Tào Tháo đi chân đất trên đường và hỏi Tư Mã Ý : “Ngươi nói vì sao bàn chân ngươi trắng hơn tay và mặt?”. Tư Mã Ý trả lời rằng ông không biết, và Tào Tháo nói tiếp: “Bởi vì bàn chân luôn được che đậy!”.
Có lẽ, với Quan Vũ mà nói, Tào Tháo vẫn chưa được xem là tri kỉ.
Nhưng đối với Tào Tháo mà nói, Quan Vũ lại chính là người mà Tào Tháo muốn trở thành bạn thân thiết.
Tháng giêng Kiến An năm thứ năm, Tào Tháo đích thân chinh đánh Từ Châu.
Thời tiết vẫn chưa chuyển sang ấm áp, nhưng khí thế của quân Tào không vì vậy mà giảm sút.
Trận chiến diễn ra thuận lợi, quân Tào chiếm được thành Hạ Bì, đánh đuổi Lưu Bị, bắt sống Quan Vũ.
Quan Vũ tuy là tù binh của Tào Tháo, nhưng Tào Tháo chưa bao giờ coi ông là tù nhân.
Ông cho Quan Vũ sự đãi ngộ cao nhất, phong ông làm tướng quân, thưởng cho ông vô số vàng và lụa, ban cho ông ngựa xích thố, hào phóng trọng dụng ông.
Nhưng trong thâm tâm Tào Tháo cũng biết, có thể giữ Quan Vũ nhất thời, chứ không thể giữ mãi.
Họ được định sẵn sẽ đi theo hai con đường khác nhau.
Và ngày ấy rất sớm đã đến, khi Quan Vũ biết được tung tích của Lưu Bị, ông kiên quyết rời bỏ Tào Tháo, về với anh cả Lưu Bị.
Thuộc hạ của Tào Tháo tức giận, muốn can ngăn Quan Vũ nhưng bị Tào Tháo ngăn lại.
Ông chỉ nhẹ nhàng lắc đầu: “Ai cũng có nơi mình thuộc về, không phải đuổi theo.”
Tào Tháo và Quan Vũ, là cái giao tình của hai nước.
Trên cả lợi ích, đó là một sự trân trọng nhất định.
Tào Tháo ngưỡng mộ Quan Vũ, ban cho ông rất nhiều bất chấp những nghi ngờ trước đó, từ chức tước, tước vị, tiền bạc đến ngựa tốt.
Những thứ này rất có giá trị, nhưng chúng không phải là hiếm nhất.
Điều hiếm nhất là việc Tào Tháo ban cho Quan Vũ sự “thành toàn”.
Thế nào là thành toàn?
Không phải cho anh tất cả những gì tôi có, mà là cho anh những gì anh thực sự muốn. Biết trái tim của anh đang hướng về đâu, tôi để anh đi tới đó.
Thành toàn, là tình bạn đẹp nhất, là sự chân thành triệt để nhất.
Việc Tào Tháo đối xử chân thành với người khác cũng giúp ông có được một mạng sống.
Trên đường Hoa Dung, Quan Vũ, người cũng coi trọng tình nghĩa và chính nghĩa, cũng dùng cách riêng của mình để báo đáp sự cảm kích và thành toàn năm xưa của Tào Tháo.
Biết thế nào là thành toàn, biết thế nào là không cưỡng cầu, đó là sự hào phóng trong tâm hồn, cũng là sự chân thành tuyệt vời nhất.
“Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo là ngôi sao đế vương mang theo điềm lành, là chân nhân hạ thế, “bát loạn trị thế” (dẹp loạn lạc đem đến thái bình), thuận theo ý Trời mà diễn “Nghĩa”.
Tào Tháo khí chất hùng hồn, lòng thản nhiên với tao loạn của thế gian. Ông từng nói: “Thiết sử quốc gia vô hữu cô, bất tri đương kỷ nhân xưng đế, kỷ nhân xưng vương”, ý nói: “Nếu như quốc gia không có ta, không biết đã có mấy người xưng đế, mấy người xưng vương rồi!” (Trích sách “Nhượng huyền tự minh bản chí lệnh” – Tào Tháo, còn gọi là “Thuật Chí Lệnh”).
Tào Tháo một tay hoạch định chiến lược, chế ngự binh quyền, ưu lo cho nguy bại của quốc gia, thương xót cho khổ nguy của bách tính, lĩnh nghĩa quân, chém phản nghịch, binh chinh thiên hạ, vương giả trị quốc khiến đất trời rung chuyển, hiển lộ oai phong của bậc anh hùng có khả năng an trị thời loạn thế. Tào Tháo ngày bàn bạc sách lược quân sự, đêm luận kinh thư, tài năng thiên phú, nghĩa tựa trời xanh, triển hiện hào khí rực sáng chấn động cổ kim.
Ông biết rõ Trời giúp nhà Hán nhưng vẫn bình thản định thiên hạ, lấy việc nhỏ thành đại sự mà răn mình, noi theo cổ nhân thà chết mà giữ nghĩa. Cứu tế thương sinh, sửa sang chính quyền nhà Hán, chế áp cường hào, hưng thôn điền, tu sửa thủy lợi, minh bạch phép tắc, xem trọng lễ tiết, cần kiệm, lại tận lực bảo hộ Hán triều được duy trì thêm mấy thập kỷ.
Tào Tháo thuận thiên diễn “Nghĩa”, công đức lưu mãi tận nghìn thu, không màng đến danh tiếng bản thân. Ông được người đời sau bình phẩm là anh hùng khí khái, về thư pháp thì nét bút cứng cáp, mạnh mẽ. “Chữ khắc nơi nào cần nặng tự khắc nặng, nơi nào cần nét dày tự khắc dày, các nơi đều không ảnh hưởng nhau, mà đều không thể giả mạo được, vậy nên gọi là anh hùng chân chính”.
Tào Tháo lấy lời anh hùng, khẩu khí vô cùng anh dũng: “Rồng có thể biến lớn biến nhỏ, có thể lên cao, có thể ẩn xuống thấp. Khi biến lớn thì hưng mây gọi mưa, lúc biến nhỏ lại tự ẩn giới tàng hình. Nổi lên cao tự bay vượt giữa trời đất, ẩn xuống thấp tự nép mình vào trong sóng nhỏ. Tự biết rõ sự biến hóa của khí trời xuân vượng, long thời, mà như người đắc chí tung hoành tứ hải. Rồng tuy là động vật, nhưng có thể so với anh hùng cái thế. Được xưng tụng là anh hùng, lòng hoài chí lớn, bụng đầy diệu kế, chứa đựng sự cơ trí của vũ trụ, tự thông suốt ý chí của trời đất vậy”.
Tào Tháo cũng cấm tuyệt cúng tế bừa bãi và thói dâm ô trong quan dân, diệt trừ loạn quỷ linh thể thấp, dẹp tan Hoàng Cân (Khăn Vàng), đề bạt Thiên Sư (đạo trưởng), trợ giúp Đạo giáo, thúc đẩy Đạo giáo phát triển hưng khởi, đề cao đạo đức và nếp sống của thế nhân.
Tào Tháo thống lãnh ngự quân, chinh chiến sa trường, cầm trường mâu ngâm thơ, thành văn. Tuy là người đời sau bêu xấu điều này, nhưng không thể không tán thưởng ông là một thần tử có tài năng trị quốc, là nhà quân sự hiếm có, nhà văn học lớn trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.
Nền tảng văn chương của Tào Tháo biểu hiện trong tính tình trầm bổng bi thương, độc nhất mà siêu việt, thâm trầm mà hào sảng, anh tuấn mà sảng khoái, khai sáng nên phong cốt Kiến An. Văn chương của ông toát ra cái khí chất đại khí hùng quân, dung nạp vũ trụ, thiên cổ truyền ca, thực là thi sĩ chân chính trong lịch sử vậy!
Tào Tháo còn viết nên nhiều sách võ học lớn như “Mạnh Đức tân thư”, “Tôn Tử lược giải”… lại đem tinh túy dụng binh lưu lại cho thế nhân. Trong đó đạo lý binh pháp lưu lại sau này được các binh gia trong các triều đại lịch sử tán thưởng khen ngợi không ngừng.
Trong lịch sử nhân loại có rất nhiều kinh sách chính sử, dã sử, truyền thuyết dân gian, văn học nghệ thuật, những gì gọi là trung – gian, thiện – ác nhân đó mà được lưu truyền thiên cổ. Tuy nhiên không phải tất cả những truyền thuyết này đều chuẩn xác. Rất nhiều điều lưu truyền trong lịch sử như các luận thuật, nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử cũng không nhất định là chính xác.
Những tiểu thuyết, hý kịch vì để lưu truyền rộng rãi đã trải qua sự thay đổi về nội dung, xử lý về nghệ thuật, do đó cần người đọc cẩn trọng lựa chọn mà đánh giá, quy kết. Hơn ngàn năm trước trở lại đây, có rất nhiều tiểu thuyết, hý kịch đều là theo cùng một khuôn mẫu, đem Ngụy Vũ Đế Tào Tháo mô tả thành nhân vật phản diện, gian hùng, ngang ngược… Từ sự an bài của Sáng Thế Chủ trên phạm vi xã hội, trong lịch sử rộng lớn cho đến nội hàm thâm sâu, loạt bài viết này mong mỏi phần nào làm minh bạch lại lịch sử, tái hiện chân thực hình ảnh anh hùng thiên cổ Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo”
Trần Cung phò tá Tào Tháo hết lòng nhưng bất mãn rồi từ bỏ theo Lã Bố, cuối cùng lúc chết mới thấy mình lại nhầm,
Nễ Hành, Dương Tu thích thể hiện, nói hay hơn làm, sau cùng về làm bạn với Diêm Vương,
Khả năng Bắc Phạt lớn nhất cho Thục Hán là chiến dịch lần thứ nhất, tuy nhiên thất bại của Mã Tốc tại Nhai Đình đã kéo theo hệ lụy quá lớn, làm các chiến dịch ngày sau chỉ còn là sức cùng lực kiệt,
Do đó, 3 điều trong đời một khi đã đi qua sẽ không thể lấy lại được đó là lựa chọn, lời nói và cơ hội.
Khi giấc mộng Hưng Hán với nền tảng Long Trung đối sách của Khổng Minh vẫn mãi không hồi kết cùng Thục Hán.
Tào Tháo nỗ lực xây dựng cơ đồ cho Tào Thị mấy đời nhưng tất cả lại vụn vỡ trong tay Tào Sảng.
Tôn, Lưu, Tào đều thành công với bước đường của chính mình nhưng sau cùng nó không thể đảm bảo thiên hạ không thể tận quy Tư Mã.
Thế nên, 3 thứ trong đời không bao giờ bền vững được, đó là giấc mơ, tài sản và thành công.
Sự tận tụy tới chết không thôi của Gia Cát Lượng được coi là tấm gương về cái gọi là chí hiếu,
Chu Du gặp Tôn sách trở thành tri kỉ, người dốc lòng phò tá, kẻ kia tới chết cũng tin tưởng, đó là bài sống về lòng người,
Tư Mã Ý có thể liều mạng, có thể là đê hèn vì chữ nhẫn song thắng lợi cuối cùng lại khiến nhiều kẻ phải cứng họng,
Vậy nên, 3 điều làm nên giá trị một con người đó là tận trung, chân thực và thành đạt.
Và quả thực kinh nghiệm tới hôm nay ta có thể nói được đúng là người thầy tàn ác vì nó luôn bắt người ta phải trả giá trước khi nhận lại được bài học, phải không?
Năm 1946, cựu hoàng Bảo Đại tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh (Trung Quốc) nhưng khi công việc kết thúc, cựu hoàng nhất định không trở về nước.
Lý Lệ Hà sau đó đã sang Trùng Khánh sống chung với cựu hoàng Bảo Đại rồi 2 người xin đi tỵ nạn ở Hồng Kông. Thời gian này, Nam Phương Hoàng hậu đã gửi riêng nhân tình của chồng một lá thư – thứ mà đến sau này người đời vẫn xem là màn “đánh ghen” thâm thúy của vị hoàng hậu cuối cùng.
“Em Lý Lệ Hà thân quý. Chị ở xa đức cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trùng dương, nhưng chị biết rằng em đang hết lòng hết sức chăm sóc cựu hoàng ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông rơi cựu hoàng, còn gặp lại nhau. Đức Từ Cung Thái hậu và chị trọn kiếp nhớ ơn em. Chị Nam Phương!”.
Bức thư vỏn vẹn 66 từ nhưng hàm chứa rất nhiều điều. Dù đau khổ vì chồng trăng hoa, ong bướm, Nam Phương Hoàng hậu không một lời oán thán. Thay vì trách móc, bà chọn gửi lời cảm ơn. Chỉ vài lời dung dị, tinh tế nhưng cũng đủ khiến cho “người thứ 3” kia phải suy nghĩ về vị trí của mình.
Trước đây, bà không ra Hà Nội “đánh ghen”, đòi lại người đàn ông của mình. Chính sự kiêu hãnh của một người phụ nữ có học thức khiến bà chọn sự im lặng, không giành giật chồng bằng bất kỳ thủ đoạn nào.
Không rõ bức thư đã ảnh hưởng đến tâm lý của Lý Lệ Hà đến đâu nhưng nhiều năm sau đó, bà này đã gìn giữ bức thư như một kỷ vật rất quan trọng của cuộc đời. Lý Lệ Hà còn từng cho cựu hoàng Bảo Đại xem lá thư chất chứa tâm tình của người vợ chính thất.
Còn về phần mình, Nam Phương Hoàng hậu chọn sống thầm lặng cùng mẹ chồng tại cung An Định, một lòng chăm lo cho các con. Năm 1947, bà đưa các con sang định cư ở Pháp và dành những ngày cuối đời nơi đất khách. Coppy FB
Bạn phải đăng nhập để bình luận.