo tường bằng giấy trong Thái Bình Lâu hay trên tranh gương trong điện Biểu Đức ở lăng vua Thiệu Trị…

Nghệ thuật thể hiện con rồng thời Nguyễn ở Huế thực là đa dạng: chạm lộng, chạm nổi, đúc đồng, gia công bằng vàng bạc, đá quý, khảm cẩn bằng trai, sành sứ, dệt thêu trên vải, vẽ bằng bột màu trên giấy, trên đồ sứ, chế biến từ rau củ thành những món ăn sang trọng trong ẩm thực cung đình Huế… Khi thì tạo thành hình khối, lúc lại thể hiện trên bề mặt phẳng, lúc khác lại vẽ chìm dưới lớp men phủ. Thực là thiên hình vạn trạng.

Đề tài thể hiện cũng là một nét đặc sắc khi nói về rồng thời Nguyễn. Các motif: lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nhật, long hí thủy, hồi long, viên long, long truy, long phụng, long lân, long thọ, long vân khánh hội, trúc hóa long, cúc hóa long… xuất hiện ở hầu khắp các di tích kiến trúc, các tác phẩm trang trí, nghệ thuật thời Nguyễn hiện đang được bảo lưu ở Huế.

Con rồng đã vượt khỏi chốn cung đình và hiện diện khắp nơi trên xứ Huế, trở thành một nét văn hóa, một biểu tượng nghệ thuật của cố đô Huế. Ngoài những hình tượng rồng mang biểu trưng của đế vương: uy nghi và cầu kỳ, xứ Huế còn có những con rồng đã được “dân dã hóa” thành những con giao, con cù… bình dị, xuất hiện ở nơi đình làng, chùa miếu dân gian. Và đôi khi, những con rồng “dân dã” này lại sống động hơn, giàu tính biểu cảm hơn những con rồng uy nghi ở chốn cung đình. Đây chính là điều tạo nên sự thú vị cho ai đó khi họ tìm đến Huế để tham quan, khám phá và tìm hiểu về “vùng đất của rồng.

Năm 2024 là năm Giáp Thìn – năm của con rồng, người viết bài này ước mong những con rồng Huế sẽ bước ra từ văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc…, sẽ cất cánh từ thế đất long địa cuộc, biến thành biểu tượng trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa…, để xứ Huế thực sự “hóa rồng” trong tương lai.

T.Đ.A.S.

Đạo Phật ở phương Tây

Khởi thủy , không có sự truyền giáo của Đạo Phật đến người Tây phương.
Suốt thời gian dài , người Âu châu không có ý niệm về sự có mặt của Đạo Phật.

Chùa Pháp Bảo – Hội An

Giới Trí thức Âu châu , từ các học giả Hy Lạp cổ thời , đến những giáo sĩ các dòng Thừa sai cận đại , cả các quan cai trị và các nhà nghiên cứu thời Ánh sáng ; khi khảo sát về “tín ngưỡng của người châu Á” , họ chỉ nói đến những nghi thức manh mún tản mác , sự sùng bái ngẫu tượng của các giáo phái bí ẩn , chứ không lĩnh hội được “một hợp-nhất-thể” nào có tính hệ-thống trong giáo-thuyết và trong thực-hành , để có thể gọi đó là một “tôn giáo”.


Ngưởi Âu-châu đã tự “khám phá” ra Đạo Phật cho chính họ .
Khi người Anh , người Hà-lan , người Pháp , đến Ấn-Độ vào thế kỷ XVII và XVIII , họ đã không gặp một đệ tử nào của Đức Phật , mà chỉ thấy những đền thờ vắng vẻ điêu tàn .

Bởi vì đạo Phật , tuy được ra đời tại Ấn Độ , đã phát triển và phổ biến ở đó ít nhất suốt từ thế kỷ thứ V trước TL , đến thế kỷ 10 TL. , nhưng đã biến mất trong khoảng thế kỷ XI hay thế kỷ XII , bởi những lý do đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Những người Âu châu đầu tiên biết chữ Phạn có thể vào thẳng các bản văn nguyên gốc Bà-la-môn giáo .
Nhưng với Phật giáo , họ phải gây dựng lại từng bước , từ những dấu tích tản mác , manh mún , những dữ kiện thu thập được một cách rời rạc ; vì những bản kinh Phật giáo đã biến mất từ lâu trên đất Ấn Độ .
Những bản kinh Phật chỉ còn ẩn giấu nơi các sườn núi Hi-mã ; nhất là ở Nepal , còn giữ vài bản kinh Phật giáo chữ Phạn ; nhiều bản khác chỉ còn lại trong những bản dịch tiếng Tây Tạng và tiếng Trung Hoa.

Thêm nữa , trong suốt nhiều thế kỷ , đạo Phật đã không bao giờ đồng dạng và hợp nhất.
Ngay trong hai nhánh chính của đạo Phật là Đại thừa và Tiểu thừa , cũng đã hiện hữu từ rất sớm nhiều học-phái đối chất nhau trong những diễn giải khác nhau về giáo thuyết của Phật.

Sự đa dạng này còn kết hợp với những tôn giáo hay đức tin hiện hữu từ trước tại các vùng mà Phật giáo đã tuần tự bám rễ , như : Tiểu thừa ở Sri Lanka , Miến Điện , Lào… vốn không giống nhau ; Đại thừa ở Trung Hoa , Đại thừa ở Nhật Bản , Đại thừa ở Tây Tạng , Đại thừa ở Mông Cổ , … cũng không đồng nhất .

.
#
Mãi đến năm 1800 , tri thức Âu châu về đạo Phật vẫn ở dạng đầy phán xét cảm tính , dựa theo văn minh Hy Lạp và Thiên Chúa giáo .

Danh tự để chỉ Đức Phật vẫn tùy tiện , theo tác giả .
Trong “từ vựng” chỉ Đức Phật , có : Buddou , Bouddou , Bodh , Budh ; liên hệ giữa những ‘Bút’ đó với Sammonacodom (Thái Lan) , với Xắc-Ca (Nhật Bản) , hay với Fô (Trung Hoa) , cũng chưa được thấy.

Khúc quanh trọng-đại trong lịch sử người Tây phương “khám phá đạo Phật” được đánh dấu bởi sự ra đời của từ “Bouddhaisme” , “Buddhaism” , “Buddhaismus” (giáo thuyết của Phật) .

Về sau , đổi thành ‘bouddhisme – buddhism – buddhismus”(giáo thuyết Giác Ngộ’) vào thập niên 1820.
.
Sự vắng mặt của “từ vựng Phật giáo” tương ứng với sự vắng mặt của “đối tượng tri thức Phật giáo” ,
Vì chẳng ai phải đặt ra một từ vựng mới cho một đối tượng không được biết .

Trước khi nhận được một tên gọi , “đạo Phật” chưa hiện hữu ; và sự khai sinh ra tên gọi , đánh dấu sự thành hình một đối tượng của tri thức.

Phải đến thời điểm của năm 1820 , mới có các nỗ lực kết tập trí thức ở phương Tây , nhằm xác định thế nào là “đạo của Phật”, xuất phát từ khả năng ngôn ngữ của các nhà nghiên cứu Đông phương học .
.
Từ thập niên 1780 đã có một số người Âu châu đọc được chữ Phạn , nhưng các bản văn Phật giáo bằng chữ Phạn chỉ được khám phá ở Nepal , bởi B.H. Hodgson , vào thập niên 1820 .

Cùng thời gian này , chỉ có E. Burnouf và C. Lassen đọc được chữ Pàli , và những bản kinh Phật giáo tiếng Trung Hoa chỉ mới được nghiên cứu bởi JP. Abel-Rémusat .

Sau đó ít lâu , chữ Tây Tạng được bắt đầu biết đến bởi một người gốc Hungary là Alexandre Csoma de Koros.

Một số nỗ lực “kết tập kinh Phật” đầu tiên được đưa ra và đã có nhiều bàn cãi.
Nhưng rất nhanh sau đó , trí thức Âu châu đã nhận biết được sự hiện hữu của một giáo thuyết đặc biệt , nằm giữa tôn giáo và triết học, có một tiêu đề và một lịch sử riêng.
“Đối tượng của tri thức” đã có mặt ở Âu châu , và tên gọi cho “Đạo của Phật” đã được người Âu châu đặt ra và phổ biến.

.
#
Vào cuối thế kỷ XVIII ở Âu châu , nghiên cứu về văn minh Ấn Độ và chữ Phạn bắt đầu hình thành một chuyên ngành , với đối tượng và các phương pháp riêng.

Đến đầu thế kỷ XIX , các học hiệu của người Anh , người Pháp và người Đức ở Calcutta , ở Paris , ở Bonn , và ở Berlin , bắt đầu tiếp cận dần với một lãnh vực rộng lớn , chưa được biết đến .

Từ đó , từng bước và khá nhanh , những “ngông cuồng của thị hiếu ngữ nguyên học” , hay những “mơ mộng chuộng điều mới lạ từ xa đến” ; nhường chỗ cho những tri thức chính xác và những chuyển dịch thận trọng nghiêm ngặt.

Khi đọc các bản dịch đầu tiên từ chữ Phạn , người Âu châu của phái lãng mạn ; đặc biệt là ở Đức ; họ tin là đã tìm thấy trong Bà-la-môn giáo ánh sáng cho những lo âu của họ.

Những anh hùng ca , kịch bản , thơ ca Ấn Độ , cùng các tác phẩm của những “Triết gia sông Hằng”, đã tạo nên sự chờ đợi một cuộc “Phục-Hưng Mới” .

Nhiều tác giả rất khác nhau như: Schlegel , Schelling , Schopenhauer , Leroux , .v.v. , cho rằng tư tưởng Âu châu sẽ được tái sinh cùng với các tác phẩm Phạn ngữ ; tựa như lần Phục hưng trước với các tác phẩm Hy Lạp , được những người theo “chủ nghĩa Nhân Bản” tìm thấy lại.

Trong một thời gian khá dài , nhiều người Âu châu tin rằng sự “Phục hưng Đông phương” (chữ của họ) , bởi âm vang đa diện của nó , sẽ phải rộng lớn và sâu sắc hơn lần Phục hưng Âu châu ở thế kỷ XV và thế kỹ XVI.

Họ cho rằng : cái quá khứ đang mở ra này ; thật vậy ; nó còn xa xưa hơn những gốc nguồn Hy Lạp.

Hầu hết mọi quan điểm đều tin rằng : từ chỗ trở về với gốc nguồn Aryan nguyên thủy nhất này , có thể sáng tạo ra một tương lai mới hoàn toàn khác với hiện tại ; nguồn cội và tương lai tương ứng nhau , nhưng không giống nhau ; và , những rối loạn trước mắt chỉ là đoạn cuối của một dấu ngoặc dài sắp sửa khép lại.

Họ hy vọng nơi Ấn Độ , mà Herder (triết gia Đức thế kỷ XVIII) xem là “cái nôi của nhân loại”, “một sự cứu rỗi của ngày mai”.

Sự khám phá Bà-la-môn giáo , qua các công trình được dịch từ chữ Phạn , chẳng những đã kích thích óc tò mò của người Âu châu mà còn gây nên sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

Cái gọi là “Ấn Độ” vừa mới biết đến , tức thì được ước mơ , được suy tưởng và thi vị hóa ; như là quê hương gốc của sự toàn hảo, trật tự , vượt trên mọi thối rữa lịch sử , và tồn tại như năng lực lớn duy nhất , có thể làm sống lại tinh thần và cả thể xác của Âu châu.

Trong thư đề ngày 18-12-1806 viết cho Windischmann , Schelling viết : “Tôi cho rằng việc khôi phục sự hợp nhất Đông-Tây là vấn đề lớn nhất cho giải đáp mà Tinh Thần thế giới đang tìm kiếm . Âu châu là gì , nếu không là thân cây khô héo tự thân , cậy tất cả nơi những tiếp ghép Đông phương , và chỉ có thể được hoàn thiện nhờ nơi các tiếp ghép này?”.

Tại Paris , năm 1842 , Edgar Quinet , trong số nhiều tác giả khác , cũng nêu lên cùng hy vọng , rằng : “Cùng lúc thâm nhập vào thi ca , vào chính trị của Tây phương , Á châu cũng len lỏi vào trong các chủ thuyết ; siêu-thể học , đến lượt nó , củng cố sự liên kết hai thế giới” (trong sách “Le Génie des religion”).

Sự liên kết này được hy vọng , được chờ đợi , loan báo một cuộc phục-hưng trên nền tảng Đông và Tây tìm gặp lại.

Sự phục sinh chẳng những đã không diễn ra , mà tất cả mọi kỳ vọng đều sụp đổ.
Không phải chỉ đơn giản vì đó là một giấc mơ , mà thực-tại tầm thường hẳn nhiên phải khác.

Mà vì , từ các năm 1820 , khi những mảnh tư liệu tản mác , được thu về từ Népal , Trung Hoa , Tích Lan , Tây Tạng , Thái Lan , Nhật Bản , .v.v. , bắt đầu được kết tập , phân loại , so sánh ; khi các nét chính của “Giáo thuyết nhà Phật” hiện rõ ; thì sức hấp dẫn hướng về một sự sống tinh nguyên bị lật ngược , hiện thành sự khinh ghét như sự khinh ghét đối với một dạng thần chết .

.
#
Đạo Phật vừa được Âu châu phát hiện , liền bị họ xem là một phủ-định , hay một khiêu khích nội thân và bền bỉ trong lòng trật tự xã hội , mà “trật-tự tinh-thần Bà-la-môn giáo” đã ra sức chống phá .

Phật giáo bị người Âu châu xem như một loại “nổi loạn luận lý” rất đặc-thù , nó chống mọi dạng thần-khải và siêu-thể-học ; giáo thuyết “Tánh Không” của nó như một đề-án hủy diệt mọi tư-duy ; nó giống như một “phiến loạn” , tác nhân của thoái hóa , đồi bại.

Bởi vì khi ấy , Đạo Phật thường được trình bày như một chủ thuyết lạ đời , khiến người Âu châu không thể lĩnh hội được .
Chủ thuyết này cổ võ một kiểu hiện-hữu chỉ nhắm đến chỗ “không-là-gì-cả”, với mục tiêu tối-hậu chỉ là , và thuần túy là “hư vô” ; với nhiều trăm triệu con người ngưỡng vọng sự “Nhập Diệt” , một sự tan biến bất-phản-hồi của chính mình vào Hư Vô ; dành trọn mọi nỗ lực thánh thiện nhất và bền bỉ nhất cho sự hủy diệt chính mình ; và xem đó là diễm-phúc không thể diễn tả được .
Người Âu châu nói : Làm sao con người lại có thể mong cầu hư vô?

.
#
Trên bình diện chủ thuyết , Phật giáo rất khác với Bà-la-môn giáo , nên cũng rất mới lạ đối với các học-thuyết chính của truyền thống Âu châu.

Khi dần dần khám-phá “Giáo thuyết của Phật” , người Âu châu tự hỏi : đây là một Thần-giáo hay là một triết-hệ ?

Cùng với những thắc mắc về Đạo Phật được coi như là “một Thần giáo không có Thiên Chúa” ; “một con đường cứu rỗi không có sự sống vĩnh cửu” , “hạnh-phúc không có cấu liệu nền-tảng” , luật thiện tách khỏi mọi lời lẽ thần linh , luân lý không bám vào siêu nghiệm … ; óc tò mò của những nhà tư tưởng Âu châu thế kỷ XIX còn bị kích thích bởi một học thuyết từ lâu không được biết đến , chỉ mới được khám phá với những mảnh vụn được kết tập một cách lộn xộn .

Họ nắm bắt đạo Phật bằng “thị-hiếu tưởng tượng” hơn là bằng tinh thần khảo nghiệm khoa học.

Và , ở mỗi bước của quá trình truy tìm , nghiên cứu , những phát hiện mới lại dẫn tới những thắc mắc mới , trên những nghịch-luận về “chủ đề đạo Phật”.

Từ những tưởng-diễn theo thị-hiếu đó , các bộ mặt chính của chủ nghĩa Hư Vô của Âu châu thế kỷ XIX , được xác lập và được tô điểm sửa sang từng bước.

Một số lớn tư-tưởng-gia Âu châu thời đó tin rằng họ đã thấy trong Đạo Phật một hiểm họa không tên , và như một cái gì không thể có được ; tinh thần con người không thể thực sự muốn sự đánh mất chính mình .

Thế nhưng , giáo thuyết lớn lao và cổ xưa này của cả Á châu là một thực tại : tương đương với niên-hạn của văn minh Hy Lạp , với số tín đồ còn nhiều hơn tín đồ Ky-tô giáo.
Nhưng họ không thể xếp đạo Phật vào một loại Thần-học nào cả ; cho nên , càng lôi cuốn bao nhiêu , Đạo Phật càng làm người ta sợ bấy nhiêu.

Và , tất cả đều đã , hoặc ít hoặc nhiều , người Âu châu đã đồng hóa Niết-bàn với sự triệt-tiêu tất cả ; đã kết liền đạo Phật với chủ nghĩa bi quan , khô chết và tiêu cực .
Tất cả những gì của đạo Phật đều bị xem là “tôn giáo của hư vô” , nghịch thường và đáng sợ , chống lại “trật tự bình thường” của thế giới ; “một thế giới Tây phương Ky-tô giáo” sống động , xác định .
.
Vào thế kỷ XIX , đã có một “sự khiếp sợ” đối với đạo Phật nơi hầu hết các triết gia Âu châu , tựa như sự khiếp sợ trước ma quái , một sợ hãi yêu ma , một khủng bố quỷ ám hiện lộ đó đây , và nó có thể hủy hoại tâm hồn người ta từ bên trong.

Dấu vết của sự khiếp sợ này còn được ghi lại rất nhiều trong những tác phẩm của các triết gia Đức , như : Hegel , Schopenhauer , Schelling , Nietzsche .… ; và nơi tác phẩm của các học giả Pháp , như : Cousin , Taine , Renan , Saint- Hilaire , Quinet, Comte… , nhất là Renouvier.
Dĩ nhiên , đó là ngộ nhận .
.
Roger-Pol Droit đã vạch rõ lý lẽ của sự ngộ nhận đó , sự sai lạc của ảo tượng đã ám ảnh Âu châu thế kỷ XIX ; cho thấy , bằng cách nào , tại sao ; bởi sức cám dỗ nào mà , khi nói về “kẻ khác” , về “phương xa”, về Á châu , về Phật .

Do đâu người Âu châu lại khiếp sợ trước những gì Đạo Phật sẽ đến cho sự sống ; đồng thời cho thấy , làm thế nào mà , trong khi những nhà ngữ học và Đông phương học thời đó đã cố gắng xác định ý nghĩa của từng câu trong các bản kinh , các tác phẩm thu thập được từ các cuộc viễn du hoặc viễn chinh ; và cố dựng lại từng bước lịch sử và những đặc điểm của đạo Phật ; thì các triết gia Âu châu lại chỉ tuyển chọn một số dữ kiện từ thuyết nhà Phật , do những nghiên cứu Đông phương học cung cấp , để diễn dịch Phật giáo thành một tôn giáo chủ trương Hư Vô của “đoạn diệt luận” , điều mà chính Đức Phật vẫn phê bác mạnh mẽ.

.
#
Hầu hết các bản kinh nền tảng của Phật-giáo đã được dịch sang các tiếng Âu châu trong hậu bán thế kỷ XIX.

Sau một thời gian khá dài bị hiểu lầm , Đạo Phật đã được những đầu óc khoa học sáng giá nhất thế giới đánh giá lại.
Đến khoảng thập niên 1950 , Đạo Phật đã được nghiên cứu rộng rãi tại nhiều học-viện uy tín nhất ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Nhiều công trình nghiên cứu giá trị về Đạo Phật được phổ biến đại chúng , lôi cuốn ngày càng đông số người đến với Đạo Phật tại các xã hội kỹ nghệ tiên tiến ở Âu châu và Bắc Mỹ .

Sự “khám phá đạo Phật” của người Tây phương còn là công trình so sánh , phân loại những chứng liệu về Đạo Phật từ khắp nơi gom về .

Rồi từ sự gạn lọc để tách rời những nghi-thức hành lễ vốn là những chất liệu có tính văn hóa địa phương đã được gán ghép vào , tạo nên những hình thức Phật giáo bề ngoài của từng dân tộc ; các trí giả Âu châu đã thiết lập lại gần như trọn vẹn các giáo-thuyết của Đức Phật , những phương pháp tu học , cùng quá trình phát triển Đạo Phật của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

Một số phương pháp tu tập Thiền được sử dụng trong quá khứ xa xưa ở Ấn Độ và Trung Hoa , nay được các Trí giả Âu châu soát xét lại cùng với nhiều kiến giải mới , theo kiểu tư duy quen thuộc của tinh thần khoa-học hiện đại .
Tuy nhiên , hầu hết đều nghiêng nhiều về phần triết lý , trí thức.

Càng về sau , những đặc-tính thế gian và con người trong tư tưởng cốt lõi của Đạo Phật, cũng đang được các Trí giả Âu-Mỹ nghiên cứu , ứng dụng vào những định chế nhân văn và xã hội.
Phần “tu tập” chỉ mới được bắt đầu phát triển từ khoảng cuối thập niên 1970.

Người Âu Mỹ đang đến với đạo Phật ngày càng nhiều .
Nhưng trên bình-diện luận lý của “người thời đại” , với cái nhìn nhị phân , kiểu “hậu Descartes” , họ chia tư tưởng thành hai khu vực : “thuận lý” (rationnel) và “phi lý” (irrationnel) , đối kháng và phủ nhận nhau.

Trong khi Phật giáo , có trình bày phân-biệt phạm vi “Lý” (rationnel) với phạm vi “Quan hệ” (relationnel) , nhưng chúng không đối-kháng loại trừ nhau.
Đó là hai mặt của mọi hiện tượng , nhất thiết phải được thống hợp trong cái nhìn toàn nguyên , giúp nắm bắt thực-tại trên toàn-thể của nó.

Đó là cái nhìn sự vật của mọi học-phái Phật giáo , không bị giới hạn trong “trí thông minh” , cũng không là “phóng túng ngang tàng”; khác hẳn với tư tưởng của “người thời-đại” , thường đã mất mọi niềm tin , cả nơi chính mình và nơi thế giới.

Vì thế , một Phật giáo của thời đại , đã hiện -thành , thế nhập với nhân sinh và mở lòng với mọi người , đem đến cho con người những “niềm tin” mới , một “Chánh Tín” với nội dung vững chắc của “Tu và Chứng” , một sự xác quyết sâu xa của con người về chính mình và kiểm nghiệm được bởi chính mình .

“Niềm tin mới” này khác với những “đức tin Thần khải” ; cùng lúc đã làm sống lại một cách mới mẻ những tư tưởng cốt lõi mà Đức Phật đã gieo hạt trong “Tâm Bồ đề” của người Phật tử.

Những “hạt giống Phật” này đã nẩy nở một cách tùy duyên trong nhiều nền văn hóa và văn minh rất khác biệt ; đã thích hợp với tâm tư của nhiều giống người sống trong những điều kiện rất khác nhau ; nhưng không bao giờ đánh mất những chất liệu nền tảng , cũng như những ý hướng đặt biệt của chúng .
Đó là sự Giải thoát khỏi Vô Minh , sự Giác Ngộ của Tuệ Giác , và sự chứng ngộ “Phật tánh” (tánh Tỉnh-thức phổ-quát vốn sẳn có nơi mỗi con người).
.
Một “Phật giáo Tây phương” đã hiện thành , dưới dạng một “Phật giáo trí thức’” ; chắc chắn nó sẽ bổ túc nhiều cho “Phật giáo hướng thiện” với mục đích “cầu phước”, có tính luân lý , thuộc “hiện tượng giới” ; và “Phật giáo hướng Tuệ” nhằm đạt ‘trí tuệ siêu vượt Chân lý” , thuộc “Chân thật giới” , đã phát triển trong lịch sử Phật giáo.

Và , chắc chắn rằng : sự kết hợp cả ba loại hình Phật-giáo này , sẽ tạo thành đặc điểm của “Phật giáo thời đại” .

Với “Phật giáo Trí thức” là gạch nối giữa hai loại Phật giáo kia , tiến tới việc hiện thành một “hệ thống đạo lý phi Thần-học” , có chức năng kép , đó là “cải thiện tính người” và “song hành với Trí Tuệ” , đưa nhân-sinh thể nhập vào Đạo Phật.


(Cuồng Từ lược khảo)

Một cái nhìn về 20 thói hư tật xấu của người Việt Nam

Dân tộc nào cũng có cái hay, cái đẹp nhưng cũng có những cái xấu, cái chưa hợp lý… Vấn đề quan trọng là biết hư thì sửa, biết xấu thì làm cho đỡ xấu và tiến tới làm cho đẹp hơn.

Một cái nhìn về 20 thói hư tật xấu của người Việt Nam

Người nước ngoài nhìn ta

1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.

2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.

3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).

4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.

5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê)

6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền.

7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).

8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.

9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục.

10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (Cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng).

Ta tự nhìn ta

1. “Giờ cao su”: Nhìn chung, ý thức giờ giấc của người Việt Nam rất kém. Nhiều bạn đi du học ở các nước phát triển lúc đầu rất hay bị bỡ ngỡ. Họ dễ bị trễ tàu, lỗi hẹn nhưng dần dần họ cũng khắc phục được. Ðến khi về nước họ lại khó chịu với “giờ cao su” của chúng ta.

2. Thiếu tự tin và óc phê phán: Ðây cũng là nhược điểm của văn hoá phương Ðông có lối sống khép kín. Nhiều bạn sinh viên năm thứ ba, thứ tư Ðại học mà vẫn ngại phát biểu ý kiến hoặc trình bày vấn đề trước đám đông vì thiếu tự tin, thiếu thói quen suy nghĩ, đi học chỉ biết “chép chính tả”. Kiểu giáo dục thụ động luôn tỉ lệ thuận với sức ì của tư duy và tỉ lệ nghịch với óc phê phán (critical thinking) của thanh niên.

3. Bệnh hình thức: Có bạn trong cơ quan hay công ty mình làm việc đang chẳng đâu vào đâu thì lại đi học master. Có bạn tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được việc làm cũng đi học master. Tư duy nặng về “điểm chác”, bằng cấp rất phổ biến. Không xác định tư tưởng học để làm việc mà học để lấy bằng. Người Mỹ có quan điểm: to learn is to change. Còn chúng ta ra sức theo học rất nhiều lớp học nhưng rốt cuộc cách làm việc không thay đổi gì cả, điều khác là chúng ta có thêm mấy cái bằng bổ sung vào hồ sơ cá nhân.

4. Không tiết kiệm: hay tâm lí thích tiêu xài phung phí. Ðây là virus đang rất phổ biến và rất dễ lây lan trong giới trẻ. Họ quan tâm đặc biệt đến quảng cáo, thích xem các loại tem nhãn quần áo, nhận xét, đánh giá người khác qua tài sản, thấy thèm muốn, thán phục nếu ai đó có nhiều quần áo, xe, điện thoại, nhà…”xịn” hoặc tiêu xài sang hơn mình. Chúng ta đang tiêu dùng nhiều hơn chúng ta kiếm được.

5. Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể: Nói chung trong những người bình thường, chúng ta thường hay đùn đẩy trách nhiệm, bất kỳ việc gì chuyển được sang cho người khác cũng đều thấy nhẹ cả người. Khi xảy ra sai phạm đó sẽ là lỗi chung của cả tập thể chứ không của riêng cá nhân nào. “Sẵn sàng” nhận cả “phần” không phải của mình…

6. Thể lực kém: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế độ dinh dưỡng, chương trình học quá tải, học lệch, tâm lí lười vận động… Và hậu quả là khi làm việc với các đồng nghiệp nước ngoài, mặc dù rất cố gắng nhưng người Việt trẻ vẫn rất hay bị hụt hơi và cảm thấy khó có thể theo được cường độ làm việc của họ.

7. Thiếu thực tế: Ông Kim Woo Choong – Chủ tịch Công ty Deawoo viết: “tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ… lịch sử thuộc về những người biết ước mơ”. Nhưng đó là những ước mơ hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Chúng ta thường hay suy nghĩ viển vông, thiếu suy nghĩ thực tế và chưa có suy nghĩ học là để làm việc.

8. Tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế. Thế kỷ 21 là thế kỷ làm việc theo nhóm vì tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ngay cả văn học và nghệ thuật, một cá nhân cũng không thể đảm đương được. Mạnh ai nấy sống…

9. Tác phong công nghiệp: Ðây là điểm rất quan trọng, có thể bao hàm một vài điểm đã nêu trước. Một nhà xã hội học Mỹ nói về nguồn gốc của cách làm việc tiểu nông như sau: “Anh nông dân sau khi gieo lúa xong có thể nhậu lai rai, ngủ dài dài và chờ đến thời điểm nhổ cỏ, bón phân mới làm tiếp. Mà việc này có làm muộn vài ngày cũng chẳng sao, không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới. Nhưng một người công nhân đứng máy luôn luôn phải đúng giờ, có thao tác chính xác tuyệt đối và tinh thần kỷ luật cao. Một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tác hại đến cả dây chuyền.”

10. Thích đi trên lối đi có sẵn – Lối mòn, không thích tự mình mở ra một lối đi mới cho riêng mình.

S.T / Red VN

Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, ‘cái nôi’ của giải ‘Nobel giáo dục’

VỐN ĐƯỢC BIẾT ĐẾN LÀ MỘT QUỐC GIA GIÀU CÓ VỀ DẦU MỎ NHƯNG QATAR CÒN ĐƯỢC XẾP TOP ĐẦU THẾ GIỚI VỀ NỀN GIÁO DỤC CHẤT LƯỢNG CAO.

Tiến sĩ Abdulla bin Ali Al-Thani, thành viên hoàng tộc Qatar, cựu giảng viên đại học từng đưa ra quan điểm giáo dục khiến nhiều người vô cùng bất ngờ: “Dầu mỏ và khí đốt không mang tới may mắn kéo dài. Vì thế, điều quan trọng hơn cả là nên tập trung vào thứ gì đó bền vững. Trong đó, đặt giáo dục làm ưu tiên chính là cách duy nhất để tiến lên, đặc biệt là trong thế giới Ả Rập”.

Tuy nhiên, một hệ thống giáo dục chất lượng cao không thể trở nên tốt lên trong một đêm. Vì vậy, Qatar quyết định bắt tay với các đối tác nước ngoài và tới năm 2012, trong khuôn viên thành phố giáo dục (Education City) ở Qatar, đã có tới 8 trường ĐH quốc tế, chủ yếu là Mỹ, đã thiết lập cơ sở giáo dục. Hiện tại, đã có hơn 300 trường quốc tế thiết lập tại Qatar.

Nhắc tới thành phố giáo dục, đây là một sáng kiến của Quỹ Giáo dục, Khoa học và Phát triển cộng đồng Qatar từ năm 1997, nằm ở ngoại ô thủ đô Doha, sở hữu diện tích 14 km2 và chứa các cơ sở giáo dục từ trường học, khu nghiên cứu đến chi nhánh của các trường đại học nước ngoài. Phần lớn các trường ĐH ở đây đều sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính.

Qatar là một quốc gia nhỏ nằm ở phía Đông Bắc vùng duyên hải của bán đảo Ả Rập, diện tích hơn 11.000km2, dân số gần 3 triệu người. Tuy vậy, Qatar vốn được biết đến là một trong những quốc gia giàu nhất thế giới với nguồn tài nguyên dồi dào từ dầu mỏ và khí đốt. Được biết, nền giáo dục của đất nước này được hưởng lợi rất nhiều từ nguồn thu từ dầu mỏ.

Vì không muốn dầu mỏ cạn kiệt, nền kinh tế thịnh vượng cũng biến mất theo nên Qatar đã đầu tư nghiêm túc cho nền giáo dục. Năm 2021, Qatar đứng đầu danh sách các quốc gia Ả Rập trong Chỉ số chất lượng giáo dục thế giới của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). Hiện tại, Qatar đứng thứ 4 trên thế giới và số 1 trong khu vực Ả Rập về chất lượng giáo dục.

Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, cái nôi của giải Nobel giáo dục - Ảnh 1.

Những nguyên tắc trong giáo dục

Phong trào cải cách mang tên Giáo dục kỷ nguyên mới (EFNE) với khẩu hiệu “Sinh viên được đặt vào trung tâm của việc giảng dạy” đã thúc đẩy sự khởi sắc của Qatar vào những năm đầu thế kỷ 21. Các tiêu chuẩn giảng dạy mới đã được thiết lập ngay từ lớp 1-12, đặc biệt là các môn Toán, Khoa học, Tiếng Anh và Tiếng Ả Rập.

Hơn hết, phong trào cải cách này cũng yêu cầu học sinh nên chủ động và chịu trách nhiệm trong việc học tập, còn giáo viên sẽ đóng vai người hướng dẫn và hỗ trợ thay vì chỉ truyền đạt kiến thức như trước. Giáo viên cũng được khuyến khích thiết kế chương trình giảng dạy riêng để học sinh có nhiều trải nghiệm học tập hơn.

“Cái nôi” của giải “Nobel giáo dục”

Qatar là đất nước đầu tiên tạo ra một giải thưởng danh giá, có ý nghĩa tương đương với giải Nobel từ năm 2011. Đó là giải thưởng WISE trị giá 500.000 USD. Giải thưởng này sẽ công nhận một cá nhân hoặc một nhóm tối đa 6 người vì những đóng góp nổi bật mang tầm quốc tế cho giáo dục. Người đầu tiên nhận giải thưởng này là Fazle Hasan Abed đến từ Bangladesh vì những nỗ lực mang nền giáo dục tiểu học tới những cộng đồng nghèo nhất trên thế giới, từ Afghanistan đến Nam Sudan.

javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(4132);}else{parent.admSspPageRg.draw(4132);}

“Mục tiêu của chúng tôi là nâng cao nhận thức toàn cầu về vai trò quan trọng của giáo dục ở mọi nền xã hội, tạo ra nền tảng cho các giải pháp thực tiễn và sáng tạo, giúp giảm bớt một số thách thức mà giáo dục thế giới đang phải đối mặt”, website chính thức dẫn lời chủ tịch Quỹ.

Trường đại học nổi tiếng nhất

Không chỉ sở hữu cảnh quan đẹp tuyệt vời, Đại học Qatar – một trường đại học nghiên cứu công lập nằm ở ngoại ô phía bắc của thủ đô Doha – còn được biết đến là nơi sở hữu chất lượng đào tạo tốt nhất của Qatar. Thành lập vào năm 1973, Đại học Qatar sở hữu 10 trường thành viên trải dài ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nghệ thuật và Khoa học; Kinh doanh và Kinh tế; Giáo dục; Kỹ thuật; Luật; Sharia và Nghiên cứu Hồi giáo; Dược; Khoa học Sức khỏe…

Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, cái nôi của giải Nobel giáo dục - Ảnh 2.
Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, cái nôi của giải Nobel giáo dục - Ảnh 3.
Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, cái nôi của giải Nobel giáo dục - Ảnh 4.
Giáo dục Qatar xếp thứ 4 thế giới, hơn 300 trường quốc tế, cái nôi của giải Nobel giáo dục - Ảnh 5.

Là trọng điểm của nền giáo dục Qatar nên đầu vào trường không hề dễ, một trong số những tiêu chuẩn đó là sinh viên phải đạt chuẩn nhất định về Toán và tiếng Anh. Nhiều sinh viên không muốn mình bị thụt lùi so với chúng bạn nên thậm chí phải theo các khóa dự bị trước khi được nhận vào học chính thức.

Đến nay, các cựu sinh viên nổi bật của trường có thể kể đến như: Moza bint Nasser – Con gái của Nasser bin Abdullah Al-Missned, một nhà hoạt động đối lập nổi tiếng và là cựu lãnh đạo liên minh Al Muhannada của Bani Hajer; Mohammed bin Abdulrahman bin Jassim Al Thani – Phó thủ tướng Qatar; Mariam Al Maadeed – Nhà khoa học người Qatar; Nasser Al-Khelaifi – Doanh nhân, chủ tịch câu lạc bộ bóng đá Paris Saint-Germain…

BXH Đại học Thế giới năm 2022 của Quacquarelli Symonds (QS) mới đây đã công bố Đại học Qatar nằm trong top 224 trường đại học tốt nhất thế giới (tăng 21 bậc so với năm ngoái). Trong tương lai, trường đặt mục tiêu xếp hạng trong top 200 trường đại học hàng đầu thế giới.

Theo Lân Lan / Phụ nữ Việt Nam