EQ thấp không chỉ tác động tiêu cực đến các mối quan hệ giữa cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của bạn
Những người có EQ hay còn gọi là trí tuệ cảm xúc thấp là những người không có khả năng thận thức được cảm xúc ở cả bản thân và những người xung quanh. Nhiều chuyên gia tâm lý hiện nay tin rằng EQ quan trọng hơn IQ trong việc xác định thành công chung trong cuộc sống. Do đó, EQ thấp không chỉ tác động tiêu cực đến các mối quan hệ giữa cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của bạn.
Khi một người có chỉ số EQ thấp, có nhiều cách để thể hiện ra ngoài. Dưới đây là 8 dấu hiệu kinh điển của người có trí tuệ cảm xúc thấp.
1. Họ luôn đúng
Những người có EQ thấp thường tranh luận một quan điểm đến cùng mà không chịu lắng nghe những gì người khác nói. Ngay cả khi bạn cung cấp cho họ những bằng chứng rằng họ sai, họ cũng sẽ lập luận ngược lại rằng sự thật của bạn mới là sai.
Họ luôn muốn thắng bằng mọi giá và họ sẽ không thay đổi quan điểm của mình cho dù thế nào đi nữa.
2. Họ không biết đến cảm giác của người khác
Những người có EQ thấp thường không để ý đến cảm xúc của người khác. Họ có thể thực sự ngạc nhiên khi biết một ai đó giận mình hay một ai đó không thích họ. Thậm chí, họ còn cảm thấy khó chịu khi người khác mong đợi họ biết người đó đang cảm thấy thế nào.
3. Họ cư xử một cách vô cảm
Phần lớn những người có EQ thấp không biết phải nói gì hay làm gì thích hợp. Họ cũng thường hay nói hoặc làm một điều gì đó không đúng thời điểm. Ví dụ, họ có thể nói ra điều gì đó thiếu tế nhị trong đám tang hoặc pha trò ngay sau một sự kiện bi thảm. Nếu ai đó phản ứng lại với điều đó, họ sẽ phản ứng lại và cho rằng người đó quá nhạy cảm.
Những người có EQ thấp thường gặp khó khăn trong việc hiểu cảm xúc của người khác, bởi vậy mà họ không thể giải thích hay phản ứng một cách thích hợp với bầu không khí cảm xúc.
4. Đổ lỗi cho người khác về vấn đề của họ
Một điều mà người có EQ thấp sẽ không làm là tự chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khi xảy ra sự cố, phản ứng đầu tiên của họ là tìm ai đó hoặc điều gì đó để đổ lỗi. Họ có thể nói rằng họ không có lựa chọn nào khác cho những gì họ đã làm và những người khác chỉ đơn giản là không hiểu cho hoàn cảnh của họ.
Ví dụ, nếu họ đọc tin nhắn của bạn thì đó là lỗi của bạn khi để điện thoại trước mặt họ. Nếu họ thất bại trong một nhiệm vụ hay không hoàn thành công việc, bằng cách nào đó thì họ sẽ coi đó là lỗi của người khác.
5. Họ có kỹ năng đối phó kém
Không có khả năng đối phó với các tình huống cảm xúc có thể là một dấu hiệu của người có EQ thấp. Những cảm xúc mạnh mẽ, dù là của họ hay của người khác, đều khó hiểu đối với những người có EQ thấp. Và họ thường tránh xa những tình huống này để tránh phải đối mặt với những cảm xúc đó. Việc che giấu cảm xúc thật cũng là dấu hiệu của người có EQ thấp.
6. Họ bộc phát
Những người có EQ thấp thường đấu tranh để hiểu và kiểm soát cảm xúc của chính họ. Họ có thể phản ứng một cách dữ dội mà không hiểu họ đang thực sự cảm thấy như thế nào và tại sao họ lại khó chịu như vậy.
Một người có EQ thấp cũng thường có những cơn bộc phát cảm xúc bất ngờ, đôi khi bị thổi phồng quá mức và không thể kiểm soát được.
7. Họ đấu tranh với các mối quan hệ
Những người có EQ thấp thường có rất ít bạn thân. Điều này là do tình bạn thân thiết đòi hỏi sự cho – nhận, chia sẻ cảm xúc, lòng trắc ẩn, hỗ trợ tinh thần, mà đây là những đặc điểm của người có EQ thấp thường thiếu.
8. Họ chuyển cuộc trò chuyện về phía mình
Những người có trí tuệ cảm xúc thấp có xu hướng thống trị cuộc trò chuyện. Ngay cả khi họ đang đặt câu hỏi và tỏ ra chăm chú lắng nghe, họ vẫn luôn tìm cách chuyển mọi thứ trở về phía họ. Và khi ai đó chia sẻ một câu chuyện, họ thường chứng minh cho người đó thấy rằng những điều đó họ đã trải qua rồi, bất kể đó là gì.
Người không cùng quan điểm sống và tần số thì khó lòng tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp.
Song trên thực tế, chúng ta vẫn có thể phán đoán tính cách của đối phương thông qua những biểu hiện trong cuộc sống. Cách một người đối nhân xử thế, các mối quan hệ xung quanh… đều chứa đựng một phần trong phẩm chất.
1. Nhìn vào ánh mắt
Ánh mắt là loại ngôn ngữ vô hình vô thanh. Đôi mắt của con người cũng biết nói. Qua đó, chúng ta có thể nhìn ra cảm xúc, tính cách và cả suy nghĩ của họ về sự việc phát sinh…
Thật ra, khi giao tiếp, ánh mắt của chúng ta có thể phản ánh chân thật hoạt động nội tâm đang diễn ra. Không phải tự nhiên mà người ta có câu: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Chúng không biết nói dối, như những đứa trẻ ngây thơ chưa trải sự đời luôn nói thật lòng.
Bất ngờ, đôi mắt mở to. Cười nói vui vẻ, mắt nheo lại thành hàng. Lòng đầy lo lắng, mắt căng thẳng như dây đàn. Làm chuyện sai trái, tâm lo sợ, mắt dáo dác láo liên. Người bình tĩnh như nước tù đọng, mắt mới yên ắng không cảm xúc.
Song trên đời này, có mấy ai học được khả năng “mắt bất động trước mọi tình huống và cảm xúc”?
2. Quan sát nhóm bạn thân của đối phương
Vật họp theo loài, người tụ thành nhóm.
Người kề cận bên bạn thế nào, bạn cũng là người như thế đó. Đây có lẽ xuất phát từ quan niệm “hòa nhập vào cộng đồng”. Hoặc là thay đổi bản thân để phù hợp với nhóm, hoặc là bản thân vốn như thế nên mới phù hợp với cộng đồng.
Thật vậy! Người sống tốt và thành công, bạn bè xung quanh ít ai yếu kém. Nhưng người chẳng mấy tài giỏi thì hiếm khi có bạn bè thân thiết xuất chúng.
Người không cùng quan điểm sống và tần số thì khó lòng tạo dựng mối quan hệ, ngay cả bạn bè bình thường còn không thể, chứ đừng nói đến kết thâm giao.
3. Nhìn vào thứ đối phương ghét bỏ
Con người rất biết giả vờ. Đôi khi, rõ ràng rất thích thứ đồ này nhưng lại tỏ ra không thích, dễ dàng giả vờ đùn đẩy, không chịu nhận, thậm chí thể hiện sự ghét bỏ.
Song với những thứ mình không thích, đặc biệt là ghét cay ghét đắng, chúng ta rất khó giả vờ bản thân rất thích. Điều này đòi hỏi “khả năng diễn xuất và chịu đựng” rất cao.
Đáng chú ý hơn, một thứ mà một người ghét bỏ có thể bộc lộ cả ý thức cá nhân của họ. Ví dụ như người ghét đám đông, chúng ta có thể phán đoán họ là người khá hướng nội, thích sự yên tĩnh, không thích chen lấn và ồn ào. Người ghét sự trễ nải, chứng tỏ họ rất tuân thủ giờ giấc, sống có nguyên tắc, không thích sự chờ đợi, cũng có thể là khả năng nhẫn nại kém.
4. Nghe cách đối phương nói chuyện
Mặc dù lời nói có thể mang ẩn ý che đậy, giả dối, nhưng giấy không gói được lửa, không thể cứ mãi giả vờ hoặc nói dối.
Chỉ cần quan sát cách đối phương giao tiếp và sử dụng ngôn từ, bạn có thể đoán được tính cách và phẩm chất của họ. Thông thường, lời nói là phản ứng tự nhiên của hoạt động nội tâm.
“Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Người thích châm biếm, công kích thường âm hiểm xấu xa. Người nói năng có chừng mực, biết người biết ta thật sự thông minh.
Người thích nói năng hoa mỹ chứng tỏ có thiên hướng nghệ thuật văn học và tâm hồn bay bướm. Người nói chuyện e dè, một là tự ti, hai là sống cẩn thận vì không muốn đắc tội bất cứ ai.
Đương nhiên, muốn nhìn thấu một người từ lời ăn tiếng nói đòi hỏi quá trình quan sát lâu dài. Chúng ta không thể phiến diện phán đoán và đặt điều.
5. Nhìn biểu hiện khi đứng trước lợi ích
Người không vì mình, trời tru đất diệt. Ai lại muốn bản thân bị thiệt thòi?!
Thật vậy! Khi đứng trước lợi ích, con người thường bộc lộ phẩm chất thật sự.
Tìm đủ mọi cách để đoạt lấy lợi ích, chấp nhận cho đi nhường lại hay làm chuyện xấu xa hòng bảo vệ cái lợi cho riêng mình… Tất cả suy cho cùng đều là một sự lựa chọn. Tốt hay xấu còn tùy thuộc vào tình huống và người trong cuộc.
Trên đời này, bạn bè trở mặt thành thù vì tiền bạc, đồng nghiệp tranh đấu lẫn nhau vì chút tiền thưởng và cơ hội… đều là chuyện thường tình. Khi đó, chúng ta có thể nhìn thấu tâm can của đối phương.
Bằng tình yêu thương vô bờ, phương pháp giáo dục đặc biệt, những cống hiến của thầy Jaime Escalante đã trở thành hiện tượng của nền giáo dục xứ cờ hoa.
Điều gì khiến câu chuyện về cuộc đời thầy Jaime Escalante được Hollywood dựng thành bộ phim gây tiếng vang – Stand and Deliver (Đừng bao giờ nghĩ học trò ngu dốt)?
Những buổi tay cầm dao phay, đầu đội mũ đầu bếp; những ví von trục tung – trục hoành với võ đài của các đấu sĩ hay những phương pháp dạy Toán đặc biệt của thầy Jaime Escalante đã thực sự làm nên kỳ tích: Đưa những học trò cá biệt, ngỗ ngược và vô lễ đặt chân vào những trường đại học danh giá nhất nước Mỹ như Harvard, MIT, Stanford…
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
Câu chuyện về cuộc đời người thầy giáo gốc Bolivia Jaime Escalante (1930-2010) đã truyền cảm hứng cho tác giả Jay Mathews viết nên tác phẩm Escalante: Người thầy xuất sắc nhất nước Mỹ.
Jay Mathews chia sẻ: “Tôi chưa gặp một nhà giáo ở đất nước này từng tạo ra một kết quả ngoạn mục trong hoàn cảnh khó khăn như vậy. Thậm chí, ông còn đưa ra nhiều câu trả lời thuyết phục trước những câu hỏi hóc búa, mang tính thời đại trong lĩnh vực giáo dục”
Phương châm giảng dạy của thầy Escalante là học sinh khi đến lớp chỉ cần mang theo một thứ duy nhất, đó là khát vọng thành công và nhiệm vụ của người thầy là khơi dậy khát vọng đó.
Jaime Escalante vốn là giáo viên dạy Toán tại một trường địa phương ở Bolivia. Năm 34 tuổi, ông đến Los Angeles (Mỹ) nhưng không xin được việc bởi không biết tiếng Anh. Thời điểm đó, Mỹ không công nhận chứng chỉ giảng dạy của Bolivia.
Thế nhưng, Escalante không nản lòng. Ông quyết định trụ lại Mỹ, vừa học tiếng Anh vào ban đêm, vừa làm nhiều công việc chân tay bán thời gian. Sau 10 năm cố gắng để có được chứng chỉ giáo viên bằng tiếng Anh, Escalante đã nộp đơn xin việc và phỏng vấn tại nhiều trường ở Mỹ, nhưng không may mắn, ông đều bị từ chối. Phải đến năm 44 tuổi, ông mới trở thành giáo viên dạy Toán tại trường Trung học Garfield.
Tuy nhiên, tin vui vừa đến thì Escalante lại phải đón nhận điều đáng buồn: Garfield là một trong những trường thiếu thốn nhất ở Los Angeles, California, học sinh ở đây rất ngỗ ngược, quậy phá, không chịu học Toán và ăn nói vô lễ. Thậm chí, nhiều giáo viên đã phải rời bỏ ngôi trường này vì cảm thấy bất lực.
Vẫn giữ quyết tâm khơi dậy khát vọng ở học sinh, Escalante tìm ra những phương pháp giáo dục đặc biệt, bởi học trò của ông hầu hết là những em cá biệt. Càng tiếp xúc, ông càng nhận thấy chúng không tệ như ông tưởng, chỉ là không được giáo dục tử tế do gia cảnh nghèo khó, cộng thêm sự thờ ơ của nhà trường nên mới có những hành động chống đối việc học.
Nhận thấy điều đó, thầy Escalante biến những bài giảng của mình thành giờ học thú vị, bám sát vào sở thích của học sinh, hài hước nhưng vẫn hiệu quả, đánh vào lòng hiếu kỳ của các em.
Ban đầu, vì những phương pháp giảng dạy khác biệt của mình, thầy Escalante thường xuyên bị ban giám hiệu nhà trường phản đối. Thậm chí, phó hiệu trưởng trường học còn dọa đuổi việc Escalante vì thấy ông luôn đi sớm về khuya, “phá vỡ khuôn phép hành chính” của nhà trường.
Thế nhưng, Escalante khẳng định chỉ cần có nhiệt huyết và phương pháp đúng đắn, giáo viên hoàn toàn có thể biến những học trò ngỗ nghịch thành cần cù, hiếu học và trao cho các em cơ hội vào được những trường đại học mơ ước.
THÀNH QUẢ XỨNG ĐÁNG
Thành công luôn đến với những người biết nỗ lực. Kết quả năm đó, cả 18 học sinh trong lớp đã vượt qua một kỳ thi Giải tích nâng cao để vào được những trường đại học tốt nhất nước Mỹ. Kết quả này khiến hội đồng thi bất ngờ đến mức… nghi ngờ. Nhưng sau khi tổ chức thi lại cho 14 em bị buộc tội quay cóp để đảm bảo quá trình thi không có bất kỳ dấu hiệu gian lận nào, kết quả là 12 em đồng ý thi lại đều vượt qua kỳ thi đó một cách xuất sắc.
Hơn 35 năm đứng trên bục giảng tiếp theo, Escalante tiếp tục truyền lửa và đào tạo hơn 400 học sinh cũng là người nhập cư như ông đỗ vào những trường đại học, học viện nổi tiếng thế giới.
Không chỉ truyền cảm hứng cho học trò và những người thầy, cuốn sách Escalante: Người thầy xuất sắc nhất nước Mỹ cũng tiết lộ cho chúng ta biết về hình mẫu giáo viên mà mọi học sinh cần. Niềm đam mê và sự cống hiến hết mình cho nền giáo dục Mỹ của Escalante đã mang lại nhiều thành tựu. Dù với những học sinh ngỗ ngược nhất, ông vẫn có khả năng cảm hóa chúng và dù xã hội mất niềm tin vào những học sinh đó, ông vẫn luôn tin rằng chúng có thể làm được điều mà bao học sinh gốc Mỹ có thể đạt được.
Bên cạnh đó, phương pháp giáo dục của thầy Escalante cũng nhắc nhở các giáo viên hãy tự đặt câu hỏi: Có bao nhiêu học sinh phát huy hết tiềm năng của mình trong một lớp học ở trường?
Với những nỗ lực đó, Escalante đã giành được nhiều giải thưởng cao quý cho những cống hiến vì nền giáo dục. Ông còn được cựu Bộ trưởng Giáo dục Mỹ William J. Bennett nhận xét là “người anh hùng thực sự của nước Mỹ”.
Năm 2010, khi Escalante qua đời, Tổng thống Barack Obama đã gửi thông điệp chia buồn: “Jaime Escalante đã chứng minh cho mọi người thấy lý lịch của một người không quyết định việc người đó có thể đi bao xa. Ông chính là nhân tố thúc đẩy niềm đam mê và quyết tâm của học sinh để họ nhận ra tiềm năng của chính mình”.
Tác giả,Phạm Cao Phong Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Paris 03.11.2022 BBC
Chiếc ấn Hoàng Đế chi bảo có trở về Việt Nam hay không, như một sự nhức nhối và một lời báo động về danh dự đất nước. Đó không còn dừng ở sự trắc nghiệm về tài cán, hiệu quả các ban bệ liên quan của chính phủ Việt Nam mà thật ra là sự bảo vệ danh dự và quốc thể đất nước trên trường quốc tế.
Phản ứng tích cực từ thông tin trên mạng xã hội dường như đã thắng sự chây lười, thụ động và ngó lơ vốn trường cửu trong hoạt động văn hóa ở đất nước tự hào chiều dài hàng nghìn năm văn hiến.
Nhìn con số 27.000 người tương tác ‘thích’ trên Cổng Thông tin Chính phủ, thông báo về việc các cơ quan chức năng như Cục Di sản, Cơ quan đại diện Việt Nam tại UNESCO, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp v.v… cho thấy mối quan tâm đã hoán chuyển thành sức nặng, lòng tha thiết của người dân với quá khứ tiền nhân ngày càng cao.
Song, thẳng thắn mà nói, Việt Nam đã thua trong hiệp đầu khi chiếc bát của vua Khải Định vẫn đúng lộ trình hành tiến đi về nhà người.
Chứng kiến tiếng gõ búa cuối cùng vào phiên buổi sáng 31.10.2022 ở nhà đấu giá Millon, tiễn biệt báu vật ấy ra đi, tôi không khỏi bùi ngùi. Không lâu trước đó, tôi nhận được tin Hội đồng Nguyễn Phúc Tộc đã gửi thư lên tận Tổng thống Pháp yêu cầu dừng việc bán đấu giá hai báu vật này.
Nỗi đau và sự quan tâm khổng lồ của người Việt trong nước và hải ngoại thật đáng quý, cảm động. Đây như là minh chứng về lương tâm của người Việt Nam vẫn trường tồn qua năm tháng với vấn đề danh dự của Tổ quốc.
NGUỒN HÌNH ẢNH,PHAM CAO PHONG
Nhà đấu giá Millon tại Paris, nơi sẽ diễn ra cuộc bán đấu giá chiếc ấn Hoàng Đế chi bảo ngày 10.11.2022 tới
“Hoàng Đế chi bảo” là biểu tượng của sự mở đầu, khai sinh ra VNDCCH. Tuy nhiên, đến giờ phút này tôi vẫn ngạc nhiên khi các Thánh soi thì nhiều, mà các “sử quan” vẫn nhầm lẫn về ngày tháng chuyển giao chiếc ấn về tay Việt Minh.
Vua Bảo Đại viết không nhiều, tôi có trong tay hai quyển sách của ông. Đó là hồi ký chính trị “Con rồng Việt Nam” và một quyển viết minh họa về Huế.
Ông viết:
“Đến chiều, trước hàng nghìn người tụ hội vội vàng trước cửa Ngọ Môn, tôi bận trào phục và đọc bản tuyên ngôn thoái vị, đề ngày 25 tháng 8 năm 1945 dưới đây: “Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, “Vì nền độc lập của Việt Nam, “Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc. “Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết. “Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng. “Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm, ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước. “Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.»
Tra cứu lại các sử liệu của Pháp, tôi thấy đều ghi rõ là ngày 25 tháng 8 năm 1945. Sử gia Philippe Héduy viết trong “Histoire de l’Indochine. La perle de l’empire 1624-1954″, hoặc sử gia Georges Fleury trong tác phẩm “La guerre en Indochine 1945-1954″ đều thống nhất đó là ngày 25/08/1945.
Tôi ngạc nhiên khi đọc những trang sách của ông Phạm Khắc Hòe, Cựu Đổng lý văn phòng của Vua Bảo Đại khi viết rằng ngày chuyển giao là ngày 29/08/1945.
Phải chăng ông “hàng thần” Phạm Khắc Hòe cần che giấu sự việc “chiều 27 và sáng 28, tôi cho kiểm điểm lại các thứ tài sản công trong Đại nội để giao lại cho chính quyền cách mạng. Nói đến của công trong Đại nội lúc bấy giờ, thì quý giá nhất là các đồ vật bằng vàng bạc, ngọc ngà châu báu có tính chất lịch sử của các đời vua chúa Nguyễn cất dưới một cái hầm lớn dưới mái sau của Điện Cần chánh. Hàng năm vào ngày 20 tháng Chạp âm lịch, triều đình tiến hành lễ Phất thức, mở hầm lấy tất cả các thứ ra để kiểm điểm và quét bụi bặm, lau chùi sạch sẽ rồi lại cất vào khóa lại. Chỉ có quan nhị phẩm trở lên mới được dự lễ này và phải tự tay mình làm lấy mọi việc: đưa ra, cất dọn, lau chùi v.v…
Trong dịp lễ Phất thức tháng Chạp năm Giáp Dần (đầu năm 1945) tôi đã theo dõi sát việc kiểm điểm và các bản kiểm kê đều được làm bằng chữ quốc ngữ, chứ không phải bằng chữ Hán như trước nữa. Cho nên bản tổng kiểm điểm cuối cùng này tiến hành khá dễ dàng và tất cả các tài sản và tất cả các loại tài sản đều được giao lại cho Chính quyền nhân dân đầy đủ và có giấy tờ minh bạch. Người thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời để kiểm nhận tài sản là ông Bộ trưởng Lê văn Hiến.”
Ông Phạm Khắc Hòe đã làm gì? Chúng ta cần đáng giá kỹ hành động của ông với tài sản nhà Nguyễn.
Nếu ngày 29/08/1945, vua Bảo Đại mới chuyển giao chính quyền thì có phải các cán bộ Việt Minh ngày 27 đã vào chĩa súng bắt giao nộp tài sản, đúng nghĩa “cướp chính quyền”?
Hành động đó đã xảy ra, thôi cho vào lịch sử nhưng giờ lại đòi chủ cũ “trao nộp” thì mới là lẽ công bằng?
Quyền được hiểu biết, quyền được tiếp nhận sự thật là một trong những quyền cơ bản của con người. Song đến nay, người Việt Nam ai được biết danh sách “tài sản của công” ấy. Tôi muốn nhắc lại từ “của công” mà ông Phạm Khắc Hòe sử dụng.
Cục Di Sản văn hóa đã vào cuộc, thì vào cuộc như thế nào, văn bản nào thì trưng lên cho thần dân ngó, chữ vàng “dân bàn, dân kiểm tra” lại đánh mất? Khổ thật, cứ có việc sờ đến thì mới biết là mất sạch, mất trắng, mất mà không biết hỏi ai. Của công cứ phá, hay của công phải cho công chúng biết đã đi đâu, về đâu.
NGUỒN HÌNH ẢNH,PHAM CAO PHONG
Ấn Hoàng Đế chi bảo được cho là của vua Minh Mạng
Tôi trích ở đây ở những câu chữ của cổng Thông tin Chính phủ 31.10.2022 hoàn toàn thiếu kiến thức và viết liều:
Như vậy, có thể thấy “Hoàng Đế chi bảo” là ấn vàng lớn nhất, đẹp nhất, quý nhất và quan trọng nhất của vương triều Nguyễn. Ấn này được dùng cho các hoạt động công quyền, chính sự của triều Nguyễn (vào dịp lễ khánh tiết, ban ân, xá tội, đi tuần thú các địa phương, cùng với sắc thư ban cho nước ngoài…), phản ánh một giai đoạn trong tiến trình lịch sử của quốc gia – dân tộc, là di sản văn hóa quý báu của Nhà nước Việt Nam…
Trong quá trình tìm hiểu về sự có mặt của chiếc ấn, tôi đã hỏi ngược xuôi các nhà học giả trong nước. Một Tiến sĩ ở Huế cho tôi biết, nguyên văn “không thấy xuất hiện ấn Hoàng Đế chi bảo trên các văn bản hành chính thời Nguyễn 1802-1945 luôn.”
Mang chuông đi đánh xứ người, khác với thói ăn nói thế nào người thấp cổ bé miệng trong nước cũng phải nghe. Nói được vậy thì trưng ra bằng chứng đi.
Trong buổi lễ khai sinh ra nước VNDCCH, không có một chữ nào nói đến nhà Nguyễn, tôi cũng chưa biết việc chuyển giao chính quyền giữa vua Bảo Đại và phái viên Việt Minh có chữ ký nào không? Hai người được vua Bảo Đại điểm mặt gọi tên dưới đây, ai ký văn bản?
“Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh đến cung điện. Đó là những người đại diện cho Việt Nam Độc lập Đồng minh, do Hà Nội cử vào. Trần Huy Liệu trưởng phái đoàn là phó chủ tịch của Ủy ban. Đó là một người gầy còm, có hình thái tiều tụy, đeo đôi kính đen để che cặp mắt lé, mà người ta lấy làm khó chịu khi phải nhìn lâu. Kẻ đồng hành là Cù Huy Cận trông thật vô nghĩa. Tôi không khỏi thất vọng.”
Mọi việc sẽ cứ diễn ra, như những gì vẫn diễn ra lâu nay?
Theo tin tức mới nhất từ nhà đấu giá Millon, cuộc đấu giá vẫn sẽ diễn ra không có gì thay đổi vào 12h trưa ngày 10.11.
Tôi đã thông báo cho bà Nathalie Mangeot, người phụ trách chính của phiên bán mang tên Nghệ thuật Việt Nam này, là Hội đồng Nguyễn Phúc Tộc đã gửi một bức thư lên Tổng thống Pháp Emmanuel Macron bày tỏ mong muốn được hồi hương báu vật Hoàng Đế chi bảo.
Chiếc bát vàng của vua Khải Định đã gõ búa với giá 680 000 €, cộng thêm 30% nhà Millon ăn lãi, thành con số 884 000 €. Vượt con số dự kiến là 44 lần.
Như vậy, nếu chiếc ấn Hoàng Đế chi bảo xuất cung sẽ bán được bao nhiêu? Hẳn là một thú vị chóng mặt? Liệu có thể vượt đến 44 lần, là 88 triệu euro?
Một băn khoăn nữa của tôi là, nếu chiếc ấn vinh hạnh trở về Việt Nam thì số phận của nó sẽ ra sao? Chúng ta đã biết gì về số phận 16 tấn vàng của VNCH mang ra Hà Nội sau ngày 30.4.1975?
Dù sao, cho đến giờ phút này, tôi có một chút an ủi đó là, sự kiện đã trở thành một phần trong sinh hoạt tinh thần và tình cảm của người Việt Nam.
Có thể một vài người chưa nhận ra hết điều đó, nhưng tôi tin chắc chắn rằng, điều đó có thật.
Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả, hiện sống tại Paris, Pháp.
Bên cạnh tình yêu, sự cô đơn cũng là một đề tài khá quen thuộc trong văn học. Mỗi nhà văn lại dùng một điểm nhìn khác nhau để phác họa sự đơn độc của nhân vật
Với một số người, cô đơn là một cảm giác rất đáng sợ. Nó khiến chúng ta chết dần chết mòn trong tuyệt vọng. Nhưng đôi khi, nhờ những giây phút chỉ có một mình, con người mới có can đảm để đối diện với bản thân, hiểu được mình cần gì, muốn gì. Nói cách khác, cô đơn giống một lăng kính đa sắc và các nhà văn đã khai thác nó triệt để trong trang văn.
Một con người
Đây là tác phẩm để lại ấn tượng đậm nét trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn người Mỹ gốc Anh Christopher Isherwood, cuốn tiểu thuyết này được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời tác giả. Nhân vật chính Geogre đang sống những ngày tồi tệ khi bạn đời của ông là Jim vừa ra đi vì tai nạn giao thông. Geogre cảm giác như thân thể già nua của mình đang mục ruỗng, còn đầu óc của ông hoàn toàn trống rỗng.
Hàng ngày, vị giáo sư văn học Anh vẫn lên giảng đường, giảng bài cho hàng nghìn sinh viên, sau đó lại nhốt mình trong phòng làm việc, đọc đi đọc lại những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng. Ai cũng nghĩ ông đang sống những ngày bình thường, chỉ có Geogre biết cuộc đời của ông giờ đây thảm hại ra sao. Cái chết dường như đang lởn vởn trước mắt người đàn ông tội nghiệp.
Là một người đồng tính, Geogre thường phải sống trong sự cô đơn. Kể từ khi Jim xuất hiện, vị giáo sư ấy đã được sống một cuộc đời khác. Jim cũng rất hạnh phúc khi được sống bên một người tình tuyệt vời như Geogre.
Nhờ tìm thấy nhau, họ mới có đủ can đảm sống thật với chính mình, cả hai thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Từ đây, những con người cô độc tìm thấy sự sẻ chia và thấu hiểu. Nó đã trở thành nguồn sức mạnh vô hình để họ vượt qua khó khăn.
Một con người ra đời vào năm 1964, khi xã hội Mỹ vẫn có những cái nhìn không mấy cởi mở về người đồng tính. Christopher Isherwood đã chọn một góc nhìn khác khi nói về những người đồng tính. Không có sự dè bỉu hay những ánh mắt khinh khi trực diện, thay vào đó nỗi cô đơn và sự giận dữ biến thành màu sắc chủ đạo trong cuốn tiểu thuyết mang âm hưởng trầm buồn. Geogre luôn cảm thấy bị cô lập và ông tình nguyện để nỗi đau bức tử chính mình.
ETTA VÀ OTTO VÀ RUSSELL VÀ JAMES
Trái tim của nhiều độc giả đã thổn thức với cuộc hành trình kỳ lạ trong cuốn tiểu thuyết Etta và Otto và Russell và James của nhà văn người Canada Emma Hooper. Điều gì đã khiến một bà lão ngoài 80 tuổi đi bộ hơn 3.000 km chỉ để ngắm những con sóng vỗ, phải chăng đại dương có một sức quyến rũ vô hình.
Etta đã 83 tuổi, bà có một cuộc sống bình yên bên người bạn đời Otto. Thế nhưng, một ngày kia, bà lão quyết định rời khỏi nhà, để thực hiện giấc mơ của đời mình là được nhìn thấy biển. Dù mắc bệnh đãng trí và có thể quên đường về nhà, nhưng Etta vẫn không ngần ngại, bà dũng cảm tiến về phía trước.
Còn lại một mình, Otto học cách làm món bánh ông thích ăn theo công thức mà vợ để lại. Ông lão vẫn sống những ngày bình dị, học cách tự chăm sóc bản thân và cầu nguyện cho vợ sớm trở về. Otto đem những lo lắng của mình kể cho người hàng xóm thân thiết là Russell.
Khi còn trẻ Russell đã đem lòng yêu Etta, lo lắng cho người mình yêu, ông lão quyết định lên đường. Trên hành trình vạn dặm, không biết đâu là đích đến, Russell nhận ra bấy lâu nay ông đã bị mối tình đơn phương với Etta giam cầm. Ông cứ ngỡ trái tim sẽ bình yên khi mỗi ngày được nhìn thấy người phụ nữ mình yêu sống hạnh phúc.
Nhưng Russell đã lầm, trong những ngày tháng không được thấy hình bóng Etta, ông lão nhận ra sự ngốc nghếch của chính mình. Còn Etta, chuyến đi đặc biệt ấy cho bà một khoảng lặng để nhìn lại bản thân và được sống cho chính mình.
ELEANOR OLIPHANT HOÀN TOÀN ỔN
Eleanor là kế toán của một công ty thiết kế đồ họa. Ở văn phòng, cô như người tàng hình, chẳng được ai chú ý tới. Cuộc sống thường ngày của người phụ nữ này cũng khá tẻ nhạt. Tan sở, cô sẽ nhốt mình trong phòng, ăn uống qua loa cho xong bữa tối rồi đi ngủ. Nếu thao thức suốt đêm dài, người phụ nữ trẻ sẽ uống vài ly rượu để tìm cơn mộng mị.
Eleanor không có bè bạn, ám ảnh bởi quá khứ bị bạn trai cũ bạo hành, cô gái ấy không thiết tha chuyện yêu đương hay kết bạn với người khác giới. Sống trong cô đơn, Eleanor thấy mình hoàn toàn ổn. Một ngày kia, Raymond bước vào cuộc đời của cô bất ngờ như cơn gió mát giữa trưa hè. Đó là một người đàn ông tốt bụng, thẳng thắn và sẵn sàng lắng nghe.
Không vồn vã với những lời yêu đương, Eleanor và Raymond chầm chậm bước vào cuộc đời nhau bằng tình bạn. Họ chia sẻ với nhau những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, cùng nhau đi thăm một người bạn chung, hẹn nhau tới quán bar uống vài ly nếu thấy buồn.
Dần dần, Raymond đã khiến cho Eleanor mở lòng và có cái nhìn tươi sáng hơn về cuộc đời. Sống trong cô độc, con người ta vẫn ổn, nhưng không bao giờ có được hạnh phúc. Có ai đó để bầu bạn, chia sẻ buồn vui, cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn. Trái tim sẽ được chữa lành nếu nhận được những yêu thương chân thành, dù tình cảm ấy xuất phát từ tình bạn hay tình yêu.
Eleanor Oliphant hoàn toàn ổn là tác phẩm đầu tay của Gail Honey. Cuốn tiểu thuyết này đã trở thành một hiện tượng khi bán được hai triệu bản và giành giải Costa cho “Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc nhất” vào năm 2017.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.