Lời răn dạy của người xưa: “Quét nhà chưa xong, lấy gì quét thiên hạ?”

Cổ nhân có câu: “Đại sự thiên hạ đều xuất phát từ những việc tưởng như nhỏ nhặt, chuyện khó thiên hạ đều xuất phát từ những việc tưởng là giản đơn”. Chính những việc thoạt nhìn có vẻ bé nhỏ và đơn giản ấy cũng có đủ sức để góp thành chuyện lớn.

Trong cuốn “Hậu Hán Thư”, một trong những tác phẩm lịch sử chính thức về giai đoạn lịch sử Đông Hán của Trung Quốc, từng tương truyền có một câu chuyện rằng:

Thời Đông Hán có vị thiếu niên anh tài tên là Trần Phiên. Trần Phiên biết mình thông minh nên tự cho bản thân bất phàm, từ nhỏ đã một lòng chỉ muốn gây dựng sự nghiệp lớn. Một hôm, người bạn Tiết Cần đến thăm, nhìn thấy Trần Phiên sống một mình trong căn nhà vô cùng bẩn thỉu, liền nói với bạn: “Nho tử sao không quét dọn để tiếp đãi khách?”.

Trần Phiên trả lời: “Đại trượng phu xử thế, nên quét thiên hạ, sao lo quét nhà?”.

Tiết Cần liền lập tức đáp lại: “Quét nhà không xong, lấy gì quét thiên hạ?”

Nghe vậy, Trần Phiên lặng người suy nghĩ một hồi rồi hiểu ra và không thể nói được lời nào nữa.

Hoài bão muốn “quét thiên hạ” của Trần Phiên là điều không sai, nhưng vấn đề nằm ở chỗ không ý thức được rằng “thiên hạ” là cần vô số nhà dựng nên, trước hết, cậu phải đủ bản lĩnh “quét nhà” sau đó mới có thể bàn tới chuyện “quét thiên hạ”.

Trong “Khuyến học”, nhà tư tưởng nổi tiếng thời Chiến quốc Tuân Tử từng nói: “Không tích bước đi, không đạt được ngàn dặm, không tích dòng chảy nhỏ, không thể thành biển sông.”

Trí huệ của các bậc thánh hiền thời xưa cho chúng ta thấy rằng, cho dù làm chuyện gì cũng không thể một bước là thành. Vì vậy, chính từ từng việc nhỏ, tích lũy tiến bộ từng chút một, cuối cùng mới có thể thành tựu một việc lớn.

Người xưa từng có câu: “Đại sự thiên hạ đều xuất phát từ những việc tưởng như nhỏ nhặt, chuyện khó thiên hạ đều xuất phát từ những việc tưởng là giản đơn”. Chính những việc thoạt nhìn có vẻ bé nhỏ và đơn giản ấy cũng có đủ sức để góp thành chuyện lớn khiến người ta đau đầu.

Một người phải có đủ tâm thái bình tĩnh và tỉnh táo để cam nguyện gánh hết những chuyện bình thường trong mắt người khác, sau này, họ mới có cơ hội ngày ngày chăm chỉ, rèn giũa phát triển, không ngừng nỗ lực và vươn tới thành công. Đạo lý này cũng tương tự với câu nói: “Quét nhà không xong lấy gì để quét thiên hạ?”

Trong xã hội ngày nay, rất nhiều người chúng ta đều mắc chung một căn “bệnh nan y”, đó là căn bệnh mang tên Tự Cao. Chúng ta luôn tự coi mình là người có chí hướng lớn, sinh ra để làm những việc lớn, để rồi thẳng thừng từ chối bắt tay xử lý những việc nhỏ nhặt và giản đơn thường ngày.

Nhưng chính vì ngày thường quá sức chểnh mảng, đến thời điểm quan trọng, đại sự xảy ra, cho dù chúng ta có cố gắng đến mấy thì cũng chỉ như người lấy dây thừng xách đậu phụ, lòng rất muốn nhưng làm thì không xong. Đây chính là ví dụ điển hình cho câu “Nói như rồng leo, làm như mèo mửa” mà ông cha ta đã để lại từ lâu, và cũng là nguyên nhân căn bản khiến vô số người rơi vào hoàn cảnh thất bại đau đớn.

Tất cả những ví dụ thất bại này cũng giống như Trần Phiên, coi thường việc nhỏ, tự tìm lý do cho mình như sau: “Ta có rất nhiều chuyện quan trọng và lớn lao hơn cần phải làm, những việc nhỏ thế này không phải là mục tiêu của ta.” Chỉ là họ không nghĩ rằng, việc nhỏ không làm lấy sức đâu mà hoàn thành việc lớn?

Từ xa xưa tới bây giờ, tư tưởng Nho giáo đã dạy chúng ta phải chú trọng việc “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Chúng ta phải tự tu dưỡng chính mình trước, sau đó mới quản lý gia đình, rồi bàn chuyện quốc gia đại sự và lo cho vấn đề của cả thế giới.

Ở xã hội ngày nay, ai ai cũng khát vọng thành công, người người đều mong ước thành danh. Nhưng khát vọng lớn đến mấy cũng nên bắt đầu từ những việc nhỏ đầu tiên. Kế hoạch lớn đến mấy thì cũng cần một nét vẽ khởi đầu chứ không tự dưng sinh ra kết quả.

Chúng ta không thể nóng vội, tham công, hám lợi, chỉ muốn một bước đạt được thành tựu, một đêm nổi danh, một ngày thành tài khi gây dựng nghiệp lớn. Lại càng không thể xem việc nhỏ là việc tầm thường mà quên mất việc lớn đến mấy thì cũng nhờ có tích tiểu mà thành đại.

Trong cái lớn phải có cái nhỏ, trong cái nhỏ cũng ẩn chứa những cái lớn. Chính vì vậy, không ai có thể trở thành anh hùng chỉ trong một bước mà muốn làm nên đại sự, cần bắt đầu từ những việc nhỏ giản đơn. Lớn đến mấy cũng từ nhỏ dựng lên, nhỏ đến mấy nhưng góp nhiều cũng thành đại.

Lan Hòa biên tập.

ĐÃ 18 LẦN TRUNG QUỐC SANG XÂM LƯỢC NƯỚC TA

Lần đầu tiên, vào khoảng 6000 năm trước, ở giai đoạn văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ!!!

Đây là lần xâm chiếm mang tính huyền thoại thần thánh ở mức cao. Đó là trận chiến giữa Hoàng Đế và Xi Vưu. Hoàng Đế thuộc Trung Hoa, Xi Vưu thuộc Bách Việt.

Về trận đại chiến này, Hoàng Đế đánh nhau với Xi Vưu, Hoàng Đế 9 trận đều bại cả 9 dưới tay Xi Vưu. Hoàng Đế đành phải rút lui trở về Thái Sơn, rồi bày mưu tính kế lừa gạt Cửu Thiên Huyền Nữ để thu phục Xi Vưu. Kể từ đó, mọi dấu tích về Xi Vưu, thủ lĩnh của tộc Bách việt xưa, cũng bị giấu nhẹm và bôi xóa hết đi, cho đến tận ngày hôm nay.

Lần thứ hai, năm 214 Trước Công Nguyên, 50 vạn quân Tần do Uý Đà Đồ Thư vượt sông Trường Giang xâm lược Bách Việt.

Đến thời điểm này đã tới Văn Lang. Nhờ kế sách du kích, ngày nghỉ đêm đánh, đến năm 208 Trước Công Nguyên, chúng ta toàn thắng, kháng chiến thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống Tần là cuộc đụng độ giữa dân tộc ta với một đế chế đại Hán ở Trung Quốc. Đó là cuộc kháng chiến của một quốc gia Siêu Việt, chống lại nạn xâm lược lớn của một đế chế lớn mạnh tàn bạo ở Phương Đông!!!

Lần thứ ba, năm 179 Trước Công Nguyên, Triệu Đà đánh Âu Lạc của An Dương Vương, đất nước rơi vào ngàn năm Bắc thuộc.

Khi chính trị, quân sự Âu Lạc suy yếu, Triệu Đà xuất quân xâm lược. Cuộc chiến đấu của An Dương Vương lâm vào tình thế bất lợi và nhanh chóng thất bại. Cuộc chiến bại này làm cho đất nước ta rơi vào ách thống trị của phong kiến Trung Quốc hơn 1000 năm, thường gọi là thời kỳ Bắc thuộc!!!

Lần thứ tư, năm 931, quân Nam Hán xâm lược nước ta, Dương Đình Nghệ quật tan quân Nam Hán!!!

Mùa thu năm 930, quân Nam Hán đánh sang nước ta. Khúc Thừa Mĩ chống cự không nổi, bị bắt đem về Quảng Châu. Nhà Nam Hán nhân đó, cử Lý Tiến làm Thứ sử Giao Châu, đặt cơ quan đô hộ ở Tống Bình, Hà Nội ngày nay!!!

Năm 931, một tướng cũ của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ được tin, đã đem quân từ Thanh Hoá ra Bắc bao vây, tấn công thành Tống Bình. Quân Nam Hán lo sợ vội cho người về nước cầu cứu. Viện binh của địch chưa đến nơi thì Dương Đình Nghệ đã chiếm được Tống Bình và chủ động đón đánh quân tiếp viện. Quân tiếp viện của giặc vừa đến đã bị đánh tan tác. Tướng chỉ huy của chúng bị giết tại trận. Sau khi đánh tan quân Nam Hán, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ, tiếp tục xây dựng nền tự chủ!!!

Lần thứ năm, năm 938, quân Nam Hán xâm lược lần nữa, Ngô Quyền diệt gọn 2 vạn quân của kẻ thù Hoằng Tháo. Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn ám hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Kiều Công Tiễn đã cho người sang cầu cứu vua Nam Hán. Nhân thời cơ đó, Nam Hán phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã diễn ra ác liệt và kết thúc rất nhanh gọn. Chiến thắng Bạch Đằng, năm 938, đã ghi vào lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử chống ngoại xâm nói riêng, như một sự kiện trọng đại có vị trí và ý nghĩa lịch sử hết sức lớn lao. Đây được coi là cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Chiến thắng đã giúp phá bỏ nền thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập thực sự và lâu dài của dân tộc ta!!!

Lần thứ sáu, năm 981, Lê Hoàn đập tan quân Tống ở ải Chi Lăng và sông Bạch Đằng. Thắng lợi của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, diễn ra nhanh chóng và thực sự to lớn. Chiến thắng đó đã làm nức lòng nhân dân cả nước, củng cố vững chắc lòng tin vào khả năng bảo vệ độc lập của dân tộc Việt Nam. Trong quan hệ đối ngoại, nhà Tiền Lê cũng đã thi hành một chính sách tích cực, bình đẳng, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kể cả vùng biên cương. Nhà Tống buộc phải kiêng nể. Đất nước ta được thanh bình trong gần một thế kỷ!!!

Lần thứ bảy, năm 1077, Lý Thường Kiệt chặn đứng quân Tống ở sông Như Nguyệt. Quách Quỳ rút lui trong tủi nhục. Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn diễn ra ở một khúc sông Như Nguyệt, còn gọi là sông Cầu, vào năm 1077, là trận đánh có tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống Việt, 1075 đến 1077, và là trận đánh cuối cùng của nhà Tống trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng của quân đội Đại Việt và thiệt hại nhân mạng lớn của quân Tống, đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược Đại Việt của họ, buộc họ phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia!!!

Lần thứ tám, năm 1258, 3 vạn quân Mông Cổ, sau này là nhà Nguyên, bị nhà Trần đánh tan tát ở Đông Bộ Đầu. Trận Đông Bộ Đầu, ngày 29 tháng 1 năm 1258, tức ngày 24 tháng Chạp năm Nguyên Phong thứ 7, là trận phản công chiến lược của quân đội nhà Trần, do vua Trần Thái Tông chỉ huy đánh tan đạo quân xâm lược Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu, khu vực gần cầu Long Biên, Hà Nội ngày nay, kết thúc cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất, năm 1258!!!

Lần thứ chín, năm 1285, cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô, Thoát Hoan chui ống đồng về nước. Cuộc chiến tranh lần này diễn ra sau cuộc chiến giữa hai nước lần thứ nhất khoảng 27 năm. Trong lần này, quân Nguyên huy động lực lượng đông đảo gấp cả chục lần so với cuộc chiến lần trước. Nhưng dù cho quân Nguyên Mông hùng mạnh, và có nhiều Vương hầu của triều Trần mang tư tưởng cầu an, quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua con Trần Nhân Tông đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc kháng chiến này, thể hiện “Hào khí Đông A” của nước Đại Việt thời đó!!!

Lần thứ 10, năm 1288, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Thất bại trong hai lần xâm lược Đại Việt năm 1258 và 1285, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt không từ bỏ mộng bành trướng về Nam, cuộc xâm lược lần thứ ba được tiến hành. Nhà Trần, với kinh nghiệm và khí thế của hai lần đại thắng trước đây, đã sẵn sàng đương đầu với giặc. Và đúng như lời của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần, Năm nay thế giặc nhàn, đã báo trước một thắng lợi tất yếu cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của quân dân nhà Trần. Đây là chiến thắng vẻ vang của quân Đại Việt, do Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc tuấn, cùng với Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông chỉ huy, trước quân xâm lược Nguyên Mông. Đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông!!!

Lần thứ 11, năm 1407, cha con Hồ Quý Ly chiến đấu ngoan cường nhưng không có được lòng dân. Thành Đa Bang thất thủ, Đại Ngu rơi vào 20 năm Minh Thuộc. Chiến tranh Đại Ngu, Đại Minh, hay thường được giới sử học Việt Nam gọi là cuộc xâm lược của nhà Minh, 1406 đến năm 1407, là cuộc chiến của nhà Hồ, nước Đại Ngu Đại Việt, chống cuộc xâm chiếm của nhà Minh Trung Quốc, dưới triều Minh Thành Tổ từ tháng 4 năm 1406 cho đến tháng 6 năm 1407, khi nhà Minh đánh bại hoàn toàn quân đội nhà Hồ và bắt được Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương!!!

Chưa đến lần thứ 12, thì Lê Lợi bằng tài trí phi thường đã đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh đặt ách đô hộ lên nước Việt, đặt nước Việt trở thành quận Giao Chỉ. Người Việt lập tức nổi lên chống quân Minh, dưới sự cai trị tàn bạo, khắc nghiệt của nhà Minh, người Việt rất oán hận, luôn ấp ủ chờ thời cơ nổi dậy. Năm 1416, Lê Lợi đã cùng 18 người khác tham gia hội thề Lũng Nhai, nguyện đánh quân Minh cứu nước. Tại đây khởi nghĩa Lam Sơn được thành lập. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi, qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của cuộc khởi nghĩa đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng!!! Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng, năm 938, đã chấm dứt thời kỳ 1000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc, thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới!!!

Lần thứ mười hai, Mạc Đăng Dung quỳ gối, quân Minh chưa vào, nhưng hành động đó cứu nguy cho dân tộc!!! Mạc Đăng Dung cùng đoàn tùy tùng không được mặc phẩm phục, cổ đeo dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng đến lậy và cúi đầu, ngũ bái, tam khấu đầu trước long đình che lọng vàng, tượng trưng cho hoàng đế nhà Minh, chứ không phải quỳ lạy viên tướng nhà Minh, Cũng không phải cởi trần tự trói!!! Về chuyện dâng đất. Bốn động biên giới đã bị nhà Minh chiếm lấy từ trước, thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc!!!

Lần thứ mười ba, năm 1789, Quang Trung đại phá Quân Thanh. Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn, Tôn Sĩ Nghị cắt cầu phao hòng chạy thoát thân!!! Đêm 30 tết, quân ta vượt sông Gián Khẩu, tiêu diệt gọn quân địch ở đồn tiền tiêu. Đêm mùng 3 tết, bao vây tiêu diệt đồn Hà Hồi. Đêm mùng 5 tết, quân ta tấn công vào hạ đồn Ngọc Hồi. Cùng lúc đạo quân của đô đốc Long tấn công, tiêu diệt đồn Đống Đa. Kết quả: Trong vòng 5 ngày đêm, quân ta quét sạch 29 vạn quân Thanh!!!

Lần thứ mười bốn, Thanh Triều mang tiếng sang cứu nhà Nguyễn, chiến tranh Pháp Thanh mang lại biên giới phía Bắc ngày nay!!! Sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại, vua Lê Chiêu Thống cùng một số đại thần thân cận bỏ chạy lên phía bắc, cho người sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh. Nhận thấy đây là một thời cơ thuận lợi để xâm lược, vua Thanh sai tướng đem 29 vạn quân, theo sự chỉ dẫn của vua tôi Lê Chiêu Thống tiến sang nước ta, với danh nghĩa giúp nhà Lê đánh quân Tây Sơn giành lại chính quyền!!!

Lần thứ mười lăm, năm 1945, dưới danh nghĩa Đồng Minh, suýt nữa thì toang dưới ngọn cờ của Tưởng Giới Thạch!!! Hoa quân nhập Việt là sự kiện 20 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào miền Bắc Việt Nam, với mục đích giải giáp quân đội Nhật Bản, từ vĩ tuyến 16 ra Bắc theo sự phân công của Đồng Minh. Cùng thời điểm đó, các tổ chức chính trị theo chủ nghĩa quốc gia, chống Pháp và chống Việt Minh như Việt Quốc, Việt Cách, cũng vào vượt biên giới Việt Trung vào Việt Nam thiết lập chính quyền tại một số tỉnh phía Bắc!!!

Lần thứ mười sáu, 19 tháng 1 năm 1974, nửa quần đảo Hoàng Sa còn lại bị Trung Quốc chiếm đóng cho đến nay. 64 người con của tổ quốc bị giết hại. Đến nay, Hoàng Sa đã bị họ cai quản!!!

Lần thứ mười bảy, 17 tháng 2 năm 1979, 60 vạn quân Trung Quốc ồ ạt tiến vào nước ta. 6 tỉnh biên giới phía Bắc bị san thành bình địa. Cuộc chiến diễn ra dai dẳng hơn 10 năm sau đó!!!

Lần thứ 18, 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc tấn công đảo Gạc Ma. 74 chiến sĩ hi sinh, đảo Gạc Ma mất từ đó!!!

Như vậy, tổng cộng đã có 18 lần người phương Bắc sang xâm lược nước Nam ta. Lịch sử trên thế giới, chưa từng có quốc gia nào phải chống chọi 18 lần xâm lược từ ngoại bang phương Bắc như nước Việt Nam ta cả. Và chẳng ai có thể đảm bảo sẽ không có lần thứ 19 xảy ra!!! Vì thế, Trung Quốc muôn đời là kẻ thù của Việt Nam. Tuyệt đối không có chuyện là bạn bè, anh em nào trong đó hết!!! Thế hệ hôm nay phải ghi nhớ bao xương máu, công sức cha ông của chúng ta đã từng ngã xuống, để bảo vệ từng tấc đất cho quê hương đất Tổ. Mỗi người dân Việt Nam chúng ta, không bao giờ được quên những sự kiện này!

Sưu tầm và tổng hợp

BẢN ĐỒ DẪN QUA CUỘC NAM TIẾN CỦA DÂN TỘC VIỆT-NAM

(Bài viết từ năm 1941 nên nhiều địa danh đã không còn phù hợp, nhưng tôi vẫn sẽ cố gắng trích dẫn nguyên văn để thể hiện sự tôn trọng đến tác giả).

1) Năm 1067, vua Lý Thánh Tông đánh nước Lâm Ấp. Chế Củ bị bắt xin dâng 3 châu để chuộc tội, là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, gồm cả quận Nhật Nam tức là Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ.

2) Năm 1307, vua Trần Anh Tông nhận 2 châu Ô và Lý của Chế Mân dâng làm lễ cưới Huyền Trân công chúa, bèn đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, tức tỉnh Thừa Thiên bây giờ.

3) Năm 1402, Hồ Quý Ly sai Đỗ Mẫn đánh nước Chiêm Thành. Vua nước ấy là Ba Đích dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Quý Ly lại bắt phải dâng đất Cổ Lũy, gồm lại đặt thành 4 châu, tức phía bắc đất Quảng Ngãi bây giờ.

4) Nam 1470, vua Lê Thánh Tông đánh Trà Toàn ở thành Đồ Bàn (Vijaya) và cửa Thị Nại (tỉnh Bình Định), gồm cả Đồ Bàn, Đai Chiêm và Cổ Lũy, lập thêm đạo Quảng Nam.

5) Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành, lấy đất lập ra phủ Phú Yên, có 2 huyện Đồng Xuân và Tuyên Hóa (phía nam tỉnh Bình Định bây giờ).

6) Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh Chiêm Thành, lấy tỉnh “Kauthara”, tức tỉnh Khánh Hòa bây giờ.

7) Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh lấy đất Phan Rang và Phan Lý, gồm hai phủ Yên Phúc và Hòa Đa. Thế là nước Chiêm Thành từ đó mất hẳn!

8 ) Nước Qua Oa ngày trước (Biên Hòa, Bình Thuận bây giờ) nhập vào bản đồ Việt Nam năm 1759 đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Trước gọi là Thủy Xá và Hỏa Xá, thuộc xứ Thủy Chân Lạp.

9) Nước Tam Phật Tề ngày trước cũng bị thôn tính vào hồi chúa Nguyễn Phúc Khoát (vào khoảng mấy tỉnh Tân An, Mỹ Tho và Bến Tre bây giờ).

10) Nước Mãn Thích Da ngày trước cũng chung một số phận như 2 nước trên, vào hồi nước Việt Nam thôn tính xứ Thủy Chân Lạp (tức là một dải sông vào khoảng mấy tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Sa Đéc bây giờ).

11) Xứ Thủy Chân Lạp bị thôn tính vào khoảng năm 1759, sau lập ra 6 tỉnh Nam kỳ, do võ công chiến thắng của các đời chúa Nguyễn.

[Lược bỏ chú thích ABC vì không liên quan đến chủ đề chính]


  • Nguồn sách: Trần Huy Bá (1941). “Việt Nam xưa đã thôn tính mấy nước?”. Tri Tân Tạp chí, số 15, tr. 3-5.

Nguồn bài: FB Đông Quách Tiên Sinh

VIỆT NAM & SÁNG KIẾN VÀNH ĐAI và CON ĐƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC

( TS Trần Văn Thọ- Japan )

Diễn đàn Cấp cao Hợp tác Quốc tế Vành đai và Con đường (BRI) lần thứ ba tổ chức tại Bắc Kinh vừa bế mạc hôm kia (18/10/2023).

BRI là chương trình phát triển quốc tế hoành tráng do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trương năm 2013. Đây là sáng kiến nối Trung Quốc với Á châu và Âu châu, gồm một Vành đai (One Belt) xuyên lục địa từ Trung Quốc qua vùng Trung Á đến Âu châu, và một Con đường (One Road) từ Trung Quốc xuyên qua Biển Đông và Ấn Độ dương đến châu Âu.

BRI ra đời đúng lúc kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và cũng là lúc Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo tối cao với tham vọng thực hiện giấc mơ Trung Hoa đưa Trung Quốc trở lại thời hoàng kim. Mục đích của BRI được đề ra là chia sẻ thành quả phát triển với các nước liên quan qua hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Một trong những công cụ thực hiện là lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Á châu (AIIB).

Trung Quốc hy vọng qua sáng kiến này trước mắt là đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp nặng (điển hình là thép) đang sản xuất dư thừa, và trong dài hạn tạo quan hệ thân thiện với các nước tham gia BRI.

Qua 10 năm thực hiện, nhìn chung BRI không đạt mục tiêu như Trung Quốc mong muốn.

Những nước tham gia BRI tích cực thì mắc vào bẫy nợ như Sri Lanka và Lào, hoặc có nguy cơ phụ thuộc sâu vào Trung Quốc như Cambodia.

Cảng biển Shihanoukville của Cambodia được xem như là mô hình của việc tham gia BRI. Vốn đầu tư do Trung Quốc cung cấp, và kết quả là tư bản Trung Quốc chiếm tới 95% khach sạn, nhà hàng ở đây và thành phố biển nầy tràn ngập trung tâm du lịch (resorts) và sòng bạc (casino) với các bảng hiệu bằng tiếng Trung Quốc.

Ở Âu châu nước tiên tiến duy nhất tham gia BRI là Ý nhưng gần đây đã tuyên bố rút lui vì thấy không có lợi ích như kỳ vọng. Tàu chở hàng Trung Á được xây dựng để chuyển chở hàng hóa giữa Trung Quốc và các nước Âu châu là một biểu tượng cụ thể của BRI nhưng hoạt động rất kém, kết cuộc chủ yếu được dùng cho di chuyển vật tư, hàng hóa giữa Trung Quốc và Nga. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Tổng hợp Daiwa, từ 2012 đến 2022, hơn 150 nước đã ký cam kết tham gia BRI nhưng mậu dịch giữa họ với Trung Quốc không tăng đáng kể, trừ Nga và một số nước ASEAN.

Trong thời gian qua có yếu tố khách quan là đại dịch trong các năm 2021-2022 làm đình trệ nhiều dự án, nhưng chủ yếu là do chủ quan và tham vọng của Trung Quốc muốn áp đặt và chi phối những nước cần vay vốn của họ để xây hạ tầng.

Có lẽ đã thấy kết quả 10 năm qua không như mong muốn và bị thế giới phê phán, trong bài phát biểu khai mạc Diễn đàn lần này Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trương sẽ ưu tiên chất lượng dự án và tăng tính tự chủ của các nước tham gia.

Việt Nam ở tư thế và vị trí không thể không tham gia BRI nhưng cần thận trọng đối với các dự án cụ thể nhất là nên so sánh các điều kiện về công nghệ, về vốn giữa Trung Quốc với các nước khác như Mỹ, Nhật.

Một điểm quan trọng nữa là cần tránh phụ thuộc quá sâu vào kinh tế Trung Quốc (hay với kinh tế một nước nào khác).

Hiện nay, tuy chưa tham gia cụ thể vào các dự án lớn liên quan BRI, nhưng Trung Quốc đã chiếm một vị trí rất lớn trong nhập khẩu (trên 30% những năm gần đây) và đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam (vị trí số 2 trong 9 tháng đầu năm 2023. Nếu gộp Hồng Kông vào Trung Quốc thì Trung Quốc chiếm vị trí số 1).

Trung Quốc đã đầu tư nhiều tại Việt Nam nhưng cho đến nay chưa thấy có dự án nào có trình độ công nghệ cao và quy mô lớn để có thể góp phần làm chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Việt Nam lên cao hơn. Đó là chưa xét đến các yếu tố về chất như trình độ quản trị doanh nghiệp (corporate governance) và văn hóa kinh doanh, những yếu tố thường chưa được xác lập tại những nước mới phát triển./.


(Xin cảm ơn TS Trần Văn Thọ )

LÊ CÔNG TUẤN ANH

Là một diễn viên hạng A, cả tính cách lẫn ngoại hình đều thể hiện nét đẹp trai hiền lành, Lê Công Tuấn Anh chiếm được tình cảm của hàng triệu khán giả hâm mộ.


Chính vì vậy mà sự ra đi bất ngờ của anh vào năm 1996 đã làm cho dư luận chỉa mũi dùi vào Minh Anh, lúc đó là người yêu cũ của Lê Công Tuấn Anh.


(Hai người yêu nhau và chia tay nhiều lần, vào thời điểm Lê Công ra đi thì họ vẫn chưa hàn gắn). Trước sự giận dữ của đám đông, những người xem Lê Công là thần tượng, Minh Anh đã chịu một sức ép lớn về tinh thần. Không có nhiều người hiểu cho cô, ngoại trừ gia đình và bạn bè biết rõ được câu chuyện đằng sau.
Lúc đó, nhà nhạc sĩ Quốc Dũng ở gần chùa Xá Lợi, nơi diễn ra tang lễ của Lê Công Tuấn Anh.
Đứng bên ngoài theo dõi câu chuyện, và chứng kiến tận mắt sự cuồng nộ của đám đông dành cho Minh Anh, ông đã sáng tác ca khúc Người Về Từ Lòng Đất.


Ý nghĩa bài hát này được nhạc sĩ giải thích là sự trở về của Lê Công để giải tỏa áp lực tinh thần cho người yêu cũ, xoa dịu dư luận:

Theo cơn giông đang dâng lên cao cùng tia sấm gào anh lê đôi chân phiêu diêu
Về nơi gác phòng nơi em đang cô đơn trong đớn đau âm thầm
Đêm nay nơi thâm sâu âm u từng cơn gió lùa bên muôn cây reo vi vu
Tựa như tiếng than van bao đau thương miên man suốt trong đêm trường
Trên không gian mênh mang mây đen tìm nhau kéo về ầm ầm mang theo mưa giông
Từng cơn bão bùng bao la vây quanh bên anh nghĩa trang lạnh lùng
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên chuỗi ngày êm đềm
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên bao giờ em quên
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên mối tình thắm nồng
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên bao giờ em quên
Mang theo bao yêu thương đêm đêm hồn anh trở về thăm em đang trong cơn mê
Nhìn em khóc thầm khi anh run run quay chân nghĩa trang lạnh lùng
Xưa khi ta bên nhau chung đôi tình yêu thắm nồng như muôn bông hoa xinh tươi
Đời đang rất vui đôi ta đâu hay hôm nay mỗi người một thế giới
Em yêu ôi thôi mau quên đi tình yêu não nề đang miên man trong cơn mê
Để anh trở về mộ phần lạnh lùng vơi đi nỗi đau âm thầm…

Nghe ca sĩ Minh Thuận hát Chuyện tình của Lê Công (biệt danh của Lê Công Tuấn Anh) và Minh Anh sau này được những người thân quen với họ kể lại trên báo chí.
Trong thời gian hẹn hò với Minh Anh, Lê Công từng vướng phải nhiều lùm xùm về chuyện tình cảm với người thứ 3, bắt nguồn từ sự săn đón và sự yêu mến cuồng nhiệt của người hâm mộ. Hai người sau đó đã chia tay nhau.
Người thứ 3 đó là một diễn viên trẻ tên Đào Vân Anh, là nguyên nhân của mọi cuộc giận hờn, chia tay.
Rồi một lần không thuyết phục được Minh Anh để hàn gắn mối quan hệ, Lê Công đã uống thuốc quá liều nhưng sau đó được bạn bè đưa vào bệnh viện và chữa trị kịp thời.
Sau lần tự giận bất thành đó, Minh Anh quyết định quay lại với Lê Công. Tuy nhiên, một thời gian sau cả hai lại chia tay vì có người cho Minh Anh biết Lê Công Tuấn Anh đang đi Nha Trang với người thứ 3, và cô cũng được cô ruột của người phụ nữ kia thông báo rằng cô gái đã có thai.
Đúng bốn tháng sau, vào ngày 15 tháng 10 năm 1996, Lê Công Tuấn Anh trở về dự sinh nhật của Minh Anh, dịp này anh cũng bày tỏ ý định muốn quay lại.
Minh Anh đã từ chối đề nghị này và nói không còn tình cảm. Đưa Minh Anh về tới cổng, Lê Công rủ Minh Anh mai đi ăn sáng trước khi anh đi diễn xa.
Sáng 16-10 Minh Anh qua nhà như đã hẹn thì thấy Lê Công ngủ li bì, đứa cháu nói lại là tối qua anh uống rượu khá nhiều, vì vậy Minh Anh bỏ ra về.
Vào trưa ngày 17 tháng 10 năm 1996, Lý Hoàng Phúc, cháu của bạn Lê Công Tuấn Anh, người ở cùng ôn thi đại học với anh trong căn trọ mà Tuấn Anh thuê rộng 30m2, đã phát hiện ra nam diễn viên trong tình trạng ngất xỉu và mặt bê bết máu, trên tay lúc đó đang cầm lọ thuốc.


Lê Công Tuấn Anh ra đi vào lúc hơn 4 giờ chiều ngày hôm đó. Tang lễ của Lê Công Tuấn Anh được tổ chức tại chùa Xá Lợi, hàng nghìn người hâm mộ khắp nơi đổ về, thậm chí Lực lượng Công an Quận 3 phải được điều ra để giữ an ninh trật tự tại tang lễ. Toàn bộ thư từ của khán giả viết cho nam diễn viên đã được để hết vào quan tài.
Thi hài Lê Công Tuấn Anh đã được đem đi hoả táng vào ngày 20 tháng 10 năm 1996 tại Bình Hưng Hòa và mộ của nam diễn viên được lập tại chùa Nghệ Sĩ, quận Gò Vấp từ đó đến nay.
Hiện tại, mỗi năm vào ngày giỗ của Lê Công Tuấn Anh, các đồng nghiệp và người hâm mộ vẫn tưởng nhớ anh và đến thăm mộ thường xuyên.
Đã có nhiều tranh cãi khác nhau về nguyên nhân khiến Lê Công Tuấn Anh quyết định tự chấm dứt cuộc đời.
Giả thiết được nhiều người tin theo nhất khi đó là do việc kết thúc mối quan hệ giữa nam diễn viên với bạn gái Minh Anh.
12 năm sau ngày mất của Lê Công Tuấn Anh, người mẫu Minh Anh đã bất ngờ trở về từ Singapore để lên tiếng về sự việc.
Cô chỉ đích danh diễn viên Đào Vân Anh, lúc đó là một diễn viên mới gia nhập đoàn kịch nói Thành phố là người thứ ba khi xen vào chuyện tình cảm của hai người, là nguyên nhân chính dẫn tới mọi việc.
Vân Anh sau đó phủ nhận điều này, cho biết trên báo chí như sau: “Tôi rất buồn. 12 năm đã qua, tôi tưởng rằng chị ấy đã quên những chuyện cũ và nghĩ lại mọi điều khi nhắc đến tôi trong chuyện tình cảm này nhưng không, chị ấy vẫn một mực kết tội tôi với những lời lẽ cay độc. Những người hiểu tôi trong hoàn cảnh đó, không ai cho rằng tôi là người cố chen vào tình cảm của Minh Anh và Lê Công. Nhiều người cũng biết, họ đã từng chia tay trước khi tôi xuất hiện.
Tình cảm đến chính bản thân tôi cũng không biết được.
Tôi đã từng trốn chạy, đã từng dằn vặt, khổ sở nhiều.
Đến bây giờ tôi cũng không biết tình cảm Lê Công dành cho tôi là tình cảm thật hay là một phút nông nổi. Tôi đã từng nghĩ lại rằng, có phải vì anh thấy tôi nhỏ nhắn dễ thương thì thương mến không.
Có thể Lê Công yêu tôi, nhưng cũng có thể chỉ là thích, tôi cũng không biết nữa.
Riêng tôi thì yêu, và đó là mối tình đầu, để lại những kỷ niệm đẹp và đau đớn”. Đào Vân Anh thừa nhận bản thân khi yêu Tuấn Anh đã biết anh có người yêu:
“Tôi biết, và biết rất rõ người yêu của anh ấy là Minh Anh, chính vì vậy mà khi biết mình có tình cảm với Lê Công tôi đã tránh anh. Mỗi lần tập xong tôi vào trong cánh gà rồi lánh đi chỗ khác để không nhìn thấy anh.
Mỗi lần gặp anh tôi cố chào một cách xã giao nhất. Anh rủ đi ăn, tôi từ chối”.
Bên cạnh những chuyện này, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần thì cho rằng Lê Công chọn cái chết vì:
“Nỗi cô đơn đến mức không thể chịu đựng được”.
Nguyễn Hữu Phần là đạo diễn bộ phim cuối cùng của Lê Công Tuấn Anh: Ngọt Ngào Và Man Trá.
Ông kể rằng khi làm phim này ở Hà Nội, Lê Công khá thân với một cô diễn viên trong đoàn. Cả hai đã có người yêu nên chỉ coi nhau là bạn. Hôm chia tay đoàn làm phim, Lê Công rủ bạn đi uống bia để hôm sau vào Nam. Đang nhậu thì Lê Công nói: “Anh về Nam và vĩnh biệt em nhé!”.
Cô bạn ngạc nhiên rồi mắng bạn là nói linh tinh.
Lê Công lấy nắp chai bia bảo chơi trò sấp ngửa, nếu ngửa thì gặp mà sấp thì anh không còn gặp em.
Khi mở tay ra thì nắp bia sấp. Cô bạn hoảng sợ gạt đi.
Lê Công lại khẳng định:
“15 ngày nữa em sẽ biết”.
Tức là cậu ấy đã chuẩn bị cho ngày chết của mình.
Đúng 15 ngày sau thì diễn ra sự kiện chấn động đó.
Lê Công Tuấn Anh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1967 tại Sài Gòn, có bố họ Lê còn mẹ họ Công Huyền, thuộc dòng dõi quý tộc ở Huế. Ngay từ khi còn nhỏ, Tuấn Anh đã mồ côi cha và phải sống với mẹ. Anh cũng có một người em gái.
Lên 10 tuổi, mẹ của anh đi thêm bước nữa với một người đàn ông khác, cả hai anh em sau đó phải vào sống trong trại trẻ mồ côi. Đến năm 1979, Lê Công Tuấn Anh được cô ruột bên bố là bà Lê Thị Ngoan, một bà sơ theo đạo khi đó đã 63 tuổi, bảo lãnh về nuôi ăn học tại một căn nhà ở Quận 3, nhưng em gái của nam diễn viên lại không được về theo vì không đủ tiền chuộc, điều đã khiến anh day dứt và là nhân tố ảnh hưởng đến tâm tính của Tuấn Anh về sau này. Sau khi trở về nhà bà Ngoan, vì hai người thường xuyên bất đồng nên Lê Công có thời gian từng bỏ nhà đi để trở thành trẻ bụi đời và làm nhiều công việc khác nhau kiếm sống qua ngày.
Cùng trong năm 1979, anh bị đưa vào trường Giáo dục thiếu niên 3 để cải tạo một thời gian sau khi bị bắt vì đi ăn trộm.
Tuy nhiên, với tính cách được mô tả là “hiền lành, chịu khó, siêng năng”, Lê Công Tuấn Anh đã nhận sự quý mến từ các thầy cô và được giúp việc tại phòng y tế của trường.
Anh cũng trở thành học trò của bác sĩ trường, thầy thuốc Mến, sau khi được thầy chữa hết bệnh ghẻ lúc mới vào học.
Ở đây, Lê Công Tuấn Anh đã trở thành một “y tá” và là “trợ thủ đắc lực” của thầy Mến.
Sau khi học hết bổ túc văn hoá lớp 10, Lê Công nghỉ để sang học thợ hàn tại Trung tâm dạy nghề quận. Tại đây, anh sớm trở thành “cây văn nghệ” của lớp, trường.
Thời điểm này, phong trào văn nghệ quần chúng đang trong giai đoạn phát triển; Lê Công Tuấn Anh khi đó đã đạt được nhiều giải thưởng trong các hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng. Kịch bản đầu tay có tên Ngộ Nhận được anh thực hiện kiêm vai trò đạo diễn lẫn diễn viên đã đạt giải thưởng cao khi tham gia một cuộc thi văn nghệ quần chúng.
Sau khi ra trường, Lê Công Tuấn Anh trở thành một thợ hàn chuyên nghiệp. Tuy nhiên anh vẫn tham gia vào các phong trào văn hóa văn nghệ tại Nhà văn hóa Quận 3.
Nghệ sĩ Lê Bình, thời điểm đó đang phụ trách xây dựng phong trào quần chúng tại nhà thi đấu, đã phát hiện ra năng khiếu diễn xuất của Tuấn Anh và khuyến khích anh đi đóng kịch nói. Khi Lê Công Tuấn Anh lên 18, 19 tuổi, anh cùng bạn gái Hồng Điệp đến Đoàn kịch nói Kim Cương để xin thử vai làm diễn viên; vì số lượng thí sinh dự thi lên đến 400 người nhưng tiêu chuẩn chọn hơn 10 người nên anh đã không dám dự thi mà chỉ hỗ trợ tinh thần cho bạn gái, nhận lời làm phụ diễn. Trong lúc Hồng Điệp đang chuẩn bị tiết mục, nghệ sĩ Kim Cương vô tình nhìn thấy Lê Công “lấp ló” ở hậu đài sân khấu và nhận ra tiềm năng ở anh.
Cả Lê Công Tuấn Anh cùng bạn gái đã được nhận vào đoàn diễn sau đó. Sau khi được nhận vào đoàn, Lê Công Tuấn Anh chỉ chủ yếu đảm nhận các vai quần chúng, vai phụ trong những vở kịch như Hoàng tử và con gái lão chăn cừu, Vực thẳm chiều cao, Trà hoa nữ,…


Nhờ vai diễn trong hai vở kịch gây tiếng vang khi đó là Nhân danh công lý và Lôi vũ, Lê Công Tuấn Anh đã được các nhà làm phim chú ý. Sau khi rời khỏi đoàn, Lê Công Tuấn Anh sớm có vai diễn nhỏ đầu tay trong bộ phim điện ảnh 4 tập năm 1989 Tìm vàng của đạo diễn Lê Xuân Hoàng, được coi là dạng phim đầu tiên của video thể nghiệm, nhưng thời điểm này anh vẫn chưa gây được sự chú ý. Sau đó Lê Công cũng đảm nhận một vai nhỏ trong bộ phim Phạm Công – Cúc Hoa ra mắt vào cùng năm. Vì cho rằng bản thân không hợp với điện ảnh, sau khi đóng được vài bộ phim, Lê Công đã xin trở lại đoàn kịch Kim Cương. Khoảng một năm sau, Lê Công Tuấn Anh, lúc này đã 23 tuổi, bất ngờ nhận được lời mời đóng vai bác sĩ Quang “Đông-ki-sốt” trong bộ phim Vị đắng tình yêu của đạo diễn Lê Xuân Hoàng; vai diễn này cũng viết riêng cho anh. Lần này, Lê Công đã xin phép rời đoàn kịch một lần nữa để thực hiện bộ phim.
Sau khi công chiếu lần đầu vào năm 1990, bộ phim nhanh chóng tạo nên “cơn sốt” phòng vé khắp cả nước và trở thành phim có doanh thu cao nhất thập niên 1990, đồng thời được đánh giá là tác phẩm “kinh điển” của điện ảnh Việt Nam.
Vị đắng tình yêu nhận về những đánh giá tích cực từ giới chuyên môn và đem về cho đoàn phim nhiều giải thưởng nghệ thuật danh giá. Vai diễn của Lê Công Tuấn Anh đã được coi là “bước ngoặt” trong sự nghiệp của anh khi cùng với bạn diễn, người mẫu Thủy Tiên, trở thành “hiện tượng đặc biệt trong làng phim ảnh nước nhà”.
Anh cũng đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc hạng mục phim truyện nhựa sau đó tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 10 năm 1993 nhờ vai diễn trong phim.
Sau sự thành công của bộ phim, Lê Công Tuấn Anh đã trở thành “thần tượng” giới trẻ và là đối tượng săn đón của nhiều hãng phim nhà nước lẫn tư nhân. Giống như các diễn viên phim mì ăn liền cùng thời như Lý Hùng, Diễm Hương, Y Phụng,…


Lê Công Tuấn Anh cũng được liệt vào “hàng ngũ sao” lúc bấy giờ. Trung bình một năm Lê Công Tuấn Anh đóng đến 20 bộ phim, nhiều khi anh phải thức trắng đêm để hoàn thành vai diễn của mình trong 4 ngày, thậm chí 2 ngày, chưa kể có những kịch bản phải từ chối vì quá bận rộn.


Chỉ trong chưa đầy 10 năm với vai trò là diễn viên điện ảnh, Lê Công đã đóng hơn 60 bộ phim ở cả hai miền Nam – Bắc, trở thành diễn viên nổi tiếng nhất của điện ảnh Việt Nam thập niên 1990. Anh cũng nhận giải Diễn viên được yêu thích nhất tại giải Bình chọn Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất (tiền thân giải Mai Vàng) suốt ba năm liên tiếp từ 1993 đến 1995. Ngoài vai Quang “Đông-ki-sốt” trong Vị đắng tình yêu, Lê Công Tuấn Anh còn được biết đến với các vai chính trong Vĩnh biệt mùa hè, Anh chỉ có mình em, Em còn nhớ hay em đã quên…
Nhờ vai diễn trong Em còn nhớ hay em đã quên.
Lê Công đã tạo nên cú đúp khi giành giải Bông sen vàng ở hai hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc cả phim truyện nhựa lẫn phim truyện video, cùng với Vị đắng tình yêu. Vào năm 1995, Lê Công đóng vai chính trong bộ phim Mặt trời đêm, vào vai một thanh niên trẻ bị mắc căn bệnh AIDS;
Vai diễn này sau đó đã đem về cho anh giải:
“Nam diễn viên chính được yêu thích nhất” tại giải Mai Vàng tổ chức lần đầu tiên vào cùng năm.

chuyenxua.net biên soạn.