46 cách chữa BỆNH bằng MẸO ,Quý Vị nhớ giữ kỹ ,kẻo mất uổng lắm …

Mẹo vặt chữa bệnh

Cơ thể người là một bộ máy sinh học vô cùng huyền diệu, có khả năng tự điều chỉnh rất cao. Nắm được cơ chế của nó qua các đồ hình và sinh huyệt sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh mỗi khi bị trục trặc. Diện chẩn điều khiển liệu pháp Bùi Quốc Châu sẽ tặng bạn “chiếc đũa thần” nhằm giúp bạn tự hóa giải mỗi khi “ngọc thể” bất an.

  1. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:

Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.

  1. Mắt nhắm không khít:

Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.

  1. Mũi nghẹt cứng:

Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.

  1. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:

Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.

  1. Bong gân, trật khớp cổ tay:

Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).

  1. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:

Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.

  1. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):

Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.

  1. Gai gót chân:

Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.

  1. Đầu gối đau nhức:

Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.

  1. Bị táo bón lâu ngày:

Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.

Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!

  1. Nhức đầu

a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.

b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.

c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.

d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.

e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.

f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.

g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.

h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.

i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.

k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.

l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.

k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.

  1. Mất ngủ

Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.

  1. Sình bụng (do ăn không tiêu)

Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!

  1. Bí tiểu

Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!

  1. Nấc cụt

Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:

a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).

b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!

c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!

  1. Đau bụng

Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:

a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.

b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.

c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.

  1. Đau tử cung:

a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.

b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.

  1. Đau đầu dương vật:

Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.

  1. Đau khớp háng:

Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.

  1. Đau gót chân:

Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.

  1. Đau bụng kinh:

Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.

  1. Ho ngứa cổ:

a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.

b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.

  1. Huyết áo cao:

Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.

  1. Huyết áp thấp:

Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.

  1. Huyết trắng:

Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.

  1. Bế kinh:

Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.

  1. Lẹo mắt (lên chắp)

Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.

  1. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)

Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.

a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.

b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.

  1. Mắt không di động được

Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.

  1. Đắng miệng

Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!

  1. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)

Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.

  1. Hắt hơi liên tục

Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).

  1. Ho khan lâu ngày

Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.

  1. Hóc (hột trái cây, xương)

Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.

  1. Các khớp ngón tay khó co duỗi

Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.

  1. Mắt quầng thâm

Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.

  1. Buồn ngủ nhíu mắt lại

Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.

  1. Nhảy mũi

Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!

  1. Quai bị

Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.

  1. Nhức răng

Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.

  1. Mắt đỏ

Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.

  1. Mắt nhức

Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.

  1. Mắt nháy (giật)

Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.

  1. Tê lưỡi, cứng lưỡi

a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.

b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.

  1. Khan tiếng

a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.

b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày

SƯU TẦM

Hội trại kỷ niệm 50 chiến thắng Thượng Đức

Nửa thế kỷ đã trôi qua, máu và nước mắt đã khô, màu xanh đã lại phủ trên chiến trường khốc liệt, song kí ức về chiến trường Thượng Đức sẽ không bao giờ phai.

Clip do Duy Lộc quay toàn cảnh đêm hội trại với sự tham gia phần cổng trại của tất cả các xã trên địa bàn và đông đảo bà con quê nhà đến chiêm ngưỡng đêm 6-8. Một sắc màu rực rỡ, lung linh huyền ảo của ánh sáng bên tượng đài chiến thắng, và đây là nơi hơn nữa thế kỷ trước một căn cứ quân sự khắt tiếng của quân lực VNCH trấn giữ Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung Tây Nguyên đã được làm diệu lại sự tàn phá, mất mát của chiến tranh!

Xin cúi đầu tưởng niệm cho tất cả nạn nhân trong chiến tranh trên quê hương tôi.

Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày chiến thắng Thượng Đức được diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 07/8/2024 được tổ chức tại khu vực di tích Đại điểm chiến thắng Thượng Đức và được truyền hình trực tiếp trên sóng đài QRT và chắc chắn Duy Lộc Cũng trực tiếp mời bà con đón xem!
https://youtu.be/sCIbhqyqWrw

PHẢN BIỆN NHỮNG SAI LẦM CỦA THƯỢNG TOẠ THÍCH CHÂN TÍNH

  • VŨ THẾ NGỌC

Vừa qua, nhân sự kiện sư Thích Minh Tuệ nổi tiếng trên mạng xã hội, TT Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp, đã có bài nói chuyện, tuy ít người chú ý nhưng tôi cho rằng đó chính là cơ sở lý luận học thuật của GHPGVN và của những người không đồng ý với pháp tu Đầu Đà khất thực của sư Minh Tuệ.

Trước hết bài của TT Thích Chân Tính đã sai lầm khi cho rằng giáo pháp Đầu Đà là giáo pháp tu hành khắc kỷ quá khích của ngoại đạo mà Thái tử Tất Đạt Đa đã từ khước nên sau đó mới trở thành Đức Phật với giáo lý Trung Đạo. Trong bài nói chuyện này, vô tình hay cố ý TT Thích Chân Tính đã cho rằng hạnh Đầu Đà (dhutanga) mà sư Minh Tuệ đang hành trì “không phải là giáo pháp Phật giáo chính thống vì chính Đức Phật đã khước từ bỏ để theo giáo pháp Trung Đạo nên mới chứng ngộ giải thoát”. Điểm quan trọng là lời giảng này của TT Thích Chân Tính lại trùng khớp với tuyên cáo “Ông Lê Anh Tú không phải là tu sĩ Phật giáo” trong thông báo của TT Thích Đức Thiện, nhân danh GHPGVN, bố cáo với toàn thể tổ chức GHPGVN và đồng bào để nhờ chính quyền can thiệp.

Thứ nhất, có lẽ vì quá bận rộn với sự quán xuyến đại tự Hoằng Pháp nên TT Thich Chân Tình không có thời gian đọc kỹ kinh luận. Sự thật Đức Phật chỉ khước từ lối khổ tu đương thời là trừng phạt thân xác (danta) từ hạn chế ăn uống hoạt động đến hành hạ thân xác như tự đánh đập, tắm nước bùn, tắm phân bò để “sinh thiên” (svarga) mong kết quả thống nhất hiệp thông với Thượng đế Brahma – Cho đến ngày nay chúng ta còn thấy còn một số tu sĩ Ấn Độ gầy gò, lõa thể ở giữa phố chợ, đứng suốt ngày một chân và dùng roi tự đánh đập thân thể – Đây chính là phép khổ tu ép xác mà Đức Phật từ khước vì cho rằng đây chỉ là pháp tu hình tướng, ép xác khổ hành đè nén dục vọng thân xác nên chưa thể đưa hành giả đến giải thoát (mokṣa).

Đầu Đà (dhuta – 頭陀) nguyên nghĩa là “rũ sạch”. Đầu Đà là pháp hạnh chính thống của Phật giáo và không phải lối tu hành xác mà Đức Phật khước bỏ. Hạnh tu Đầu Đà đã được ngài Pháp Âm (Buddhagghosa) giải thích rất cặn kẽ rõ ràng trong luận Thanh Tinh Đạo (Visuddhi-magga) Thượng Tọa Bộ (Theravāda) của Đại Tự (magāvihāra). Vắn tắt theo luận này, Đầu Đà gồm 13 pháp hành trì gọi là Đầu Đà TamThập Pháp gồm: (1) pamsukūlika-aṅga: tức phấn tảo y là mặc phục rách vá bằng vải nhặt; (2) tecivarika-aṅga: mặc y phục ba phần: 3) pindātika-aṅga: chỉ khất thực để sống; (4) sapadānacārika-aṅga: tức thứ đệ khất thực có nghĩa là khất thực giao duyên không phân biệt nhà giầu nghèo; (5) ekāsanika-aṅga: chỉ ăn một lần trong ngày; (6) pattapindika-aṅga: chỉ ăn một phần; (7) khalupacchābhattika-aṅga: tức tàn thực là không ăn giữa bữa; (8) araññika-aṅga: ở rừng; (9) rukkhamūlika-aṅga: ở gốc cây; (10) abbhokāsika-aṅga : ở giữa trời; (11) sosānika-aṅga: ở nghĩa địa; (12) yathāsanthatika-aṅga; ngủ đâu cũng được: (13) nesanjjika-aṅga: chỉ ngồi mà không nằm.

Tóm lại, thứ nhất hạnh tu Đầu Đà (dhuta – 頭陀) là pháp tu chính thống của Phật giáo chứ không phải là pháp tu ép xác ngoại đạo mà Đức Phật khước từ. Tu hạnh Đầu Đà rất gian khổ, đòi hỏi hành giả ngoài nỗ lực ý chí phi thường còn cần phải có một thân thể kiên cường, cho nên rất ít hành giả có thể tu theo pháp môn này. Cho nên Đức Phật từng tán dương Ca Diếp (Mahākāśyapa) cả đời là một vị tu theo giáo pháp Đầu Đà (và sau đó trao truyền “chánh pháp nhãn tạng” cho Ca Diếp như truyền thừa Thiền tông tin tưởng). Trong lịch sử Phật giáo không chỉ có ngài Ca Diếp mà xưa nay cả Nam tông lẫn Bắc tông đều có một số tu sĩ tiếp tục tu theo pháp hạnh này. Trong lịch sử Việt Nam chúng ta còn biết vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã từng tu theo hạnh này nên ngài còn mang tên là Trúc Lâm Đầu Đà (竹林 頭陀) hay Huơng Vân Đại Đầu Đà (香雲大頭陀). Sư Minh Tuệ không phải là người sáng tác ra hạnh tu này, đúng theo lời sư Minh Tuệ luôn nói “con chỉ là một người tập tu theo mười ba hạnh Đầu Đà khất thực theo kinh Phật”. Hiện nay Sư Minh Tuệ khác biệt và chói sáng vì là một vị sư cương quyết và có ý chí nguyên thực hành pháp tu này trong thời đại hiện tại, và đặc biệt là trong thực tế đặc thù Phật giáo VN đang trong trào lưu dùng các các phương tiện phát triển hình tướng chùa to tượng lớn, phát triển lễ hội, du lịch tâm linh và pháp thoại trên truyền thông đại chúng.

Thứ hai, giáo pháp Trung Đạo (madhyamapraripad) của Phật giáo không đơn là pháp tu “không thái quá không bất cập” như tư tưởng Trung Dung của Nho Giáo, hay lý thuyết “trung bình cộng” của chủ thuyết duy vật phổ biến như TT Thích Chân Tính giải thích trung đạo là ở giữa thái cực giữa đời sống vật chất và ép xác khổ hạnh. Giáo lý Trung Đạo không đơn giản và nặng hình tướng vật chất như chọn lựa giữa cách ăn ba bữa và ăn một bữa, hoặc tập trung tu học trong tự viện hay độc tu trong rừng núi, hoặc đi khất thực từng ngày hay nấu nướng trong tự viện, mà là một giáo pháp vượt thoát mọi nhị biên để tiến vào tính không giải thoát. Giáo lý Trung Đạo luôn luôn là một giáo lý thông suốt mọi giáo lý tông môn. Giáo lý Trung Đạo dù thường được nói nhiều ở VN nhưng rất ít người tu học vì kinh luận vừa thiếu và Trung Quán Tông cũng không có truyền thừa ở VN. Tôi đã cho xuất bản mười biên khảo trong Tùng Thư Long Thọ và Tính Không đã in ở VN trong thập niên vừa qua là cũng mong phổ biến thực sự giáo lý Trung Đạo này, rất hy vọng độc giả VN quan tâm.

Thứ ba, khi cho rằng thời Phật còn tại thế các sư chỉ tập họp sống ở các tự viện như Kỳ Viên Tịnh Xá thì quả rằng TT Thích Chân Tính đã không đọc kỹ kinh luận khi cho rằng lối sống độc cư của hạnh Đầu Đà không phải là giáo pháp chính truyền đã có từ thời Đức Phật hành đạo. Người thực học kinh điển Phật giáo đều biết rằng ngay từ thời Đức Phật còn tại thế đã có rất nhiều tăng sĩ ngài độc cư hay rời xa Đức Phật mà đi truyền pháp bốn phương. Hạnh độc cư luôn luôn được Đức Phật ca ngợi trong nhiều kinh luận. Quyển kinh quen thuộc Kinh Pháp Cú (dhammapada) trong phẩm Tỳ Khưu (bhikku-vagga) từng kể chính Đức Phật chúc mừng nhóm đệ tử “vào rừng sống độc cư” đều đắc quả A la Hán so với nhóm tu sĩ tu học kinh điển ở tịnh xá. Cũng trong phẩm Bà La Môn (bhahmana-vagga) của kinh này, Đức Phật cũng ca ngợi đại đức Kisa Gotami “đắp bộ ý vá bằng giẻ rách lượm ở đống rác đi vào độc cư trong rừng”. Coi thường pháp hạnh độc cư hay xem hạnh tu Đầu Đà “không phù hợp với đời sống 4.0 hiện đại” thì quả thật TT Thích Chân Tính mới chính là người đã rời bỏ cứu cánh của đạo Phật là đạo giải thoát (mokṣa) khi sư vội vã tìm cách thích nghi hay thỏa hợp với trào lưu đời sống hiện đại theo các phong trào đạo Phật ngày nay hay hiện đại hóa gọi là “tốt đời đẹp đạo”.

Thứ tư, điều lo sợ của TT Thích Chân Tính là nếu người ta bỏ đi tu theo hạnh đầu đà thì không còn ai dịch sách, in kinh hay tu học kinh điển thì vô cùng thơ ngây và đơn giản. TT Chân Tính quên rằng Phật Pháp ngoài pháp hạnh Đầu Đà còn có rất nhiều pháp hạnh (thường gọi là 8400 pháp môn) mà người học Phật có thể tùy theo hoàn cảnh và nhân duyên mà theo đuổi. Xin nhắc lại pháp hạnh Đầu Đà chỉ là một giáo pháp chính truyền nhưng xưa nay rất khó có người thực hành, nên bây giờ người Việt Nam dù ca tụng sư Minh Tuệ tu hạnh Đầu Đà thì giống như chúng ta dù có ca tụng thi sĩ Nguyễn Du nhưng không ai lo sợ rằng toàn nước chỉ toàn người chỉ biết làm thơ.

Bây giờ tôi mới xin thảo luận cũng rất vắn tắt về ý nghĩa tích cực của hiện tượng sư Minh Tuệ trong tình hình Phật giáo VN. Nguyên nhân và bối cảnh của “cuộc cách mạng thầm lặng” này là tổng thể thì chúng ta thấy hiện tượng toàn cảnh chung của thế giới và VN mà rất nhiều người đã và đang thảo luận. Ở đây chúng ta tạm không thảo luận về thực tế toàn cảnh thế giới về chiến tranh, dịch bệnh và thiên tai, chỉ riêng về hiện tình Phật giáo VN và cũng bỏ ra ngoài các khác biệt tông môn giáo phái hay quan điểm chính trị. Bên cạnh các thành quả là các chùa to tượng lớn hay các lễ hội đông đảo, đại đa số người Phật giáo VN đều chứng kiến rất nhiều hình ảnh tiêu cực của các sinh hoạt Phật giáo từ các đường lối hành trì đến phẩm chất của rất nhiều tu sĩ (tôi không muốn lập lại tên tuổi ở đây vì biết rằng bên cạnh các con người bất xứng này vẫn có các tu sĩ thực tu thực học). Nhưng dù sao nhiều tin tức tiêu cực cũng đã khiến người tin Phật không khỏi mỏi mệt và mất niềm tin vào các tổ chức giáo hội hiện nay.

Cuộc hành trì khất thực của sư Minh Tuệ, dù chính bản thân của sư không tự nhận là tu sĩ hay đăng đàn giảng pháp, nhưng quả thật lối sống thuần khiết hành trì giới luật của pháp tu Đầu Đà đã là một giáo pháp thân hành, dù không hùng hồn ngôn thuyết nhưng đã là một dòng nước mát làm sống lại trong quần chúng niềm tin vào chính pháp chân chính của Phật giáo mà trong những năm qua đã bị ẩn dưới các pháp môn hình tướng. Tôi mong rằng giáo pháp vô ngôn này sẽ tạo thành một cuộc cách mạng trong toàn diện sinh hoạt xã hội. Như kinh Phật từng nói hương thơm đạo đức sẽ tỏa hương ngược gió lan tràn trong mọi sinh hoạt, cuộc cách mạng thầm lặng này sẽ là một trùng sinh lại giáo pháp mà Đức Phật từng chuyển pháp luân. Tôi mong rằng các tôn túc vẫn còn trong mọi giáo hội. Đặc biệt rằng GHPGVN, sẽ có dịp tự chỉnh đốn lại các khiếm khuyết của mình. Thay vì đứng vào lập trường phê phán và mỉa mai sư Minh Tuệ thì hãy theo ý kiến của đa số quần chúng Phật giáo đồ mà thanh tịnh lại các thành phần bất xứng trong mọi thành phần tăng chúng.

Tôi gọi hiện tượng sư Minh Tuệ là “cách mạng thầm lặng” với lạc quan mong rằng hiện tượng sư Minh Tuệ không chỉ là tiếng kêu trầm thống giữa thời đại nhiều người gọi là mạt pháp (paścimkāla) mà còn là một nguồn gió mát làm sống lại các phẩm chất cao quí mà trong nhiều năm tháng vừa qua chúng ta đã chỉ sống trong các giá trị vật chất của cuộc sống bị bủa vây bởi các thực tế ngắn hạn, từ đời sống kinh tế cho đến đức tin tôn giáo. Để cuối cùng chúng ta có thể thức chứng giáo một cách sống động lý vô thường, vô ngã mà Đức Phật đã chỉ ra từ hơn hai mươi sáu thế kỷ trước.

Vũ Thế Ngọc
(15-6-2024)

🔸 TS Vũ Thế Ngọc học Triết học, Văn học và Khoa học xã hội ở Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn trước năm 1975. Sau sang Mỹ học tiếp, tốt nghiệp Cao học xã hội, Tiến sĩ Nhân chủng học và tiến sĩ Kinh tế, Đại học California Santa Barbara. Ông là tác giả và dịch giả của một số tác phẩm triết học Đông phương: Trí tuệ giải thoát, Lão Tử Đạo đức kinh, Thế giới thị ca thiền hàn, Trà kinh,…

Oliver Kahn

Tháng 6 năm 2002, phút thứ 67 trong trận chung kết World Cup cách đây tròn 22 năm, sau khi nhận đường chuyền từ người đồng đội, Rivaldo tung ra cú sút từ ngoài vòng cấm địa về phía khung thành đội tuyển Đức.
Với cú sút chìm ấy, Oliver Kahn lại không thể bắt trọn, và trái bóng ói ra khỏi tầm với của anh.
Chẳng chần chừ, Ronaldo de Lima với tốc độ và khả năng chớp thời cơ, ập vào ghi bàn thắng khai thông thế bế tắc trong sự vỡ oà của những người hâm mộ. Cả cầu trường sân vận động Yokohama vỡ oà, những người Brazil ôm nhau ăn mừng, các cầu thủ Đức bàng hoàng trong khi Kahn chỉ lặng lẽ cúi đầu.

Trước trận đấu, với việc Michael Ballack đã lĩnh án treo giò, mọi hi vọng và tâm điểm đều đổ dồn vào anh, người thủ lĩnh mạnh mẽ. Bởi trong đội hình tuyển Đức thời bấy giờ, còn ai có sức mạnh chuyên môn, phong độ và tinh thần mạnh mẽ, đủ khả năng cản bước bộ ba tấn công Ronaldo, Rivaldo và Ronaldinho từ xứ Samba như Kahn.
Vậy mà trớ trêu thay, báo chí khi ấy lại nói anh là người mắc lỗi, để gián tiếp gây ra bàn thua, trong trận chung kết mà không phải cầu thủ nào cũng có cơ hội được tham dự. Với một thủ môn, điều đó đau đớn vô cùng.

“Khoảng cách giữa người hùng và tội đồ ngày càng nhỏ, đặc biệt là với vị trí thủ môn. Lúc trước, mọi áp lực luôn tìm đến tôi nhưng giờ tôi phải đi tìm lại nó. Tôi cần có nỗi sợ. Nỗi sợ khiến tôi thức dậy và tập trung ngay lập tức.” Thật vậy, nỗi sợ hãi có thể huỷ hoại những con người mang trái tim yếu đuối, nhưng mặt khác nó lại kích thích người như Kahn trở nên mạnh mẽ hơn, chạm đến từng giới hạn của bản thân và vượt qua thất bại.

Sau trận đấu đó, Oliver Kahn đã trở thành thủ môn đầu tiên trong lịch sử giành danh hiệu cầu thủ hay nhất tại một kỳ World Cup. Anh nhận được 147 phiếu bầu của các nhà báo, vượt qua chính Ronaldo, khi đưa Die Mannschaft vào đến chung kết với số bàn thua thấp nhất giải đấu – 1 bàn. Sau đó, anh trở thành thủ môn có số trận giữ sạch lưới nhiều nhất Bundesliga với 197 trận, thi đấu 557 lần cho Bayern Munich với rất nhiều danh hiệu.

Ở Kahn là một chất Đức mạnh mẽ, quyết đoán, nhạy bén, kiên cường, nó nhiều hơn bất cứ ai và bằng chính cá tính cùng tài năng của mình, anh đã khẳng định được vị thế bản thân giữa một dãy ngân hà đầy ắp các vì tinh tú. Anh không chỉ là ngọn núi lửa phun trào giận dữ vào đối thủ, là bức tường chắn mạnh mẽ trước khung thành, anh còn là ‘Der Titan’ ở Đức và là King Kahn với những người hâm mộ châu Á.

Happy Birthday Oliver Kahn ❤️


OFFLINE HÀ NỘI trận 🇩🇪🇭🇺 ngày 19/6:

ANH TÚ ĐANG TU ĐẠO GÌ?

Rất nhiều những hiểu nhầm và kiến thức sai về anh Tú (Minh Tuệ) đang lan truyền hàng ngày trên MXH nhất là Facebook. Facebook vốn chỉ là nơi thượng vàng hạ cám như cái chợ, tình trạng hiểu nhầm hiểu sai và những kiến thức kém chất lượng lan truyền cũng là chuyện đương nhiên phải có. Nhất là khi những người viết bài hay làm video về anh Tú không có hiểu biết gì về Phật giáo, thường viết hay làm để bày tỏ ra quan điểm cá nhân phục vụ cho những ý định đơn giản không có tính cách chuyên môn.

Vì vậy việc nên làm là cần có những tiếng nói cởi bỏ những hiểu nhầm và xua tan những kiến thức sai, góp phần tạo ra một nhận thức chung đúng đắn cho cộng đồng.

Về anh Tú (hiện tượng Minh Tuệ) người viết nhận thấy có rất nhiều quan niệm sai lầm được người ta chấp nhận như chuyện mặc định là đúng, dù thực tế nó không đúng. Nêu ra vài điểm dễ thấy trước:

  • Anh Tú đang là sư thầy?
  • Anh Tú đang là đệ tử nhà Phật?
  • Anh Tú đang tu theo Phật pháp ?
  • Anh Tú đang hành 13 hạnh đầu đà?
  • Anh Tú đang truyền dạy Phật pháp?
  • Anh Tú thuộc trường phái hay hệ phái nào của Phật giáo ?
  • Anh Tú là bậc chân tu?

1- Anh Tú đang là sư, thầy?

Vấn đề này đã có nhiều bàn luận, không cần thiết nêu ra đây thêm. Anh Tú là một hành giả đang có vẻ ngoài là tu theo Phật pháp, và không thừa nhận mình là sư hay thầy. Vậy thì anh Tú là cư sĩ tại gia nhưng muốn sống đời du sĩ. Người Ấn-độ gọi đây là Sa-môn (śramaṇa), đạo sĩ. Chúng ta tạm chấp nhận anh Tú là một đạo sĩ, theo truyền thống quan niệm Ấn-độ xưa và nay, dù rằng quan niệm như thế có thích hợp với văn hóa người Việt Nam hiện đại hay không là câu chuyện khác. Dù là gì, anh Tú không phải là tu sĩ hợp cách của Phật giáo.

2- Anh Tú đang là đệ tử nhà Phật?

Anh Tú từng là tu sĩ sa-di (samanera), sa-di là tu sĩ tập sự, anh Tú thuộc hệ Phật giáo Bắc Tông, cụ thể là thuộc tu viện Chơn Như, sau đó rời chùa ra đi, dù các bậc trưởng thượng của anh Tú đã không đồng tình.

Tưởng cũng nên nhắc lại, Tu viện Chơn Như tuy thuộc Bắc Tông nhưng luôn có khuynh hướng dị biệt, chỉ trích tất cả các trường phái Bắc Tông và Nam Tông khác và muốn đi riêng một lối không giống ai, không giống Bắc Tông mà chả giống Nam Tông. Nói tu viện Chơn Như là trường phái Phật giáo mới phát sinh tại Việt Nam là chính xác không sợ sai lầm.

Khi ra đi anh Tú cũng đã vứt bỏ y áo sa-di mà tự chế ra tấm y mới mà ta thấy bây giờ. Y anh Tú đang mặc này nó không phải là y phấn tảo, Vì theo Luật Tạng y Phấn tảo phải nhuộm hư hết màu sắc và thành một màu thuần mới đúng luật đúng pháp.

Vậy thì anh Tú đã mất đi tư cách tu sĩ sa-di. Đây là chiếu theo Luật tạng của Nam Tông và Bắc Tông, không ai chấp nhận điều anh Tú đang hành này. Hệ tiêu chuẩn này chưa từng thay đổi từ khi đạo Phật ra đời đến nay.

Kế nữa, anh Tú nhiều lần chấp nhận cho tu sĩ Phật giáo lễ lạy mình, là trái với luật tạng. Người đã mất tư cách tu sĩ, là cư sĩ tại gia thì không được phép nhận lễ lạy của tu sĩ thọ giới cao hơn mình. Trừ một số trường hợp đặc biệt như trong truyền thống Mật Tông Kim Cương Thừa người thầy phát nguyện tái sinh lại, được đệ tử tìm thấy đưa về chốn cũ để cho vào đời sống tu viện tiếp tục. Người thầy lúc này tuy chưa xuất gia và còn nhỏ bé, nhưng đứa trẻ vẫn nhớ tiền kiếp và nhận ra các đệ tử của mình, vẫn có thể nhận lễ lạy của những vị đệ tử tu sĩ lớn tuổi đạo tuổi đời hơn. Đây là truyền thống “tôn sư trọng đạo” chứ không phải là theo Luật. Nghĩa là nó là ngoại lệ chấp nhận được dù trái luật.

Đây là anh Tú mặc nhiên thừa nhận anh Tú là tu sĩ cao hơn, vậy là mâu thuẫn. Anh Tú đã không học kinh và Luật để biết hết luật nhà Phật mới dẫn tới tình trạng này. Đây là cái sai lớn của anh Tú, nhưng ý nghĩa chính là anh Tú tự nhận mình cũng là một hành giả vĩ đại hay đạo sư lớn, tức là một sa-môn, đạo sĩ.

Từ bỏ tư cách một tu sĩ sa-di Phật giáo để làm một đạo sĩ loại khác, vậy thì anh Tú đang xếp mình vào một trong hai trường hợp phát sinh mới:

  • Trường hợp 1: Anh Tú đang lập ra một hệ loại tu sĩ mới của Phật giáo giống như hình thức tu nữ (Nam Tông -Theravada) hay hình thức Ngakpa ( hành giả Mật thừa – Mantrika) của Phật giáo Tây Tạng, tuy là đắp y thọ giới nhưng là y loại khác và giới loại khác và mang tính riêng biệt không giống với y giới của tu sĩ Phật giáo hay y giới của cư sĩ Phật giáo. Điểm khác rõ nhất giữa anh Tú và hai loại hành giả trên, là các hình thức tu nữ ( nữ tu thọ 8 giới hoặc 10 giới) hay Ngakpa luôn có Hội đồng Tăng thông qua cho phép và có sự truyền giới đúng pháp. Còn anh Tú là tự chế ra không thông qua một hội đồng Tăng nào cho phép thông qua cũng không có sự truyền giới truyền y nào hợp cách. Đây hoàn toàn là sự tự chế của anh Tú 100%.

Tưởng cũng nên nhắc qua về luật Phật giáo. Đó là khi Phật tại thế lấy Phật làm chủ. Khi Phật nhập diệt rồi thì Tăng đoàn, hội đồng Tăng sĩ hợp cách được bầu chọn theo thể thức của Luật tạng sẽ quyết định mọi thứ, như mô hình chính phủ thế tục, tuy nhiên nó có tính hội đồng chứ không có tính quân chủ phong kiến dù có tồn tại ngôi vị Tăng Thống hay Pháp Chủ được suy tôn. Nam Tông hay Bắc Tông đều như thế. Nó là mô hình quản lý tập thể mang tính Dân chủ theo mô hình cổ xưa ở Ấn-độ. Đây là sự khác biệt của tổ chức Phật giáo với các tôn giáo khác.

Anh Tú không có hội đồng nào thông qua và cho phép, nên anh Tú không thuộc trường hợp này. Anh Tú cũng không phải tu sĩ Phật giáo hợp cách nên không thể là ở trường hợp này.

  • Trường hợp 2: anh Tú tự mình tách ra lập ra Đạo mới, tương tự như ông Đạo Dừa hay Thanh Hải Vô Thượng Sư hay ông Ruma Trần Tâm ở Việt Nam những năm trước kia. Đây là kiểu đạo vay mượn, nói theo dân gian là ăn theo đạo Phật. Vậy thì đây không phải là Đạo Phật mà là đạo khác. Dù có mang danh đặt tên hay lấy hình thức gì đi nữa thì vẫn là đạo khác. Bởi hình thức khác, nội dung khác, giáo lý khác, hành trì khác, chủ trương đường lối khác. Dù có thể có đôi phần giống với Đạo Phật gốc nhờ vay mượn từ đạo Phật gốc.

Chẳng hạn như anh Tú từng nêu ra chủ trương riêng rằng:

  • Không cần thầy, mình cứ tự quy y, tự thọ giới, tự xuất gia.

Thật ra câu này nguyên lấy ra từ câu tam tự quy y trong thời khóa Nhật tụng Phật giáo, có xuất xứ từ Thiền Tông Trung Hoa xưa: “Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát vô thượng tâm. – Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. – Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng hết thảy không ngại”.

Hiểu theo nghĩa triết học nhà Thiền, tự tánh Phật luôn sẵn có nơi chúng sinh, quay về tự tánh Phật là khai ngộ giác tánh bổn hữu, là nghĩa của câu “tự quy y Phật “. Tương tự, tự tánh Pháp luôn sẵn có nơi tâm chúng sinh, quay về tự tánh Pháp là quay về với tự tánh Chân Chánh sẵn có, là nghĩa của câu “Tự quy y Pháp”. Cũng tương tự, tự tánh Tăng luôn có sẵn nơi mỗi chúng sinh, quay về với tự tánh Tăng tức là quay về tự tánh thanh tịnh bổn hữu, là nghĩa của câu “Tự quy y Tăng”.

Chỉ vài dòng ngắn ngủi nhưng triết lý sâu xa và hàm chứa nhiều ý nghĩa triết học rộng lớn, mà những điều này đã được trình bày trong nhiều bản kinh lớn của Phật Giáo Đại Thừa. Triết học này khó tiếp cận với đa số người bình thường.

Anh Tú vì không có thầy dạy giáo lý nên đã hiểu sai nghĩa này của kinh Phật và tự chế ra một cách hiểu mới lệch lạc và thiển cận hơn, biến thành một chủ trương sai lệch với Luật của Phật giáo.

Cách hiểu này không khác gì cách hiểu của ông Lê Tùng Vân khi dạy mấy “chú tiểu” rằng: quy y là quay về nương tựa mấy cái y áo ông đang mặc! 🙂

Tuy nhiên, vì anh Tú đã dùng chủ trương đó của mình để dẫn đạo cho khá nhiều người đi theo, 60-70 người đi theo chủ trương này, nên nó đã được xem là chủ trương chính thức của anh Tú, nhiều người đều ghi nhận.

Ta không bàn đúng sai về nó, vì nó hoàn toàn có tính cách cá nhân do cá nhân đưa ra. Ta nên kết luận công tâm rằng nó không phải của Phật giáo mà là của một Đạo mới do anh Tú lập ra.

Xét về cả 2 phương diện, cả tư cách cá nhân lẫn chủ trương anh Tú, ta buộc phải kết luận anh Tú đang theo một Đạo mới do anh Tú lập ra. Người viết đề nghị hai cái tên: Đạo Nhân Quả, hoặc Đạo Đi Bộ. (Đạo Nhân Quả là của ông Thích Tâm Phật, trưởng bối của anh Tú lập ra và có liên hệ chặt chẽ với anh Tú; hoặc lấy tên Đạo Đi Bộ, dựa theo hạnh đi bộ của anh Tú).

Vậy là anh Tú không phải đang tu theo Phật giáo. Nên anh Tú không phải đệ tử nhà Phật. Ta đã có câu trả lời.

3- Anh Tú đang tu theo Phật pháp ?

Trước hết, Về câu niệm Phật “ A-di-đà Phật!” mà anh Tú niệm nhiều như câu cửa miệng, của bất kỳ người Phật tử Bắc Tông nào ở Việt Nam, thì không thể lấy đây làm căn cứ để kết luận anh Tú đang tu theo đúng đạo Phật chính thống. Nhiều người cũng bắt chước niệm như vậy dù không phải Phật tử.

Về hạnh đầu đà chỉ dành cho tu sĩ Phật giáo ( anh Tú lại không phải) đã bàn rất nhiều, xin tóm lược lại:

  • Về sự thọ trì hạnh đầu đà: anh Tú có tự mồm nói ra nhưng chỉ mới đây chứ trước kia anh Tú bảo là đi bộ rèn luyện sức khỏe. Cái này các bạn YouTuber và Tiktoker đã ép anh Tú vào hạnh này một cách vô tình từ sự hiểu nhầm mà ra.
  • Anh Tú chỉ có giống được mấy phần: hạnh khất thực, ăn ngày một bữa, không để dành đồ ăn, hạnh nhất tọa thực, hạnh khất thực từng nhà, những hạnh còn lại anh Tú không làm được và làm không giống, có khi mâu thuẫn với lời anh Tú nói.

Về pháp môn thực hành, Bắc Tông có Thiền-Tịnh-Mật, Nam Tông có thiền niệm xứ vipasana. Anh Tú đều không hành theo. Anh Tú hành theo kiểu thiền của tu viện Chơn Như, nhưng mới bảy tháng học ở đó đã vội ra đi nên pháp hành anh Tú là câu hỏi bỏ trống không thể xác định vì anh Tú còn mù mờ không học hết hiểu hết.

Về ước nguyện thành “Chánh Đẳng giác” tức là nguyện thành Phật, đây là pháp thuộc về “Nguyện Ba la mật” hay là phát tâm Bồ-đề trong Phật pháp Đại Thừa. Theo truyền thống thì các vị hành giả sẽ tự nguyện trong tâm chứ không nói ra, và chỉ nói ra lời phát nguyện trong các nghi thức phát Bồ-đề tâm trước Đại điện có mời thỉnh chư Phật Bồ tát 10 phương chứng minh, nghĩa là tuân theo nghi thức chặt chẽ; hay các kỳ nhập thất hành trì pháp tu Đại Thừa hay các nghi quỹ Mật Thừa. Anh Tú không được học cái này ở bất kỳ ngôi chùa nào với bất kỳ vị thầy dạy nào, tu viện Chơn Như lại không có phần giáo pháp này, nên chỉ có thể xem là anh Tú tự học lỏm và phát tâm theo. Tuy tốt nhưng chỉ được 1/100 của giáo pháp tiêu chuẩn. Vậy thì không có gì để bàn thêm, vì nó vốn chỉ là lời nói đơn phương của anh Tú, thiếu nội hàm rất nhiều, có thể xem như là không có gì.

Kết luận là anh Tú không theo Phật giáo mà chỉ là vay mượn từ Phật giáo theo kiểu học lỏm. Anh Tú đang đi theo một Đạo mới do anh Tú tự lập ra.

4- Anh Tú đang hành 13 hạnh đầu đà?

  • Ý này đã được bao hàm và đề cập đến trong câu hỏi 3 ở trên.

5- Anh Tú đang truyền dạy Phật pháp?

Quan sát những gì anh Tú thể hiện qua những lời khuyên dạy, chỉ là dạy về những đạo lý căn bản và nông cạn của Phật pháp: giữ 5 giới, ăn chay… mà bất kỳ người Phật tử Bắc Tông nào cũng hành trì hằng ngày, không có gì mới hay lạ.

Nhưng bên cạnh đó anh Tú cũng nêu ra những quan điểm mới:

  • Tự quy y tự thọ giới tự xuất gia. Nghĩa là không cần thầy dạy và không cần thầy truyền giới. Vậy thì anh Tú đã phá bỏ 3 giới quan trọng là “tam quy“. Với anh Tú thì câu “Tôn sư trọng đạo” không có giá trị gì, vì không cần đến “sư”. Đây là cái mới.
  • Đã trụ trì thì không giải thoát, hàm ý của anh Tú là không nên trụ trì. Chỉ có đi bộ suốt năm suốt đời mới đúng, đúng với chủ trương của Đạo mới mà anh Tú đang lập ra. Đây là điểm mới nổi bật.
  • A-la-hán không biết gì ngoài Niết-bàn cả. Cái này cũng là điểm mới khác xa truyền thống Phật giáo chính thống.

Kết luận: anh Tú đã vay mượn nhiều điều từ Phật giáo kết hợp với những chủ trương mới tạo ra một thứ giáo lý mới khác xa so với Phật giáo chính thống, nên không thể xem đây là truyền dạy Phật pháp. Chỉ có thể kết luận là anh Tú đang truyền dạy Đạo mới, truyền bá thứ tôn giáo mới.

6- Anh Tú thuộc trường phái hay hệ phái nào của Phật giáo ?

Về xuất thân, anh Tú xuất thân từ tu viện Chơn Như thuộc Bắc Tông. Nhưng tu viện Chơn Như thì luôn có khuynh hướng dị biệt với tất cả, như một đứa con cá biệt của gia đình Phật giáo, anh Tú lại bỏ tu viện để ly khai, tự lập môn hộ riêng, như những gì chúng ta đã thấy qua phân tích. Trên thực tế tu viện Chơn Như đã quay lưng với anh Tú, và không xem anh là thành viên nữa. Còn anh Tú có thể giữ mối liên hệ chặt chẽ với Đạo Nhân Quả nhưng anh Tú vẫn khác Đạo Nhân Quả ở chỗ xem thường người thầy, yếu tố “sư” trong “ tôn sư trọng đạo”, trong khi Đạo Nhân Quả lại nhấn mạnh tuyệt đối hóa yếu tố “sư” này, coi “sư” là Phật. Đây là khác biệt giữa hai bên.

Có thể kết luận: Trong Đại gia đình tu viện Chơn Như, có nhiều nhánh mới: tu viện Chơn Như 1, tu viện Chơn Như 2, Thiền Tôn Phật Quang, Đạo Nhân Quả, và nhánh Đạo mới của anh Tú. Dĩ nhiên là 2 nhánh Đạo Nhân Quả và Đạo mới của anh Tú chưa chính thức thành lập nên không thể xếp chúng thuộc về trường phái hay hệ phái nào, dù trên nguyên tắc phải xem 2 nhánh này có mối quan hệ anh em với 3 nhánh còn lại của tu viện Chơn Như.

7- Anh Tú là bậc chân tu?

Vấn đề này phức tạp và cần thời gian để trả lời. Dù đối với người viết vấn đề đã sáng tỏ như ban ngày từ lâu.

Trước mắt anh Tú có một vài hạnh đáng ghi nhận, và cũng có phong thái của những con người khai sơn tôn giáo mới như ông Đạo Dừa hay Thanh Hải Vô Thượng Sư hay Lý Hồng Chí…

Anh Tú có thể là bậc chân tu của những tín đồ tương lai của một tôn giáo tương lai sắp ra đời, chứ với đạo Phật thì không có liên quan. Về sau anh Tú có thay đổi thành thế nào thì lại là câu chuyện khác, cũng sẽ không liên quan đến Phật giáo.

P.S: Hy vọng bài viết này đủ để giải đáp những câu hỏi thắc mắc về “hiện tượng sư Minh Tuệ” mà nhiều người đang quan tâm. Người viết dù chỉ mới học Phật và nghiên cứu tâm linh 20 năm nhưng cũng mạo muội viết về đề tài này góp phần đẩy lùi các nhận thức sai lầm và kiến thức sai trái đã và đang lan truyền trên cộng đồng mạng.

NXĐ