Một góc nhìn ảnh đen trắng về Hội An từ 1930-1950 tái hiện sinh động trong loạt ảnh thuộc sở hữu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Vĩnh Tân, một người con đất Hội An. … Có vẻ như lũ lụt ở Hội An là một hiện tượng phổ biến ít nhất đã có từ những năm 1930.
Trong khi Hà Nội và Sài Gòn nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới nhiếp ảnh cả xưa và nay, thì việc bắt gặp những bộ sưu tập ảnh xưa của các địa phương khác ở Việt Nam là điều hiếm thấy.
Vì vậy album ảnh đen trắng này do nhiếp ảnh gia Vĩnh Tân ở Hội An chụp từ năm 1930 đến năm 1950 là một món quà hiếm có. Trong số tất cả các tỉnh, thành trong cả nước, Hội An buồn ngủ có lẽ là nơi duy nhất chống lại được hầu hết các áp lực phát triển của Việt Nam.
Hầu hết những ngôi nhà, công trình kiến trúc trong ảnh của Tân vẫn còn sót lại ở Hội An ngày nay. Tuy nhiên, ngày nay, những con đường vắng trong ảnh chụp nhanh có lẽ đã chật kín khách du lịch.
Nhìn lại cuộc sống ở Hội An trên năm mươi năm trước.
Đền Hàn CungHội Quán Quảng Triệu của người HoaChùa Bà MụChợ Hội AnNhà Thờ Hội AnMột góc phố bộn bề của Hội An.Đường Quảng Đông, nay là Nguyễn Thái Học.Trẻ em trên phố phường Hội An.Quà vặt Hội An.Trong một hiệu thuốc Đông YTrẻ em Hội AnTháp Bàng An của người Chăm. Thuộc Điện Bàn cách Hội An 1,2 km…Đường Bạch Đằng Hội An trên sông Cẩm AnĐường Pont Japonais (cầu Nhật Bản), ngày nay là đường Trần PhúHội An trong trận lụt lớn năm 1950.
Bà Trần mộng Tú định cư Hoa Kỳ từ 4/1975 ,bà viết nhiều bài giá trị về cuộc sống của người tỵ nạn.Nền giáo dục của Mỹ đa dạng và rất kỷ khi chọn lựa một câu văn hay bài viết mang vào sách giáo khoa .Hãnh diện cho bà và cộng đồng người Việt Hải ngoại.
Trần Mộng Tú, Thi Sĩ Việt Nam Đầu Tiên
Vào Sách Giáo Khoa Trung Học Mỹ
Nếu quý vị mở cuốn sách giáo khoa dạy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, quý vị sẽ thấy một bài thơ của một thi sĩ Việt Nam dịch sang tiếng Anh đi song song với bài diễn văn nổi tiếng của Tổng Thống Abraham Lincoln trong thời Nội chiến Mỹ, tại bãi chiến trường Gettysburg. Đó là bài thơ của Trần Mộng Tú, The Gift in Wartime, nhan đề tiếng Việt là “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.”
Ảnh :Nhà thơ nhà văn Trần Mộng Tú (Ảnh:Uyên Nguyên)
Hai tác phẩm trên được đem ra để dạy học sinh môn văn chương Hoa Kỳ. Trong phần thứ ba của cuốn sách giáo khoa, viết về văn chương thời kỳ nội chiến Nam Bắc ở Mỹ và sau cuộc nội chiến, các nhà soạn sách giáo khoa của công ty Glencoe – McGraw Hill, rất thông dụng trong các trường trung học ở Mỹ đã có sáng kiến đem bài thơ Trần Mộng Tú, qua bản dịch Anh ngữ cho học sinh nghiên cứu song song với bài diễn văn trầm hùng của Abraham Lincoln, so sánh cách dùng chữ, cách chọn hình ảnh, những ý tưởng trong mỗi bài của hai tác giả. Đây là một kinh nghiệm văn chương quý báu mà các học sinh Mỹ được hưởng khi tiếp xúc với một thi sĩ ngoại quốc để thấy hậu quả của chiến tranh trên tâm hồn một phụ nữ Việt Nam cũng mang những tính chất nhân bản và sâu sắc không khác gì vị Tổng Thống mà tất cả mọi người Mỹ đều quen thuộc. Có lẽ sau này học sinh Việt Nam khi học về văn chương thời nội chiến Nam Bắc ở thế kỷ 20 cũng sẽ có cơ hội nghiên cứu bài thơ của Trần Mộng Tú Bài thơ “Quà Tặng Trong Chiến Tranh” được viết ở Việt Nam, khi thi sĩ còn rất trẻ, từ những xúc động trước cái chết của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người yêu đầu của cô, sau đó đã được đăng trên các tạp chí khắp nơi ở hải ngoại. Bài diễn văn do Tổng Thống Lincoln đọc ngày 19 tháng 11 năm 1863 trong dịp khánh thành một nghĩa trang cho các tử sĩ tại chiến trường Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania. Trước ông, một chính trị gia và nhà hùng biện nổi tiếng đã nói suốt 2 giờ; đến lượt Lincoln ông chỉ nói trong vòng 2 phút. Sau buổi lễ, các nhà báo tường thuật không ai nhắc đến những lời Lincoln nói, nhưng dần dần dân tộc Mỹ đã nhận ra đó là một tác phẩm văn chương bất hủ, xuất phát từ tấm lòng của một nhà lãnh đạo vốn rất ghét chiến tranh nhưng phải dẫn đầu nước Mỹ trong một cuộc chiến bất đắc dĩ và đã thành công trong việc bảo vệ một quốc gia thống nhất với những lý tưởng tự do, bình đẳng. Câu nói được cả thế giới ngày nay nhắc lại nhiều lần kết thúc bài diễn văn ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh để một “chính phủ của dân, do dân, và vì dân sẽ không bị hủy diệt trên trái đất.”
Cuốn sách giáo khoa tiếp theo đã giới thiệu thi sĩ Trần Mộng Tú, sinh ở tỉnh Hà Đông,Việt Nam, người phụ nữ có kinh nghiệm chính mình sống với những hậu quả của cuộc chiến tranh trong đó hai triệu người Việt Nam thiệt mạng cũng như 57,000 người Mỹ. Sau khi đọc bài thơ Trần Mộng Tú, học sinh được hướng dẫn với những câu hỏi để khám phá những cảm xúc mà tác giả gợi cho người đọc cũng như tìm hiểu nội dung bài thơ. Cuốn sách giáo khoa cũng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về kỹ thuật, học sinh tự hỏi tại sao thi sĩ đã dùng các điệp ngữ và nhắc lại các hình ảnh để gây ấn tượng nợi người đọc. Sau đó, các học sinh được mời so sánh hai áng văn chương cùng viết trong thời nội chiến ở hai quốc gia, hai thế kỷ khác nhau. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn của ông trước một đám đông, và ông nhắm vào công chúng. Còn Trần Mộng Tú viết một mình, cho mình. Nhưng học sinh có thể tìm thấy những mục đích và cảm xúc giống nhau trong hai tác phẩm ngắn này. Học sinh cũng được dịp tìm hiểu khai phá sự khác biệt giữa hai nền văn hóa của hai tác giả, và thử hỏi một người Mỹ thời nay nếu viết về chiến tranh thì sẽ viết giống tác phẩm nào.
Để quý vị thông cảm với tác giả Trần Mộng Tú, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ của thi sĩ bằng tiếng Việt dưới đây. Bài Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trong American Literature textbook) và bài Giấc Mơ Hòa Bình (Trong Vision of War, Dream of Peace)
Quà Tặng Trong Chiến Tranh
Em tặng anh hoa hồng Chôn trong lòng huyệt mới Em tặng anh áo cưới Phủ trên nấm mồ xanh
Anh tặng em bội tinh Kèm với ngôi sao bạc Chiếc hoa mai màu vàng Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc Của những ngày yêu nhau Đã chết ngay từ lúc Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu Trên áo trận sa trường Máu anh và máu địch Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương Mắt em ngày tháng hạ Em tặng anh đông giá Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười Anh tặng tay không nắm Anh tặng mắt không nhìn Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi Xin hẹn em kiếp sau Mảnh đạn này em giữ Làm di vật tìm nhau.
Tháng 7/ 1969
Giấc Mơ Hòa Bình
Em nghe nói hòa bình Trên những tờ nhật báo Em nghe nói hòa bình Trên miệng người lãnh đạo
Em để lòng khờ khạo Ôm giấc mơ hòa bình Mong chiến tranh chấm dứt Anh giã từ đao binh
Tin về từ trận tuyến Anh chết giữa chiến trường Ôi giấc mơ khờ khạo Chỉ còn là đau thương
Từ khi em ra đời Từ khi có trí khôn Em thấy toàn chém giết Em thấy toàn máu xương
Từ khi em biết nghe Từ khi em biết nói Toàn những lời giả dối Toàn những lời hứa suông
Từ khi em biết yêu Từ khi em biết nhớ Anh đã dặn đợi chờ Rồi anh không về nữa
Ôi giấc mơ khờ khạo Ôi giấc mơ hòa bình Xây giữa lòng tham bạo Chết trước khi thành hình
Ôi lòng non bé nhỏ Như giấy trắng thơm tho Vết mực đen loang lổ Làm hoen ố hồn thơ
Em đã biết giận thù Biết cuộc đời dối trá Trang nhất nói hòa bình Trang tư toàn cáo phó
Em không còn bồng bột Tin những lời đầu môi Em bắt đầu tỉnh ngộ Thì đã mất anh rồi
Ôi giấc mơ hòa bình Anh trả bằng sự sống Em trả bằng tủi hờn Bằng một đời đơn độc
Trước khi bàn luận chuyện chính trị xã hội, hãy dọn phòng của mình trước! Trước khi chỉ trích ai đó, hãy dọn phòng của mình trước! Trước khi muốn làm chuyện lớn, hãy dọn phòng của mình trước!
Dọn phòng đi! câu nói quen thuộc mà các bà mẹ hay nói với con mình, một điều tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng.
Làm tốt chuyện nhỏ thì mới làm được chuyện lớn.
Nhiều bạn thấy những vấn đề bất cập của xã hội, muốn gõ phím nêu quan điểm của mình, muốn thay đổi, sửa chữa những sự bất cập đấy trong khi chính căn phòng của mình lại bừa bộn, rác thì chưa dọn, chăn mền thì chưa xếp gọn gàng thì những lời của bạn cũng chỉ là sáo rỗng, giáo điều mà thôi.
Chính căn phòng của bạn mà bạn còn lười, không chịu sắp xếp gọn gàng được mà bạn đã đòi đi thay đổi những thứ ở tầm vĩ mô phức tạp. Căn phòng của bạn nói lên con người của bạn. Khổng Tử có câu “ Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nền tảng đầu tiên phải là tu thân, và việc dọn phòng cũng là 1 việc nhỏ trong chuyện “tu thân”.
Tại sao có rác mà không dọn? không thấy nó hay có thấy mà lười nhác? Hay bới móc khuyết điểm của người khác, chỉ trích họ vì điều đó trong khi rác ngay chính căn phòng mình lại để yên? Trước khi muốn lên tiếng về điều gì lớn lao hay phức tạp ngoài kia thì hãy nhìn xem mình đã dọn phòng chưa. Rèn luyện bản thân phải đi từ những việc nhỏ nhất, việc nhỏ mà làm tốt thì mới làm việc lớn hơn được.
Rèn luyện sự kỷ luật.
Quân đội có câu “kỷ luật là sức mạnh”, theo mình thì câu này đúng với mọi người luôn chứ không riêng gì quân đội. Việc mỗi ngày bỏ ra 5-10p để dọn dẹp căn phòng của mình cũng là một cách rèn luyện kỷ luật. Không phải tự dưng mà sắp xếp chăn màn giường chiếu là một trong những thứ đầu tiên người lính cần rèn luyện.
Đừng bao giờ nói rằng tôi không có thời gian để dọn phòng trong khi tiêu tốn 1-2h lướt mạng xã hội. Khi bạn có thói quen sắp xếp đồ đạc của mình gọn gàng, đúng nơi đúng chỗ thì bạn cũng có thể sắp xếp những ý tưởng, suy nghĩ của mình hợp lý. Mỗi buổi sáng bỏ ra ít thời gian để dọn dẹp căn phòng cũng là một cách thiền định. Khi thấy có điều gì vướng mắc trong lòng, hãy thử đứng dậy dọn phòng.
Khi mình học phổ thông, mỗi sáng thì các lớp phải quét rác, dọn vệ sinh lớp học, mình thấy đây là thứ nên duy trì cho dù có thể đóng tiền cho trường để có người dọn vệ sinh. Việc đó khiến học sinh gọn gàng hơn, có trách nhiệm hơn, có dọn thì mới biết giữ gìn
Căn phòng là thứ bạn thấy đầu tiên khi ngủ dậy.
Trừ khi bạn là một người không thường xuyên ngủ ở nhà, thì đa số chúng ta khi thức dậy thứ đầu tiên ta thấy là căn phòng của mình. Một căn phòng gọn gàng sẽ khiến tâm trạng đầu ngày của bạn tốt hơn. Chúng ta bỏ tiền ra để đến những khách sạn, resort có decor đẹp đẽ, view “triệu đô” để tận hưởng, để thức dậy ở một nơi xa, chứng tỏ tầm quan trọng của không gian xung quanh mình. Vậy thì tại sao không tự khiến căn phòng của mình đem lại nguồn năng lượng tích cực vào mỗi buổi sáng. Một căn phòng decor đẹp, sạch sẽ mang lại niềm cảm hứng không hề nhẹ.
Căn phòng là nơi bắt đầu và kết thúc của một ngày, vậy hãy khiến nó như một vũ trụ thu nhỏ của riêng bạn.
Dù thời thế thay đổi thế nào, thì sách giáo khoa tốt luôn đồng nghĩa với chuẩn mực. Nó phải là khuôn vàng thước ngọc để dạy trẻ thành nhân từ những bước chập chững đi học đầu tiên. Và những chuẩn mực này sẽ phải nằm ở nội dung sách (vừa là bài học dạy chữ, vừa lồng vào một cách khéo léo và truyền cảm hứng bài học dạy làm người).
Chuẩn mực này phải nằm ở kết cấu và bố cục của sách (chia ra bao nhiêu phần, mỗi phần gánh trọng trách dạy cái gì cho các con). Chuẩn mực này phải nằm ở hình minh họa, sao cho hay cho đẹp, cho phù hợp với lứa tuổi, sao cho bé nhìn thấy sách muốn ôm vào lòng để học, muốn nâng niu trân quý. Chuẩn mực này nằm ở sự chân xác và tường minh, từ trích dẫn hay chú thích, dùng bài của ai đưa vào thế nào, vì sau này các con sẽ như vậy mà làm, không lừa đảo dối trá.
Hình cụ Trần Trọng Kim
Muốn làm được vậy, những nhà sư phạm soạn sách phải có tri thức giỏi dang, thông tường Đông Tây kim cổ đặng chắt lọc cái hay cái đẹp, cái giản dị và tinh túy về dạy các con. Và trên hết, họ phải có cái tâm vì mầm non là ngày mai của đất nước, là tương lai quan trọng của quốc gia dân tộc, của xã hội và của từng gia đình trông cậy mai này.
Ban soạn sách giáo khoa tiểu học đầu tiên của người Việt Nam kể từ khi dùng chữ quốc ngữ do cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim đứng đầu. Tham gia ban này có cụ Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Ban này làm việc từ năm 1924 và hết sức cẩn thận soạn ra bộ sách quan trọng với 3 cuốn Quốc văn giáo khoa thư, Sử ký giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư cho các lớp ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) dùng để học.
Đây là 3 cuốn sách in ra từ khoảng những năm 1930, dù không phải hoàn hảo tuyệt đối vì nó là sách trong giai đoạn thuộc Pháp, nhưng nhìn chung so với mọi sách giáo khoa đã từng có ở ta cho học sinh tiểu học, thì vẫn là mẫu mực.
Ví dụ chỉ cần dạy các trẻ sách Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, các con cũng đã có thể hiểu được bổn phận đối với gia đình và xã hội, những điều sơ đẳng về thể chế, pháp luật cần tuân theo để làm một công dân tốt. Sách Sử ký giáo khoa thư rất trân trọng lịch sử nước nhà. Còn sách Quốc văn giáo khoa thư vừa dạy chữ, vừa dạy nết người. Mỗi lần tôi đọc lại các sách này đều khóc. Vì nó quá hay và đẹp, đã có đạo lý cao cả mà thấm đẫm tình người. Hơn nữa lại được soạn ra rất dễ hiểu và dễ nhớ, trẻ bé tí cũng học được ngay.
Những nhà giáo dục trong Ban biên soạn này, chỉ có bằng cấp coi như ngang đại học thời nay, không ai là tiến sĩ ráo xư. Nhưng các cụ giỏi chữ Việt, am tường Hán ngữ, Pháp ngữ. Mà lại một lòng một dạ vì quốc dân đồng bào, trong bối cảnh phải làm việc trong Chính quyền do người Pháp quản trị.
Như cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim từng trả lời phỏng vấn báo chí thời đó:
“Muốn tiến hóa một cách chắc chắn, không phải chỉ cần học lấy những cái mới của người mà còn cần phải biết rõ những cái hay của mình. Biết để mà giữ lấy, thiết tha mà giữ lấy, dù là trong cảnh ngộ nào. Những cái hay ấy tức là cái gốc của ta, cái tinh thần của ta; không có cái gốc ấy, dân tộc mình đã là một dân tộc vong bản.
Lắm lúc tôi nhìn thấy những điều trước mắt mà lo. Ở xã hội ta ngày nay có một hạng người nghe nói đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa, đủ dùng trong sự giao thiệp hàng ngày. Nếu sự đời cứ theo cái chiều ấy và cái đà ấy mà thay đổi thì không hiểu dân tộc mình sẽ ra sao…”
Nghĩ tới các cụ chỉ muốn rơi lệ vì cảm phục, vì kính trọng và tiếc nuối. Nay thiếu gì các hạng trí thức lưu manh làm công việc giáo dục, chỉ nghĩ tới tiền, chứ nghĩ gì tới tương lai trẻ con.
😍 Một vị hiền giả tình cờ gặp một chàng trai thất tình, bèn cố gắng khuyên nhủ. Anh ta bèn thở dài ai oán: “Nỗi tiếc thương và vô vọng này, không phải là người trong cuộc, sao ông có thể hiểu được sự giằng xé đó đây?”
😍Vị hiền giả bèn nói: “Mất thì cũng đã mất rồi, hà tất không bước tiếp về phía trước, những chùm nho tươi ngon vẫn còn rất nhiều. Hãy cảm ơn người đã vứt bỏ cậu, và chúc phúc cho cô ấy.” Chàng trai thất tình đầy nghi hoặc hỏi: “Cảm ơn cô ấy? Vì sao?” Hiền giả đáp: “Vì cô ấy đã cho cậu một cơ hội được kiếm tìm hạnh phúc.”
😍 Điểm yếu nhất của con người chính là không thể buông. Khi bạn sa lầy giữa việc buông và không buông thì có thể hạnh phúc đáng trân quý trước mắt đã vô tình rời bỏ. Ly nước bưng lâu sẽ mỏi tay, ba lô đeo nặng sẽ ê ẩm, trong tâm có quá nhiều gánh nặng, lâu dần sẽ khiến con tim suy sụp.
😍Honoré de Balzac, nhà văn hiện thực Pháp nửa đầu thế kỷ 19 từng nói: “Giữa sóng gió cuộc đời, chúng ta phải học theo vị thuyền trưởng, ném những vật nặng xuống nước khi trời giông bão, để giảm nhẹ trọng lượng của thuyền.”
😍 Con thuyền của sinh mệnh cũng chẳng thể chở quá nhiều chấp nhất, chẳng thể chống đỡ quá nhiều ràng buộc. Những thống khổ nơi quá khứ cộng thêm ưu phiền trong hiện tại, đối với bất kỳ ai mà nói, cũng đều là một cuộc giày vò tâm linh vô bổ.
😍 Vậy nên một số người khi cần buông thì hãy buông, một số việc khi cần quên thì hãy quên. Đừng lưu giữ những điều không đáng nhớ trong sinh mệnh của mình.
😍 Khi có hãy trân quý, khi mất đi, hãy học cách cảm ơn. Những gì đã qua hãy dần buông tay, những gì bỏ lỡ hãy học cách giải thoát. Buông bỏ những gì từng xảy ra, cáo biệt với quá khứ, không để ký ức thành sợi dây buộc chân mới là sự giải thoát chân chính.😍😍😍😍
Bạn phải đăng nhập để bình luận.