LÊ CÔNG TUẤN ANH

Là một diễn viên hạng A, cả tính cách lẫn ngoại hình đều thể hiện nét đẹp trai hiền lành, Lê Công Tuấn Anh chiếm được tình cảm của hàng triệu khán giả hâm mộ.


Chính vì vậy mà sự ra đi bất ngờ của anh vào năm 1996 đã làm cho dư luận chỉa mũi dùi vào Minh Anh, lúc đó là người yêu cũ của Lê Công Tuấn Anh.


(Hai người yêu nhau và chia tay nhiều lần, vào thời điểm Lê Công ra đi thì họ vẫn chưa hàn gắn). Trước sự giận dữ của đám đông, những người xem Lê Công là thần tượng, Minh Anh đã chịu một sức ép lớn về tinh thần. Không có nhiều người hiểu cho cô, ngoại trừ gia đình và bạn bè biết rõ được câu chuyện đằng sau.
Lúc đó, nhà nhạc sĩ Quốc Dũng ở gần chùa Xá Lợi, nơi diễn ra tang lễ của Lê Công Tuấn Anh.
Đứng bên ngoài theo dõi câu chuyện, và chứng kiến tận mắt sự cuồng nộ của đám đông dành cho Minh Anh, ông đã sáng tác ca khúc Người Về Từ Lòng Đất.


Ý nghĩa bài hát này được nhạc sĩ giải thích là sự trở về của Lê Công để giải tỏa áp lực tinh thần cho người yêu cũ, xoa dịu dư luận:

Theo cơn giông đang dâng lên cao cùng tia sấm gào anh lê đôi chân phiêu diêu
Về nơi gác phòng nơi em đang cô đơn trong đớn đau âm thầm
Đêm nay nơi thâm sâu âm u từng cơn gió lùa bên muôn cây reo vi vu
Tựa như tiếng than van bao đau thương miên man suốt trong đêm trường
Trên không gian mênh mang mây đen tìm nhau kéo về ầm ầm mang theo mưa giông
Từng cơn bão bùng bao la vây quanh bên anh nghĩa trang lạnh lùng
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên chuỗi ngày êm đềm
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên bao giờ em quên
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên mối tình thắm nồng
Gió vẫn reo lời hát bao giờ em quên bao giờ em quên
Mang theo bao yêu thương đêm đêm hồn anh trở về thăm em đang trong cơn mê
Nhìn em khóc thầm khi anh run run quay chân nghĩa trang lạnh lùng
Xưa khi ta bên nhau chung đôi tình yêu thắm nồng như muôn bông hoa xinh tươi
Đời đang rất vui đôi ta đâu hay hôm nay mỗi người một thế giới
Em yêu ôi thôi mau quên đi tình yêu não nề đang miên man trong cơn mê
Để anh trở về mộ phần lạnh lùng vơi đi nỗi đau âm thầm…

Nghe ca sĩ Minh Thuận hát Chuyện tình của Lê Công (biệt danh của Lê Công Tuấn Anh) và Minh Anh sau này được những người thân quen với họ kể lại trên báo chí.
Trong thời gian hẹn hò với Minh Anh, Lê Công từng vướng phải nhiều lùm xùm về chuyện tình cảm với người thứ 3, bắt nguồn từ sự săn đón và sự yêu mến cuồng nhiệt của người hâm mộ. Hai người sau đó đã chia tay nhau.
Người thứ 3 đó là một diễn viên trẻ tên Đào Vân Anh, là nguyên nhân của mọi cuộc giận hờn, chia tay.
Rồi một lần không thuyết phục được Minh Anh để hàn gắn mối quan hệ, Lê Công đã uống thuốc quá liều nhưng sau đó được bạn bè đưa vào bệnh viện và chữa trị kịp thời.
Sau lần tự giận bất thành đó, Minh Anh quyết định quay lại với Lê Công. Tuy nhiên, một thời gian sau cả hai lại chia tay vì có người cho Minh Anh biết Lê Công Tuấn Anh đang đi Nha Trang với người thứ 3, và cô cũng được cô ruột của người phụ nữ kia thông báo rằng cô gái đã có thai.
Đúng bốn tháng sau, vào ngày 15 tháng 10 năm 1996, Lê Công Tuấn Anh trở về dự sinh nhật của Minh Anh, dịp này anh cũng bày tỏ ý định muốn quay lại.
Minh Anh đã từ chối đề nghị này và nói không còn tình cảm. Đưa Minh Anh về tới cổng, Lê Công rủ Minh Anh mai đi ăn sáng trước khi anh đi diễn xa.
Sáng 16-10 Minh Anh qua nhà như đã hẹn thì thấy Lê Công ngủ li bì, đứa cháu nói lại là tối qua anh uống rượu khá nhiều, vì vậy Minh Anh bỏ ra về.
Vào trưa ngày 17 tháng 10 năm 1996, Lý Hoàng Phúc, cháu của bạn Lê Công Tuấn Anh, người ở cùng ôn thi đại học với anh trong căn trọ mà Tuấn Anh thuê rộng 30m2, đã phát hiện ra nam diễn viên trong tình trạng ngất xỉu và mặt bê bết máu, trên tay lúc đó đang cầm lọ thuốc.


Lê Công Tuấn Anh ra đi vào lúc hơn 4 giờ chiều ngày hôm đó. Tang lễ của Lê Công Tuấn Anh được tổ chức tại chùa Xá Lợi, hàng nghìn người hâm mộ khắp nơi đổ về, thậm chí Lực lượng Công an Quận 3 phải được điều ra để giữ an ninh trật tự tại tang lễ. Toàn bộ thư từ của khán giả viết cho nam diễn viên đã được để hết vào quan tài.
Thi hài Lê Công Tuấn Anh đã được đem đi hoả táng vào ngày 20 tháng 10 năm 1996 tại Bình Hưng Hòa và mộ của nam diễn viên được lập tại chùa Nghệ Sĩ, quận Gò Vấp từ đó đến nay.
Hiện tại, mỗi năm vào ngày giỗ của Lê Công Tuấn Anh, các đồng nghiệp và người hâm mộ vẫn tưởng nhớ anh và đến thăm mộ thường xuyên.
Đã có nhiều tranh cãi khác nhau về nguyên nhân khiến Lê Công Tuấn Anh quyết định tự chấm dứt cuộc đời.
Giả thiết được nhiều người tin theo nhất khi đó là do việc kết thúc mối quan hệ giữa nam diễn viên với bạn gái Minh Anh.
12 năm sau ngày mất của Lê Công Tuấn Anh, người mẫu Minh Anh đã bất ngờ trở về từ Singapore để lên tiếng về sự việc.
Cô chỉ đích danh diễn viên Đào Vân Anh, lúc đó là một diễn viên mới gia nhập đoàn kịch nói Thành phố là người thứ ba khi xen vào chuyện tình cảm của hai người, là nguyên nhân chính dẫn tới mọi việc.
Vân Anh sau đó phủ nhận điều này, cho biết trên báo chí như sau: “Tôi rất buồn. 12 năm đã qua, tôi tưởng rằng chị ấy đã quên những chuyện cũ và nghĩ lại mọi điều khi nhắc đến tôi trong chuyện tình cảm này nhưng không, chị ấy vẫn một mực kết tội tôi với những lời lẽ cay độc. Những người hiểu tôi trong hoàn cảnh đó, không ai cho rằng tôi là người cố chen vào tình cảm của Minh Anh và Lê Công. Nhiều người cũng biết, họ đã từng chia tay trước khi tôi xuất hiện.
Tình cảm đến chính bản thân tôi cũng không biết được.
Tôi đã từng trốn chạy, đã từng dằn vặt, khổ sở nhiều.
Đến bây giờ tôi cũng không biết tình cảm Lê Công dành cho tôi là tình cảm thật hay là một phút nông nổi. Tôi đã từng nghĩ lại rằng, có phải vì anh thấy tôi nhỏ nhắn dễ thương thì thương mến không.
Có thể Lê Công yêu tôi, nhưng cũng có thể chỉ là thích, tôi cũng không biết nữa.
Riêng tôi thì yêu, và đó là mối tình đầu, để lại những kỷ niệm đẹp và đau đớn”. Đào Vân Anh thừa nhận bản thân khi yêu Tuấn Anh đã biết anh có người yêu:
“Tôi biết, và biết rất rõ người yêu của anh ấy là Minh Anh, chính vì vậy mà khi biết mình có tình cảm với Lê Công tôi đã tránh anh. Mỗi lần tập xong tôi vào trong cánh gà rồi lánh đi chỗ khác để không nhìn thấy anh.
Mỗi lần gặp anh tôi cố chào một cách xã giao nhất. Anh rủ đi ăn, tôi từ chối”.
Bên cạnh những chuyện này, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần thì cho rằng Lê Công chọn cái chết vì:
“Nỗi cô đơn đến mức không thể chịu đựng được”.
Nguyễn Hữu Phần là đạo diễn bộ phim cuối cùng của Lê Công Tuấn Anh: Ngọt Ngào Và Man Trá.
Ông kể rằng khi làm phim này ở Hà Nội, Lê Công khá thân với một cô diễn viên trong đoàn. Cả hai đã có người yêu nên chỉ coi nhau là bạn. Hôm chia tay đoàn làm phim, Lê Công rủ bạn đi uống bia để hôm sau vào Nam. Đang nhậu thì Lê Công nói: “Anh về Nam và vĩnh biệt em nhé!”.
Cô bạn ngạc nhiên rồi mắng bạn là nói linh tinh.
Lê Công lấy nắp chai bia bảo chơi trò sấp ngửa, nếu ngửa thì gặp mà sấp thì anh không còn gặp em.
Khi mở tay ra thì nắp bia sấp. Cô bạn hoảng sợ gạt đi.
Lê Công lại khẳng định:
“15 ngày nữa em sẽ biết”.
Tức là cậu ấy đã chuẩn bị cho ngày chết của mình.
Đúng 15 ngày sau thì diễn ra sự kiện chấn động đó.
Lê Công Tuấn Anh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1967 tại Sài Gòn, có bố họ Lê còn mẹ họ Công Huyền, thuộc dòng dõi quý tộc ở Huế. Ngay từ khi còn nhỏ, Tuấn Anh đã mồ côi cha và phải sống với mẹ. Anh cũng có một người em gái.
Lên 10 tuổi, mẹ của anh đi thêm bước nữa với một người đàn ông khác, cả hai anh em sau đó phải vào sống trong trại trẻ mồ côi. Đến năm 1979, Lê Công Tuấn Anh được cô ruột bên bố là bà Lê Thị Ngoan, một bà sơ theo đạo khi đó đã 63 tuổi, bảo lãnh về nuôi ăn học tại một căn nhà ở Quận 3, nhưng em gái của nam diễn viên lại không được về theo vì không đủ tiền chuộc, điều đã khiến anh day dứt và là nhân tố ảnh hưởng đến tâm tính của Tuấn Anh về sau này. Sau khi trở về nhà bà Ngoan, vì hai người thường xuyên bất đồng nên Lê Công có thời gian từng bỏ nhà đi để trở thành trẻ bụi đời và làm nhiều công việc khác nhau kiếm sống qua ngày.
Cùng trong năm 1979, anh bị đưa vào trường Giáo dục thiếu niên 3 để cải tạo một thời gian sau khi bị bắt vì đi ăn trộm.
Tuy nhiên, với tính cách được mô tả là “hiền lành, chịu khó, siêng năng”, Lê Công Tuấn Anh đã nhận sự quý mến từ các thầy cô và được giúp việc tại phòng y tế của trường.
Anh cũng trở thành học trò của bác sĩ trường, thầy thuốc Mến, sau khi được thầy chữa hết bệnh ghẻ lúc mới vào học.
Ở đây, Lê Công Tuấn Anh đã trở thành một “y tá” và là “trợ thủ đắc lực” của thầy Mến.
Sau khi học hết bổ túc văn hoá lớp 10, Lê Công nghỉ để sang học thợ hàn tại Trung tâm dạy nghề quận. Tại đây, anh sớm trở thành “cây văn nghệ” của lớp, trường.
Thời điểm này, phong trào văn nghệ quần chúng đang trong giai đoạn phát triển; Lê Công Tuấn Anh khi đó đã đạt được nhiều giải thưởng trong các hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng. Kịch bản đầu tay có tên Ngộ Nhận được anh thực hiện kiêm vai trò đạo diễn lẫn diễn viên đã đạt giải thưởng cao khi tham gia một cuộc thi văn nghệ quần chúng.
Sau khi ra trường, Lê Công Tuấn Anh trở thành một thợ hàn chuyên nghiệp. Tuy nhiên anh vẫn tham gia vào các phong trào văn hóa văn nghệ tại Nhà văn hóa Quận 3.
Nghệ sĩ Lê Bình, thời điểm đó đang phụ trách xây dựng phong trào quần chúng tại nhà thi đấu, đã phát hiện ra năng khiếu diễn xuất của Tuấn Anh và khuyến khích anh đi đóng kịch nói. Khi Lê Công Tuấn Anh lên 18, 19 tuổi, anh cùng bạn gái Hồng Điệp đến Đoàn kịch nói Kim Cương để xin thử vai làm diễn viên; vì số lượng thí sinh dự thi lên đến 400 người nhưng tiêu chuẩn chọn hơn 10 người nên anh đã không dám dự thi mà chỉ hỗ trợ tinh thần cho bạn gái, nhận lời làm phụ diễn. Trong lúc Hồng Điệp đang chuẩn bị tiết mục, nghệ sĩ Kim Cương vô tình nhìn thấy Lê Công “lấp ló” ở hậu đài sân khấu và nhận ra tiềm năng ở anh.
Cả Lê Công Tuấn Anh cùng bạn gái đã được nhận vào đoàn diễn sau đó. Sau khi được nhận vào đoàn, Lê Công Tuấn Anh chỉ chủ yếu đảm nhận các vai quần chúng, vai phụ trong những vở kịch như Hoàng tử và con gái lão chăn cừu, Vực thẳm chiều cao, Trà hoa nữ,…


Nhờ vai diễn trong hai vở kịch gây tiếng vang khi đó là Nhân danh công lý và Lôi vũ, Lê Công Tuấn Anh đã được các nhà làm phim chú ý. Sau khi rời khỏi đoàn, Lê Công Tuấn Anh sớm có vai diễn nhỏ đầu tay trong bộ phim điện ảnh 4 tập năm 1989 Tìm vàng của đạo diễn Lê Xuân Hoàng, được coi là dạng phim đầu tiên của video thể nghiệm, nhưng thời điểm này anh vẫn chưa gây được sự chú ý. Sau đó Lê Công cũng đảm nhận một vai nhỏ trong bộ phim Phạm Công – Cúc Hoa ra mắt vào cùng năm. Vì cho rằng bản thân không hợp với điện ảnh, sau khi đóng được vài bộ phim, Lê Công đã xin trở lại đoàn kịch Kim Cương. Khoảng một năm sau, Lê Công Tuấn Anh, lúc này đã 23 tuổi, bất ngờ nhận được lời mời đóng vai bác sĩ Quang “Đông-ki-sốt” trong bộ phim Vị đắng tình yêu của đạo diễn Lê Xuân Hoàng; vai diễn này cũng viết riêng cho anh. Lần này, Lê Công đã xin phép rời đoàn kịch một lần nữa để thực hiện bộ phim.
Sau khi công chiếu lần đầu vào năm 1990, bộ phim nhanh chóng tạo nên “cơn sốt” phòng vé khắp cả nước và trở thành phim có doanh thu cao nhất thập niên 1990, đồng thời được đánh giá là tác phẩm “kinh điển” của điện ảnh Việt Nam.
Vị đắng tình yêu nhận về những đánh giá tích cực từ giới chuyên môn và đem về cho đoàn phim nhiều giải thưởng nghệ thuật danh giá. Vai diễn của Lê Công Tuấn Anh đã được coi là “bước ngoặt” trong sự nghiệp của anh khi cùng với bạn diễn, người mẫu Thủy Tiên, trở thành “hiện tượng đặc biệt trong làng phim ảnh nước nhà”.
Anh cũng đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc hạng mục phim truyện nhựa sau đó tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 10 năm 1993 nhờ vai diễn trong phim.
Sau sự thành công của bộ phim, Lê Công Tuấn Anh đã trở thành “thần tượng” giới trẻ và là đối tượng săn đón của nhiều hãng phim nhà nước lẫn tư nhân. Giống như các diễn viên phim mì ăn liền cùng thời như Lý Hùng, Diễm Hương, Y Phụng,…


Lê Công Tuấn Anh cũng được liệt vào “hàng ngũ sao” lúc bấy giờ. Trung bình một năm Lê Công Tuấn Anh đóng đến 20 bộ phim, nhiều khi anh phải thức trắng đêm để hoàn thành vai diễn của mình trong 4 ngày, thậm chí 2 ngày, chưa kể có những kịch bản phải từ chối vì quá bận rộn.


Chỉ trong chưa đầy 10 năm với vai trò là diễn viên điện ảnh, Lê Công đã đóng hơn 60 bộ phim ở cả hai miền Nam – Bắc, trở thành diễn viên nổi tiếng nhất của điện ảnh Việt Nam thập niên 1990. Anh cũng nhận giải Diễn viên được yêu thích nhất tại giải Bình chọn Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất (tiền thân giải Mai Vàng) suốt ba năm liên tiếp từ 1993 đến 1995. Ngoài vai Quang “Đông-ki-sốt” trong Vị đắng tình yêu, Lê Công Tuấn Anh còn được biết đến với các vai chính trong Vĩnh biệt mùa hè, Anh chỉ có mình em, Em còn nhớ hay em đã quên…
Nhờ vai diễn trong Em còn nhớ hay em đã quên.
Lê Công đã tạo nên cú đúp khi giành giải Bông sen vàng ở hai hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc cả phim truyện nhựa lẫn phim truyện video, cùng với Vị đắng tình yêu. Vào năm 1995, Lê Công đóng vai chính trong bộ phim Mặt trời đêm, vào vai một thanh niên trẻ bị mắc căn bệnh AIDS;
Vai diễn này sau đó đã đem về cho anh giải:
“Nam diễn viên chính được yêu thích nhất” tại giải Mai Vàng tổ chức lần đầu tiên vào cùng năm.

chuyenxua.net biên soạn.

Thi Sĩ Việt Nam Đầu Tiên có tác phẩm vào Sách Giáo Khoa Trung Học Mỹ

Shared từ trang Đỗ Trung Quân:


Bà Trần mộng Tú định cư Hoa Kỳ từ 4/1975 ,bà viết nhiều bài giá trị về cuộc sống của người tỵ nạn.Nền giáo dục của Mỹ đa dạng và rất kỷ khi chọn lựa một câu văn hay bài viết mang vào sách giáo khoa .Hãnh diện cho bà và cộng đồng người Việt Hải ngoại.

Trần Mộng Tú,
Thi Sĩ Việt Nam Đầu Tiên

Vào Sách Giáo Khoa Trung Học Mỹ

Nếu quý vị mở cuốn sách giáo khoa dạy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, quý vị sẽ thấy một bài thơ của một thi sĩ Việt Nam dịch sang tiếng Anh đi song song với bài diễn văn nổi tiếng của Tổng Thống Abraham Lincoln trong thời Nội chiến Mỹ, tại bãi chiến trường Gettysburg. Đó là bài thơ của Trần Mộng Tú, The Gift in Wartime, nhan đề tiếng Việt là “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.”

Ảnh :Nhà thơ nhà văn Trần Mộng Tú (Ảnh:Uyên Nguyên)

Hai tác phẩm trên được đem ra để dạy học sinh môn văn chương Hoa Kỳ. Trong phần thứ ba của cuốn sách giáo khoa, viết về văn chương thời kỳ nội chiến Nam Bắc ở Mỹ và sau cuộc nội chiến, các nhà soạn sách giáo khoa của công ty Glencoe – McGraw Hill, rất thông dụng trong các trường trung học ở Mỹ đã có sáng kiến đem bài thơ Trần Mộng Tú, qua bản dịch Anh ngữ cho học sinh nghiên cứu song song với bài diễn văn trầm hùng của Abraham Lincoln, so sánh cách dùng chữ, cách chọn hình ảnh, những ý tưởng trong mỗi bài của hai tác giả. Đây là một kinh nghiệm văn chương quý báu mà các học sinh Mỹ được hưởng khi tiếp xúc với một thi sĩ ngoại quốc để thấy hậu quả của chiến tranh trên tâm hồn một phụ nữ Việt Nam cũng mang những tính chất nhân bản và sâu sắc không khác gì vị Tổng Thống mà tất cả mọi người Mỹ đều quen thuộc. Có lẽ sau này học sinh Việt Nam khi học về văn chương thời nội chiến Nam Bắc ở thế kỷ 20 cũng sẽ có cơ hội nghiên cứu bài thơ của Trần Mộng Tú
Bài thơ “Quà Tặng Trong Chiến Tranh” được viết ở Việt Nam, khi thi sĩ còn rất trẻ, từ những xúc động trước cái chết của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người yêu đầu của cô, sau đó đã được đăng trên các tạp chí khắp nơi ở hải ngoại.
Bài diễn văn do Tổng Thống Lincoln đọc ngày 19 tháng 11 năm 1863 trong dịp khánh thành một nghĩa trang cho các tử sĩ tại chiến trường Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania. Trước ông, một chính trị gia và nhà hùng biện nổi tiếng đã nói suốt 2 giờ; đến lượt Lincoln ông chỉ nói trong vòng 2 phút. Sau buổi lễ, các nhà báo tường thuật không ai nhắc đến những lời Lincoln nói, nhưng dần dần dân tộc Mỹ đã nhận ra đó là một tác phẩm văn chương bất hủ, xuất phát từ tấm lòng của một nhà lãnh đạo vốn rất ghét chiến tranh nhưng phải dẫn đầu nước Mỹ trong một cuộc chiến bất đắc dĩ và đã thành công trong việc bảo vệ một quốc gia thống nhất với những lý tưởng tự do, bình đẳng. Câu nói được cả thế giới ngày nay nhắc lại nhiều lần kết thúc bài diễn văn ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh để một “chính phủ của dân, do dân, và vì dân sẽ không bị hủy diệt trên trái đất.”

Cuốn sách giáo khoa tiếp theo đã giới thiệu thi sĩ Trần Mộng Tú, sinh ở tỉnh Hà Đông,Việt Nam, người phụ nữ có kinh nghiệm chính mình sống với những hậu quả của cuộc chiến tranh trong đó hai triệu người Việt Nam thiệt mạng cũng như 57,000 người Mỹ. Sau khi đọc bài thơ Trần Mộng Tú, học sinh được hướng dẫn với những câu hỏi để khám phá những cảm xúc mà tác giả gợi cho người đọc cũng như tìm hiểu nội dung bài thơ. Cuốn sách giáo khoa cũng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về kỹ thuật, học sinh tự hỏi tại sao thi sĩ đã dùng các điệp ngữ và nhắc lại các hình ảnh để gây ấn tượng nợi người đọc. Sau đó, các học sinh được mời so sánh hai áng văn chương cùng viết trong thời nội chiến ở hai quốc gia, hai thế kỷ khác nhau. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn của ông trước một đám đông, và ông nhắm vào công chúng. Còn Trần Mộng Tú viết một mình, cho mình. Nhưng học sinh có thể tìm thấy những mục đích và cảm xúc giống nhau trong hai tác phẩm ngắn này. Học sinh cũng được dịp tìm hiểu khai phá sự khác biệt giữa hai nền văn hóa của hai tác giả, và thử hỏi một người Mỹ thời nay nếu viết về chiến tranh thì sẽ viết giống tác phẩm nào.

Để quý vị thông cảm với tác giả Trần Mộng Tú, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ của thi sĩ bằng tiếng Việt dưới đây. Bài Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trong American Literature textbook) và bài Giấc Mơ Hòa Bình (Trong Vision of War, Dream of Peace)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh

Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh

Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai màu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng

Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu

Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương

Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời

Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động

Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.

Tháng 7/ 1969

Giấc Mơ Hòa Bình

Em nghe nói hòa bình
Trên những tờ nhật báo
Em nghe nói hòa bình
Trên miệng người lãnh đạo

Em để lòng khờ khạo
Ôm giấc mơ hòa bình
Mong chiến tranh chấm dứt
Anh giã từ đao binh

Tin về từ trận tuyến
Anh chết giữa chiến trường
Ôi giấc mơ khờ khạo
Chỉ còn là đau thương

Từ khi em ra đời
Từ khi có trí khôn
Em thấy toàn chém giết
Em thấy toàn máu xương

Từ khi em biết nghe
Từ khi em biết nói
Toàn những lời giả dối
Toàn những lời hứa suông

Từ khi em biết yêu
Từ khi em biết nhớ
Anh đã dặn đợi chờ
Rồi anh không về nữa

Ôi giấc mơ khờ khạo
Ôi giấc mơ hòa bình
Xây giữa lòng tham bạo
Chết trước khi thành hình

Ôi lòng non bé nhỏ
Như giấy trắng thơm tho
Vết mực đen loang lổ
Làm hoen ố hồn thơ

Em đã biết giận thù
Biết cuộc đời dối trá
Trang nhất nói hòa bình
Trang tư toàn cáo phó

Em không còn bồng bột
Tin những lời đầu môi
Em bắt đầu tỉnh ngộ
Thì đã mất anh rồi

Ôi giấc mơ hòa bình
Anh trả bằng sự sống
Em trả bằng tủi hờn
Bằng một đời đơn độc

Tháng 7/1969

Cao La
( sưu tầm )

Văn học xứ Nam kỳ lục tỉnh không dạy con người thù hận

Một bộ phim ngôn tình Hàn Quốc mà các vai nữ ác chánh thường dùng mưu mô xảo trá để hãm hại các vai nữ chánh một cách tàn nhẫn rồi sao đó kẻ ác lại bị trả thù lại ….

Trong các tác phẩm kiếm hiệp của tác gia Kim Dung thường xuất hiện với các màn giao tranh chiếm giết trả thù thủ đoạn má cái anh hùng hảo hớn khi đó cho là việc phải với các slogan như : nợ máu phải trả bằng máu, quân tử trả thù mười năm chưa muộn.

Hay trong những tác phẩm của văn học Bắc kỳ như một Chí phèo rạch mặt ăn vạ tới chết vẫn là kẻ bất lương và không tìm ra con đường đi tới sự lương thiện.

Một anh cu Lộ trong “tư cách một thằng mỏ” của Nam Cao, sanh ra trong một gia đình tử tế, nghèo nhưng thanh bạch, bỗng chốc vì những lời dố kỵ, hèn hạ xung quanh mà tự biến mình đê tiện theo cách người ta khinh miệt mình.
“A! Họ bảo hắn là mõ vậy… Tham như mõ vậy!… Đã vậy thì hắn tham cho mà biết!… …..Hà hà! Phong lưu thật!… Cho chúng nó cứ cười khoẻ đi!” (hết trích).


Phải chi mà anh cu Lộ còn tỉnh táo mà giữ được chút lòng tự trọng, giũ lòng thanh bạch mà mặc kệ những kẻ nói ra nói vào thì có lẽ từ từ người ta cũng nhận ra hắn là một kẻ “lương thiên” chăng ?

Một thằng Xuân tóc đỏ trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng – một nhân vật dốt nát nhưng bước lên được ngôi cao danh vọng, được đời tán dương nhờ sự ma lanh, lọc lừa, xảo trá – đọc xong truyện ta hả hê vì một kẻ chả có tài đức gì lại được ông trời cho gặp toàn chuyện may mắn, mà chuyện lọc lừa thì khá dễ làm hơn chuyện làm việc thiện – nên con người ta hả hê khi đọc số đỏ- yêu thích nhơn vật này- từ đó bỗng nhiên muốn thành “thằng Xuân tóc đỏ” lúc nào không hay.

Nếu có ai phản bác thì lại đổ lỗi cho hoàn cảnh, đổ lỗi cho số phận đẩy đưa… ùa thì người ta đẩy thì mình đưa… ngẩm sao giống kiếp của loài cây cỏ chim thú.
Miệng đời khốn nạn, cố xô đẩy ta vào đường u mê tội lỗi nếu ta cứ sống theo họ thì biết khi nào mới tìm ra được một con người “lương thiện” trong ta.

Văn họ xứ Nam kỳ lại khác : đề cao nhơn nghĩa, đề cao cái thiện, tin vào đạo lý ở hiền gặp lành, ai quấy mặc ai, bổn thân thì phải ở phải, khuyên thiên hạ coi thường thói xảo trá lọc lừa, thù hận, sống vơi phương châm dĩ hòa di quý…
Một cậu Thiên Tứ mang tiếng ăn chơi bị bạn bè gạt gẫm bạc tiền , sau cậu thành tâm hướng thiện, dẫu bạn bè lừa lọc cậu vẫn tiếp đãi đường hoàng chớ không ghét bỏ, bạn bè thấy vậy mà tự hổ thẹn

Trong tác phẩm ” Tơ hồng vương vấn” thầy Vĩnh Xuân ra làm thông ngôn cho quan Tây nhưng không vì thói thường chốn quan trường mà đi ăn hồi lộ- mặc dầu thiên hạ ai cũng cho là thầy ăn hồi lộ nhưng thầy không vì “mình không ăn thiên hạ cũng tưởng mình ăn” mà nương theo lời bè giẫu của thiên hạ , thầy vẫn một lòng giữ thanh cao chánh trực sống bần hàn mà lòng thanh thản. Nhờ ăn ở đường hoàng mà thẩy nghèo lắm, bị lãnh tiển bạc chục còn lo cho mẹ già và vợ con, nhưng được cái “dầu thiên hạ có bạc muôn cũng không làm sao mua được cái cuộc sống thanh bạch của thẩy ,” huống hồ chi vài trăm đồng bạc mà làm mất phẩm giá con người. Cũng nhờ ăn ở đường hoàng mà từ thông ngôn thầy được cân nhắc lên chức quan huyện rồi lần lần lên tới chức Đốc phủ sứ , sống cảnh giàu sang lại còn được thiên hạ trọng lung.

Cô Ngọc là con gái thầy Kế Hiền- cha chia hết sự sản cho vợ nhỏ tham lam, hồi hay tin mẹ ghẻ bệnh sắp chết: “Cô Ngọc vẫn hờn mẹ ghẻ hoài nên được tin cô không chịu đi thăm. Hương chủ Hậu rầy vợ, nói rằng ai quấy mặc ai, mình không nên lấy quấy mà trả quấy, bởi vậy cô Ba Ngọc mới chịu đi với chồng lên Mỹ Hội.”

Một cô Xuân Hương lấy chồng đặng trả nợ cho cha, mặc dầu chồng không thương, ham chơi bời bỏ theo phường đĩ điếm, cha chồng giận con trai thương con dâu mà cấm con dâu không cho đi đám cái giống phụ tình vợ con bất hiếu song thân nhưng cô vừa khóc vừa lạy ông Huyện mà nói rằng:

“Cha của Hoàng Hải dầu không thương con đi nữa cũng là chồng của con. Lúc còn sống mà con chưa dám phiền trách thay, nay rủi mất rồi, dầu quấy dầu phải con cũng phải quên hết chuyện cũ. Để lòng lo đáp nghĩa cho chồng con. Vậy cúi xin ba rộng lòng cho phép con đem Hoàng Hải lên Sài Gòn đặng mẹ con con cư tang và lo chôn cất chồng con cho trọn niềm chồng vợ”.(hết trích)

Một ông Cai tổng Tâm một đời giàu sang bị vợ dùng mưu sang đoạt sự sản, không cho nhìn con, để ông phải trắng tay thành người nghèo khó nhưng ông vẫn không trách hờn vợ, không bắt con cái phải hận mẹ của nó mà ông chỉ than rằng :
“Cái ngày gia-đình tan rã, sự-nghiệp điêu-tàn, cha chắc Phật Trời muốn độ mạng cha, nên mới khiến cho cha chịu khổ kiếp nầy đặng kiếp sau hưởng cực-lạc thế-giới.” (hết trích)

Cậu Trần Văn Quý, mẹ chết, cha lấy mẹ ghẻ không thương lại còn hà hiếp, em một cha khác mẹ thì ngộ ngịch với cậu
Cậu lại lấy đạo thánh hiền của Mẫn Tử Khiên ra đãi người, không oán ghét mà tự hỏi thầm trong trí: Đối với em mình là Sen, mình có thương như Tử Khiên hồi xưa thương và lo cho 2 em của ngài hay không? – Không. Đối với mẹ ghẻ, mình có ái kính, nhẫn nại như Tử Khiên hồi xưa hay không?- Không. Rồi hổ thẹn, và hối hận, nhứt định sẽ đổi trí ý, từ rày sẽ thương yêu em Sen, không lạt lẽo như xưa nữa, sẽ kính mẹ ghẻ, chứ không ghen ghét như trước nữa.” (hết trích)

Nói đi nói lại, không ai dám nói ta sanh ra là có thể làm được người tốt , con người ta cũng có tham sân si, thù hần, đố kỵ không tránh khỏi, nhưng hầu hết các nhơn vật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh nương theo lý thuyết nhà Phật, luôn bỏ qua hận thù, lấy ân báo oán, nhờ vậy mà cuối truyện kẻ ác người lành đều sống thuận hòa với nhau mà quên đi cái cừu hận thấp hèn…

Lẽ ra những tác phẩm nhơn văn dạy người lẽ phải của cụ Chánh cần phải được dạy trong học đường mà soi sáng cho tâm trí còn non dại của lớp trẻ , tránh để chứng sống tha hóa, sa chân lỡ bước rồi than thân trách phận đổ lỗi xã hội như Chí phèo hay thằng cu Lộ của Nam Cao .

Sưu tầm

Bửu bối của đất Miền Nam: Ca sĩ Hoàng Oanh

Nói về một người mình thích và ái mộ, văn nghệ thì mình cứ kêu thẳng thừng kiểu Nam Kỳ là ca sĩ đi, không cần danh ca hay danh cầm gì hết, ca sĩ và thầy đờn, thương thì cứ nói mình thương thôi!

Ca sĩ Hoàng Oanh tên thiệt Huỳnh Kim Chi là con gái xứ Mỹ Tho lớn lên ở khu xế cầu sắt Đa Kao Sài Gòn, nổi tiếng từ ban Việt Nhi, học ở trường áo tím Gia Long và Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Nói kiểu sau 1975 thì lý lịch trích ngang của cô ca sĩ mà năm nay phải kêu bằng bà Hoàng Oanh, chỉ có bấy nhiêu

Nhưng đó là cả một quảng đời, cả một đường lịch sử rất dài

Hoàng Oanh có nhan sắc không gọi là đẹp xuất sắc, chưa ai kêu cô là đẹp. Cô xa sĩ duyên ghê! ngộ ngộ, làn da bánh ít mặn mòi, mặt tròn kiểu người đàn bà Mỹ Tho xưa, mắt mí lót, dáng đi chừng mực thướt tha, tay chưn dịu nhiễu, mắt nhìn chan chứa chữ tình

Nhìn khuôn mặt bầu bầu của Hoàng Oanh và khuôn mặt bầu của bà Thiệu Nguyễn Thị Mai Anh coi giống không? Nhìn có nét giống á, cái nét Mỹ Tho nhơn hậu, dễ gần mà rất sang trọng

Hoàng Oanh có mái tóc lòa xòa xõa ngang vai, ai chẳng biết giờ có tuổi cô xài …tóc giả nhưng vẫn thương dữ lắm à nha!, mỗi khi lên sân khấu cô đi đứng chậm rãi,thái độ thân thiện, giọng nói ngọt ngào e ấp, cái e ấp của những cô gái miệt vườn Nam Kỳ xưa vậy đó

Người con gái Nam Kỳ xưa điệu điệu nhỏ nhẹ kiểu cô Hoàng Oanh

Nói về tính cách, phải công nhận là người Nam Kỳ Hoàng Oanh rất hề hà, hồn hậu, luôn có cách biểu lộ tình cảm một cách chân tình, không khách sáo, dè chừng, dấu diếm

Hiền hậu vậy nên ai cũng cưng cô Hoàng Oanh

Thiệt bụng là:

“Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ
Thấy em ăn nói nhu mì anh thương”

Hoàng Oanh nổi danh từ rất sớm ở đất đô thành Sài Gòn.Từ thập niên 60 của tk 20 cô đã xuất hiện trên sóng phát thanh và sau đó là truyền hình, băng dĩa nhựa và tờ nhạc thì in hình cô dữ dằn

Năm 1961,Hoàng Oanh thâu thanh vào dĩa nhựa 45 vòng bài hát đầu tiên “Nếu một mai anh biệt kinh kỳ”

“Mình vui được sao nếu chưa thanh bình
Từng đoàn người trai đi viết sử xanh
Thì gian nhà xinh vắng đi mình anh
Cũng thôi chớ buồn em nhé
Tiễn đưa nhớ ngày đăng trình…”

Hoàng Oanh đã thâu âm hơn 200 dĩa nhạc trước năm 1975 khi nó là một kỷ lục khi chưa có cô ca sĩ nào sau này được như vậy

Bài “Người yêu của lính” ra đời có những câu “đồn” như tả Hoàng Oanh:

“Hỡi người em gái Gia Long ơi!
Hỡi người em chốn xa xôi
Áo trinh thơm mùi giấy
Có khi anh ngỡ là mình quen nhau từ kiếp trước
Đến bây giờ mơ ước tròn tơ duyên
Để má em thêm hồng”

Năm 1965 cô nữ sinh Gia Long Huỳnh Kim Chi được chọn là một trong mười nữ sinh choàng vòng hoa chiến thắng cho các anh chiến sĩ VNCH. Vô tình nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có mặt, không biết ông vì sao lại”để ý” cô nữ sinh có nước da bánh ít hơi ngọt này

Còn hình ảnh cái “cầu sắt” nè bà con cô bác ơi!

Ai cũng biết nhà Hoàng Oanh ngay dưới chưn cầu sắt Đa Kao Bùi Hữu Nghĩa:

“Nhớ hôm em về
Đường chiều nghiêng nghiêng cầu sắt đó
Khiến cho lòng anh thấy nhiều lo âu
Anh sợ má em phai màu”

Năm 1970 Trần Thiện Thanh viết “Một đời yêu em”:

“Em biết khi anh giận chuyện gì
Nhân gian xa vời sao băng tăm tối
Sông ân tình sao đi không tới
Anh trách mình anh trách anh thôi
Cay đắng nào dâng cháy trên môi”

Năm 1972, ca sĩ Hoàng Oanh lên xe hoa với dược sĩ Mã Gia Minh, tức nhạc sĩ Mai Châu sau 9 năm quen nhau

Nhật Trường viết “Gặp nhau làm ngơ” năm 1974 và tự ca bài này luôn:

“Nhớ khi xưa còn thơ
Tuy thương thầm nhìn nhau cứ lặng câm
Chuyện tình yêu ban đầu
Mấy ai may mắn chung nhịp cầu
Nàng đội hoa theo chồng
Nước mắt tôi rớt bên bờ sông
Đã không như là mơ
Nếu tình cờ gặp xin cứ làm ngơ”

Hoàng Oanh là một nữ ca sĩ hàng đầu của dòng nhạc vàng trước năm 1975. Cô còn danh giá hơn nữa khi cùng với Phương Dung là hai tiếng hát xuất xứ rặc Nam Kỳ Lục Tỉnh giữa hàng chục giọng ca gốc Bắc, khi mà giọng Bắc được mặc định làm chuẩn trong tân nhạc Việt Nam

Hoàng Oanh là người gốc Mỹ Tho và lớn lên ở Sài Gòn, là người Miền Nam chánh gốc nên giọng cô là giọng Miền Nam mùi, nhưng mùi tân nhạc không phải mùi kiểu cải lương

Mà không riêng hát nhạc mùi Lục Tỉnh hay, cô hát hay nhạc hơi hám Huế, nổi tiếng ngâm thơ, tất nhiên cô hò Huế cũng giỏi

Hoàng Oanh lấy hơi quá ngọt, quá mùi, nó không có cái bi ai, chát chát oán oán, lơ lơ lững lững cứng cứng

Tiếng đệm hò ơ kéo dài của Huế rất đặc biệt, không phải người Huế thì không kéo thanh âm đó ra được, cách nhả chữ câu hò cuối như thở của người Huế

Hoàng Oanh hát “Chuyện một chiếc cầu đã gãy”, ”Những con đường trắng” thành công mà Hà Thanh không dám hát

Là vì những bài này nó là nhạc ngũ âm, nhạc ngũ âm là tổ của nhạc tài tử Nam Kỳ, tổ cải lương

Những bài hát này bi thương oán oán song nó cần một chút luyến lái “mùi mùi” tình cảm của Miền Nam

Thành ra kiểu hát của Hoàng Oanh lại khiến bài hát về Huế mà thành công vang dội

Hoàng Oanh ca “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” thấy thương quá:

“Ơi Huế ơi !
Trăm nhớ với ngàn thương
Hồn lưu lạc vẫn thường về chốn cũ “

Hay nhứt, gửi vào sông núi ngàn đời sau phải kể “Chuyến đò vĩ tuyến” của nhạc sĩ Lam Phương

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam bài này nói thẳng là để cho Hoàng Oanh độc quyền hát vì giọng ca Hoàng Oanh mùi da diết

“Chuyến đò vĩ tuyến” của Lam Phương tạc vào sách sử với bốn câu thơ mà chỉ có giọng ngâm của Hoàng Oanh là trị đặng tới bến:

“Hò… hớ …. hò …. hơ!
Em và cùng anh xây một nhịp cầu
Để mai đây quân Nam về Thăng Long
Đem thanh bình sưởi ấm muôn lòng !”

Có lẽ bốn câu trong bài nghe chưa đã ,cô quất luôn một bài thơ dài trước khi ca nữa

Trong bản của Asia ,bài “Chuyến đò vĩ tuyến” nữ danh ca Hoàng Oanh đã ngâm một đọan thơ rất hay trước khi vô bài hát

Cô ngâm vầy:

“Đò chiều sông lạ tiễn đưa nhau
Gió nấc từng cơn, sóng vật đầu
Hai ngả lênh đênh trời ngụt khói
Người đi, ta biết trở về đâu
….
Cuối thôn gà giục sáng từ lâu…
Hết một đêm gần,thôi,xa nhau
Vĩnh biệt đây chăng?rằng tạm biệt
Mà sao bến vắng nặng mây sầu
Nhưng thôi, thôi cũng đừng lưu luyến
Đời loạn còn chi đẹp nữa đâu
Dứt áo cho tình ta đẹp nhé
Non cao ngàn thuở nhớ sông sâu
Nắm tay cùng hẹn mai sau
Dòng Ngân bắc lại nhịp cầu mong manh”

Và tại Singapore ,trước bài Cuốn Theo Chiều Gió (Anh Việt Thu) cô ngâm mấy câu thiệt đúng tâm trạng:

“Không biết quê ta ở hướng nào
Mộng về đường cũ nẻo chiêm bao
Nửa đêm tỉnh giấc thầm rơi lệ
Thương nhà nhớ nước dạ nao nao
Thu qua đông đến đời lưu lạc
Quê người ai thấu nỗi thương đau”

Chữ “không biết” cô ngắt giữa thành “không……biết” nghe bi ai thống thiết và da diết tình quê làm sao

Người ca sĩ hát nhạc lính, ca ngợi người lính VNCH bất tử:

“Chinh nhân ơi!
Khi anh trở về
Người yêu ra mừng đón
Người yêu anh bé nhỏ sẽ yêu anh trọn đời”

Người ca sĩ đã gần 80 tuổi, năm tháng có thể làm hình dáng phôi pha chút đỉnh nhưng cái dáng nhẹ nhàng kiểu Nam Kỳ xưa đó, cái nhìn nghiêng nghiêng yểu điệu đó không xóa nhòa trong lòng khán giả quê nhà

Trường phái tiếng hát Hoàng Oanh đã vững chắc mà hình ảnh, cách sống,thái độ của người ca sĩ đó cũng vững bền trong lòng người Việt khắp nơi

Ít có nghệ sĩ nào mà thành biểu tượng Nam Kỳ xưa, giá trị truyền thống Nam Kỳ ,gìn giữ hồn VNCH và thành niềm hy vọng của người dân qua những câu ca,tiếng hò của mình

Chỉ có con chim vàng đất Mỹ Tho Hoàng Oanh là làm đặng thôi

Ca sĩ Hoàng Oanh hát nhạc vàng, giữ gìn những kỷ niệm thuộc về Việt Nam Cộng Hòa , về ý thức, về cái thời hào hùng nhứt của VNCH

Người Lục Tỉnh chơn chớt hề hà yêu mến cô rất nhiều, và đó là niềm an ủi của người trẻ ở quê nhà

Cái giọng oanh vàng mùi mẫn ngọt ngào đó tới ngày nay vẫn vang lừng trong lòng người ái mộ ở khắp nơi, đứng vững trong lòng người Lục Tỉnh

Một ca sĩ thành một biểu tượng của Miền Nam tự do, giúp giữ gìn và nhắc nhớ cho các bạn trẻ giữ vững những giá trị của thời Việt Nam Cộng Hòa, giữ vững những giá trị của Miền Nam

Phương Nam là nơi có những người dân luôn biết nghĩ tới người khác , ý thức tự do và nhân bản đã ăn sâu vào trong tâm tưởng của từng người.Sự hy vọng, niềm tin về một cuộc sống vui vẻ, tiến bộ luôn ngời sáng lên trong từng khoảnh khắc

Những giá trị của Miền Nam chưa bao giờ bị phai lợt dù bị chà đạp

Cô không phải là nhà chánh trị, nhưng cô giữ đúng giá trị của mình, cô là cái xưa cũ, cái hồn Nam Kỳ xưa và mọi người đang cố khơi gợi và gìn giữ

Miền Nam không bao giờ bị tàn lụi là nhờ tiếng hát mùi mẫn của Hoàng Oanh vẫn còn dó

Cám ơn cô Hoàng Oanh!

Trang Văn thơ miền Nam

TIỂU THƯ CON QUAN VIỆT NAM ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ BỊ ĐUỔI HỌC LÀ AI?

Nguyễn Thị Thiếu Anh sinh năm 1921 tại phủ Anh Sơn, Nghệ An, quê xã Sơn Hoà, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Bà là con gái cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm đương chức Phủ doãn Thừa Thiên – kinh đô Huế.

Từ khi còn là một cô nữ sinh Đồng Khánh, Nguyễn Thị Thiếu Anh đã nổi tiếng là cô gái đầu tiên trong kinh thành Huế dám đi xe đạp khắp kinh thành. Nguyên do của việc này bởi vốn học giỏi văn, cô học trò tuổi mới 15 lúc ấy đã tự nguyện tham gia vào ‘học sinh văn đoàn’, vừa chịu trách nhiệm biên tập vừa lo công việc quản trị tờ báo phải chạy ‘phát hành’ và giao dịch nên phải tập đi xe mới đủ thời gian. Và người cổ vũ động viên cô gái tập đi xe ấy chính là người anh ruột – Nguyễn Khắc Viện, một nhà văn, nhà báo, nhà văn hoá, bác sĩ nổi tiếng không chỉ ở ta mà cả ở Pháp.

Không chỉ là cô gái đầu tiên ở kinh thành biết đi xe đạp, bà còn nổi tiếng bởi là một tiểu thư khuê các độc nhất vô nhị bị đuổi học. Chuyện bà bị đuổi học sau này đã thành giai thoại của gia đình và được rất nhiều người xung quanh kể lại. Những ai biết lý do vì sao bà bị đuổi học sẽ thấy khâm phục tính cách của một tiểu thư con quan khẳng khái, chính trực.

Là con gái quan Phủ Doãn Thừa Thiên nên từ nhỏ, bà đã được cụ thân sinh là ông Nguyễn Khắc Niêm, Hoàng giáp khoa Đinh Mùi, cho đi học. Khi còn là một nữ sinh Đồng Khánh, bà nổi tiếng là một người học giỏi.

Năm 1937, cô học trò này đã nổi tiếng khi đoạt giải nhất trong kỳ thi học sinh giỏi văn toàn quốc với số điểm 20/20, được nhà vua đích thân trao giải thưởng gồm một xấp vải đẹp, một chiếc đàn banjolin và một cuốn Larousse Ménager.

Cô gái giỏi văn ấy không chỉ học giỏi mà ngay từ tuổi trăng tròn đã có bài thơ Chiếc nón Huế làm cho các bậc thi sĩ đàn anh như Xuân Diệu, Tế Hanh, Thanh Tịnh phải để mắt đến.

‘…Sung sướng cầm chiếc nón/ Đội nghiêng nghiêng lên đầu/ Thướt tha hơi làm dáng/ Thèn thẹn… em bước mau…/ Me cười: Ồ con me/ Dí dỏm học làm sang/ Chỉ thiếu chiếc kiềng vàng/ Con thành “Cô gái Huế”…’

Năm 1947, Giáo sư Nguyễn Lân đã chọn đưa bài này vào sách giáo khoa văn lớp 6.

Thế nhưng, đường học hành thênh thang của cô tiểu thư Nguyễn Thị Thiếu Anh bị ngắt quãng vì Thiếu Anh đã dám cãi một cô giáo người Pháp bởi bà ta đã xúc phạm, miệt thị dân tộc Việt Nam.

Lúc đó, Nguyễn Thị Thiếu Anh đang là nữ sinh Đồng Khánh (Huế), học lớp 2e année, tương đương lớp 7 bây giờ. Một lần, trong giờ thi học kỳ tiếng Pháp, chỉ vì bài làm xuất sắc hơn những bài kiểm tra bình thường, mà Nguyễn Thị Thiếu Anh bị cô giáo người Pháp nghi rằng quay cóp. Không chỉ thế, bà ta còn dùng những lời lẽ miệt thị để xúc phạm người Việt Nam: ‘Dân An Nam các cô đều là quân ăn cắp’. Câu nói đó đã động chạm đến lòng tự tôn dân tộc của Thiếu Anh, khiến bà đứng phắt dậy, khẳng khái nói: ‘Trên thế giới này, dân tộc nào cũng có người lương thiện, có kẻ ăn cắp. Tôi cũng công nhận người Pháp như các bà qua đây không ai ăn cắp, vì các vị đã bóc lột chúng tôi tận xương tủy, đã giàu có tột cùng rồi! Đối với chúng tôi thì tất cả những người Pháp sang xâm chiếm tàn bạo đất nước Việt Nam đều là quân ăn cướp’.

Câu nói của Nguyễn Thị Thiếu Anh lúc đó không chỉ khiến bà giáo viên người Pháp giận tím mặt mũi, mà còn khiến cả lớp học lặng im phăng phắc vì choáng váng. Câu chuyện đó nhanh chóng lan đi khắp trường Đồng Khánh rồi lan ra khắp kinh thành Huế. Không ai tin rằng, một tiểu thư con quan Phủ Doãn Thừa Thiên lại dám nói những lời lẽ đanh thép thế với Thực dân Pháp.

Mặc cho bà Hiệu trưởng khuyên Nguyễn Thị Thiếu Anh xin lỗi, mặc cho thân phụ đang ngồi ghế Phủ Doãn Thừa Thiên, bà nhất quyết không cúi đầu. Bà thà chấp nhận bị đuổi học với cái ‘án’ như là chung thân: ‘…bị đuổi học khỏi trường… bị cấm thi 3 năm vì có tư tưởng phản nghịch’ chứ không chịu hạ mình, bởi với tiểu thư Thiếu Anh, đó không chỉ là danh dự của riêng bà, mà còn là danh dự của dân tộc. Điều thiêng liêng đó, không gì có thể xâm phạm được.

Nguyễn Thị Thiếu Anh thất học từ đó. Mãi đến sau 1954, ra Hà Nội, lúc đã gần 35 tuổi, mới được đi học lớp dược tá.

Theo Phụ nữ Việt Nam