Thông điệp từ sự cô đơn

Bên cạnh tình yêu, sự cô đơn cũng là một đề tài khá quen thuộc trong văn học. Mỗi nhà văn lại dùng một điểm nhìn khác nhau để phác họa sự đơn độc của nhân vật

Với một số người, cô đơn là một cảm giác rất đáng sợ. Nó khiến chúng ta chết dần chết mòn trong tuyệt vọng. Nhưng đôi khi, nhờ những giây phút chỉ có một mình, con người mới có can đảm để đối diện với bản thân, hiểu được mình cần gì, muốn gì. Nói cách khác, cô đơn giống một lăng kính đa sắc và các nhà văn đã khai thác nó triệt để trong trang văn.

co don anh 1

Một con người

Đây là tác phẩm để lại ấn tượng đậm nét trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn người Mỹ gốc Anh Christopher Isherwood, cuốn tiểu thuyết này được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời tác giả. Nhân vật chính Geogre đang sống những ngày tồi tệ khi bạn đời của ông là Jim vừa ra đi vì tai nạn giao thông. Geogre cảm giác như thân thể già nua của mình đang mục ruỗng, còn đầu óc của ông hoàn toàn trống rỗng.

Hàng ngày, vị giáo sư văn học Anh vẫn lên giảng đường, giảng bài cho hàng nghìn sinh viên, sau đó lại nhốt mình trong phòng làm việc, đọc đi đọc lại những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng. Ai cũng nghĩ ông đang sống những ngày bình thường, chỉ có Geogre biết cuộc đời của ông giờ đây thảm hại ra sao. Cái chết dường như đang lởn vởn trước mắt người đàn ông tội nghiệp.

Là một người đồng tính, Geogre thường phải sống trong sự cô đơn. Kể từ khi Jim xuất hiện, vị giáo sư ấy đã được sống một cuộc đời khác. Jim cũng rất hạnh phúc khi được sống bên một người tình tuyệt vời như Geogre.

Nhờ tìm thấy nhau, họ mới có đủ can đảm sống thật với chính mình, cả hai thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Từ đây, những con người cô độc tìm thấy sự sẻ chia và thấu hiểu. Nó đã trở thành nguồn sức mạnh vô hình để họ vượt qua khó khăn.

Một con người ra đời vào năm 1964, khi xã hội Mỹ vẫn có những cái nhìn không mấy cởi mở về người đồng tính. Christopher Isherwood đã chọn một góc nhìn khác khi nói về những người đồng tính. Không có sự dè bỉu hay những ánh mắt khinh khi trực diện, thay vào đó nỗi cô đơn và sự giận dữ biến thành màu sắc chủ đạo trong cuốn tiểu thuyết mang âm hưởng trầm buồn. Geogre luôn cảm thấy bị cô lập và ông tình nguyện để nỗi đau bức tử chính mình.

co don anh 2
ETTA VÀ OTTO VÀ RUSSELL VÀ JAMES

Trái tim của nhiều độc giả đã thổn thức với cuộc hành trình kỳ lạ trong cuốn tiểu thuyết Etta và Otto và Russell và James của nhà văn người Canada Emma Hooper. Điều gì đã khiến một bà lão ngoài 80 tuổi đi bộ hơn 3.000 km chỉ để ngắm những con sóng vỗ, phải chăng đại dương có một sức quyến rũ vô hình.

Etta đã 83 tuổi, bà có một cuộc sống bình yên bên người bạn đời Otto. Thế nhưng, một ngày kia, bà lão quyết định rời khỏi nhà, để thực hiện giấc mơ của đời mình là được nhìn thấy biển. Dù mắc bệnh đãng trí và có thể quên đường về nhà, nhưng Etta vẫn không ngần ngại, bà dũng cảm tiến về phía trước.

Còn lại một mình, Otto học cách làm món bánh ông thích ăn theo công thức mà vợ để lại. Ông lão vẫn sống những ngày bình dị, học cách tự chăm sóc bản thân và cầu nguyện cho vợ sớm trở về. Otto đem những lo lắng của mình kể cho người hàng xóm thân thiết là Russell.

Khi còn trẻ Russell đã đem lòng yêu Etta, lo lắng cho người mình yêu, ông lão quyết định lên đường. Trên hành trình vạn dặm, không biết đâu là đích đến, Russell nhận ra bấy lâu nay ông đã bị mối tình đơn phương với Etta giam cầm. Ông cứ ngỡ trái tim sẽ bình yên khi mỗi ngày được nhìn thấy người phụ nữ mình yêu sống hạnh phúc.

Nhưng Russell đã lầm, trong những ngày tháng không được thấy hình bóng Etta, ông lão nhận ra sự ngốc nghếch của chính mình. Còn Etta, chuyến đi đặc biệt ấy cho bà một khoảng lặng để nhìn lại bản thân và được sống cho chính mình.

co don anh 3
ELEANOR OLIPHANT HOÀN TOÀN ỔN

Eleanor là kế toán của một công ty thiết kế đồ họa. Ở văn phòng, cô như người tàng hình, chẳng được ai chú ý tới. Cuộc sống thường ngày của người phụ nữ này cũng khá tẻ nhạt. Tan sở, cô sẽ nhốt mình trong phòng, ăn uống qua loa cho xong bữa tối rồi đi ngủ. Nếu thao thức suốt đêm dài, người phụ nữ trẻ sẽ uống vài ly rượu để tìm cơn mộng mị.

Eleanor không có bè bạn, ám ảnh bởi quá khứ bị bạn trai cũ bạo hành, cô gái ấy không thiết tha chuyện yêu đương hay kết bạn với người khác giới. Sống trong cô đơn, Eleanor thấy mình hoàn toàn ổn. Một ngày kia, Raymond bước vào cuộc đời của cô bất ngờ như cơn gió mát giữa trưa hè. Đó là một người đàn ông tốt bụng, thẳng thắn và sẵn sàng lắng nghe.

Không vồn vã với những lời yêu đương, Eleanor và Raymond chầm chậm bước vào cuộc đời nhau bằng tình bạn. Họ chia sẻ với nhau những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, cùng nhau đi thăm một người bạn chung, hẹn nhau tới quán bar uống vài ly nếu thấy buồn.

Dần dần, Raymond đã khiến cho Eleanor mở lòng và có cái nhìn tươi sáng hơn về cuộc đời. Sống trong cô độc, con người ta vẫn ổn, nhưng không bao giờ có được hạnh phúc. Có ai đó để bầu bạn, chia sẻ buồn vui, cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn. Trái tim sẽ được chữa lành nếu nhận được những yêu thương chân thành, dù tình cảm ấy xuất phát từ tình bạn hay tình yêu.

Eleanor Oliphant hoàn toàn ổn là tác phẩm đầu tay của Gail Honey. Cuốn tiểu thuyết này đã trở thành một hiện tượng khi bán được hai triệu bản và giành giải Costa cho “Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc nhất” vào năm 2017.

Thụy Oanh / Zing / Sách hay

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes viết về xứ Đàng Ngoài: Chuyện hôn nhân

Chế độ đa thê vẫn còn là thông lệ ở nước này, nơi những kẻ quyền quý không ai bị truy tố hay bị trừng phạt nếu lấy vợ bé; hoặc giữ vợ cả như những người có thế giá thường làm, hoặc bỏ vợ cả như thỉnh thoảng xảy ra nơi dân chúng.

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes viết về xứ Đàng Ngoài: Đám cưới riễn ra thế nào?

Phép thử rể tương lai

Về hôn nhân, tất cả thường theo cách thức như sau: cha mẹ đôi bên bắt đầu đề cập tới khế ước hôn nhân, ngay khi con cái còn nhỏ dại và còn ít tuổi, mặc dù thủ tục đầu tiên luôn luôn bắt đầu từ bên nhà trai. Họ muốn làm thông gia với một gia đình khác cùng ngang hàng với mình, thì họ nhờ một đệ tam nhân đến hỏi bên nhà gái xem có bằng lòng gả con gái cho con trai mình không. Nếu bằng lòng thì bên nhà trai sẵn sàng chính thức đề cập tới. Họ đến nhà gái mang theo phẩm vật và tiền cưới tùy theo gia cảnh. Khi đã nhận sính lễ thì sự hứa hôn được công nhận và kể từ lúc này hai bên không được tự ý từ chối trừ khi có lý do quan trọng.

Bố vợ tương lai có thể tìm hiểu phong cách, giá trị tinh thần và thân thế người rể tương lai. Ông đòi người rể tương lai đó vừa tới tuổi trưởng thành phải đến ở nhà mình. Ông giao cho công việc làm để thử, việc nhà cũng như việc ở ngoài. Nếu trong cuộc thử này, ông thấy có tính nết xấu, không có giáo dục, lười biếng và không biết cách quán xuyến thu xếp công việc nhà thì bấy giờ theo lương tri và thông tục cho phép, ông trả lại nhà trai cùng với tiền bạc đã nhận trước đây. Còn trái lại nếu ông hài lòng thì sau cuộc thử này ông giữ lại một hay hai năm hoặc lâu hơn, nếu con gái chưa tới tuổi lấy chồng.

Tiến hành hôn lễ

Trước hết phải thông báo cho cả họ hàng bên nhà trai cũng như bên nhà gái để xem có cản trở về huyết thống do luật nước cấm. Vì con của hai anh em, các cháu ở cấp nào tuy xa cũng không bao giờ được lấy nhau. Các cháu của anh em trai và chị em gái thuộc ba đời thì có thể lấy nhau, nhưng trong hai đời thì không được. Còn con của hai chị em gái có thể lấy nhau tuy mới có hai đời.

Khi đã báo tin cưới cho tất cả họ hàng gần (những người này không quên gửi quà tới cho buổi lễ thêm phần long trọng) thì cũng phải đưa tin cho quan cai trị và những vị kỳ hào nơi mình ở, cũng mời họ đến dự tiệc cưới vào một ngày đã chỉ định. Việc thông tin công cộng này thay cho việc thông báo chính thức và là việc rất cần thiết, vì nếu bỏ thì coi như không có phép cưới và không chính thức thành phép, có khi còn bị pháp luật và tục lệ trong nước trừng phạt như thể làm trộm vụng. Thế nên có thể biết rằng những hôn nhân trộm vụng đều bị truy tố, ngay cả nơi lương dân.

Xong các việc này rồi thì chú rể vì phải chịu tiền cưới xin cho cô dâu nên đem số tiền hai bên đã thỏa thuận đến nhà gái. Nhà gái không được giữ tiền, phải dùng tất cả vào việc sắm sửa áo quần và đồ dùng cho cô dâu. Dẫu sao để cho phải phép lịch sự thì ông bố thường cho con gái thêm tiền, tùy gia cảnh, để con đem theo về nhà chồng. Vì thực ra để sắm sửa thì đã dùng một phần ở tiền cưới đem tới từ hôm trước với nghi thức long trọng và cảnh trí tưng bừng, có những người thế giá nhất đến dự, nếu đôi tân hôn thuộc dòng họ sang giàu. Còn nếu là thường dân thì tất cả làm trong ngày cô dâu được đón về nhà chú rể.

Đoàn rước dâu về nhà trai, đứng vây quanh bàn thờ tổ tiên dựng ở phòng tiệc có hương hoa thơm phức. Ở đây bố chồng (hay người chú bác nếu bố chết) quỳ trước bàn thờ và cô dâu chú rể quỳ hai bên, ông thưa với tổ tiên: “Thưa thân phụ rất đáng kính, hôm nay cháu trai cưới cháu gái Mỗ… này và chính thức nhận làm bạn trăm năm, xin chứng kiến cho các cháu và phù hộ cho các cháu được hạnh phúc, sống lâu hòa hợp, được khang cường, hoan lạc và thịnh vượng, xin cho các cháu sinh con xinh đẹp, khỏe mạnh, ngoan ngoãn và đức hạnh làm cho cha mẹ vui mừng và sung sướng. Để tỏ niềm vui trong dịp cưới xin này, chúng con sửa mâm cỗ xin mời song thân trước hết làm gia chủ chứng kiến cho và xin phù hộ trước hết cho hai cháu tân hôn”. Khấn xong là vào tiệc. Hôn nhân chính thức thành và bền chặt, nhất là về phía người vợ, không bao giờ được bỏ nhà hay bỏ chồng, mặc dù người chồng được giữ quyền bỏ vợ vì một nết xấu vô danh nào đó hoặc vì thay lòng đổi dạ hay chán ghét.

Điều này ít thấy nơi dân nghèo khó, vì nơi kẻ quyền thế, họ thường lấy nhiều vợ, thế nên khá ít người bỏ vợ khi có bất hòa hay vì thay lòng đổi dạ. Thực ra theo luật nước này thì cấm người đàn bà có chồng không được lấy chồng khác.

Khi một trẻ vừa lọt lòng mẹ thì người ta dùng mực hay phẩm hồng vạch hình thập tự trên trán. Lần đầu tiên tôi thấy vẽ trên trán đứa bé, tôi đã hỏi cha mẹ vì cớ nào họ làm như vậy. Họ trả lời là để cho ma quỷ (thù địch của đứa bé) không làm hại trẻ hay gây tai họa cho đứa bé. Tôi gạn hỏi thêm xem họ biết tại sao hình đó có phép trừ tà ma thì họ không thể đáp gì hơn là họ giữ một tục lệ có từ lâu đời mọi người trong nước này đều làm.

Tác giả: Alexandre De Rhodes.

Nguồn: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Nguyễn Khắc Xuyên dịch, NXB Khoa học xã hội.

Theo THANH NIÊN ONLINE

Nhà thơ Thế Lữ gửi gắm gì trong tâm sự con hổ nhớ rừng?

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

 Nhà thơ Thế Lữ viết bài thơ ‘Nhớ rừng’ nói lên tâm sự một con hổ trong vườn bách thú vào năm 1935, mà đến nay vẫn khiến độc giả luận bàn. Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời…

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) nổi tiếng trong cả văn chương lẫn sân khấu. Thế nhưng, nhắc đến nhà thơ Thế Lữ là công chúng nghĩ ngay đến bài thơ “Nhớ rừng”. Nhà thơ Thế Lữ đã gửi gắm điều gì vào “lời con hổ ở vườn bách thú” mà bao nhiêu thập niên trôi qua, vẫn còn dư âm trong lòng nhiều thế hệ?

“Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thâm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cay xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

– Than ôi! Thời oanh liệt này còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vầng lá hiền lành không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nơi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Nhớ rừng” chính là lời con hổ ở vườn bách thú của Thế Lữ. Chính vì có ý ấy, mà mở đầu “Nhớ rừng”, Thế Lữ mới dùng “Lời con hổ ở vườn bách thú” làm đề từ, làm lời dẫn cho bài thơ của mình.

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989)

Đây là bài thơ hay vào bậc nhất của Thế Lữ và là bài mở đầu của một thời đại trong thi ca trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân. Và sau rất nhiều năm, năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục lại chọn “Nhớ rừng” vào Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ 20.

Trong phần giới thiệu về Thế Lữ, Hoài Thanh viết: “Chính tên là Nguyễn Thứ Lễ. Sinh tháng 10 năm Đinh Mùi (1907). Nơi sinh Thế Lữ lấy làm lạ thấy người nói là Thái Hà Ấp Hà Nội, còn thi sĩ thì cứ tưởng là Lạng Sơn, nơi đã ở từ khi còn bé đến năm 11 tuổi. 11 tuổi xuống Hải Phòng. Học đến năm thứ ba ban thành chung thì bỏ để theo sở thích riêng. Sau đó lên Hà Nội học trường mỹ thuật, nhưng lại thôi ngay. Bắt đầu viết từ hồi này. Được ít lâu bị đau lại về Hải Phòng tĩnh dưỡng. Những ý thơ và đôi bài thơ đầu tiên, như bài Lựa tiếng đàn, nẩy ra trong lúc này. Có chân trong Tự lực văn đoàn và trong tòa soạn các báo: Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa. Đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935, Đời nay, Hà Nội, 1941)”.

Cũng trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân đánh giá rất cao Thế Lữ: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ sở này…Bởi không có gì khiến người ta tin thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò của hai nguồn thi cảm. Thế Lữ đã băn khoăn trước hai nẻo đường: Nẻo về quá khứ với mơ mòng, nẻo tới tương lai và thực tế”.

Không ngần ngại, Hoài Thanh đã chọn 6 câu trong nhớ rừng: “Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già/ Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi/ Với khi thét khúc trường ca dữ dội/ Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng/ Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng/ Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc” để viết “không ai còn có quyền bĩu môi trước cuộc cách mệnh về thi ca đương nổi dậy.”

Nhiều năm sau, nhà thơ Vũ Quần Phương đã bình “Nhớ rừng” khá tâm đắc: “Bài thơ mượn lời một con hổ ở vườn bách thú. Đề tài đầy kịch tính. Cảnh ngộ là một thân hèn mọn, bất lực, hồn vía là một chúa sơn lâm. Ông chúa này đã hết thời đạp phá hưng dữ, đòi tự do. Ông đã thấm thía sự bất lực và ý thức được tình thế của mình, cam chịu cảnh gặm nhấm một khối căm hờn, nằm dài trông chờ ngày tháng qua, mặc cho thân thế bị tụt xuông ngang hàng với các loài hèn kém. Nhìn bề ngoài, người ta có thể nói: Con hổ này đã được thuần hóa: “Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Nhưng đấy chỉ là bề ngoài, còn thế giới bên trong của mãnh thú, tội nghiệp thay, vẫn ngùn ngụt lửa. Bút pháp lãng mạn của Thế Lữ có dịp tung hoành, có dịp chứng tỏ sức diễn đạt phong phú của thơ mới khi dựng lại khung cảnh kì vĩ trong mộng tưởng của chúa sơn lâm…”

Đấy là nghĩa đen, nghĩa hẹp. Còn về nghĩa bóng, nghĩa rộng…Nhớ rừng chính là bi kịch của những kẻ có sức mạnh, có chí lớn nhưng bị mất tự do, bị giam hãm trong một không gian nhỏ hẹp, không gian nô lệ. Đó cũng là bi kịch của nhiều người dưới thời Pháp thuộc. Nhưng dường như trong cái không gian nô lệ ấy, chúa sơn lâm vẫn không hoàn toàn chịu khuất phục, chính vì thế mà phần cuối của “Nhớ rừng” mới có mấy câu: “Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn/ Để hồn ta phảng phất được gần ngươi/ Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời. Câu thơ này cũng có giá trị tương tự như câu “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu, câu “Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng” của Phạm Duy nếu áp dụng vào một tình huống cụ thể khác.

Và nếu trong văn xuôi, Nam Cao để lại trong văn học sử một Chí Phèo ăn vạ, Vũ Trọng Phụng để lại một Xuân tóc đỏ cơ hội, luôn biết xuất hiện đúng nơi, đúng lúc…thì Thế Lữ, Xuân Diệu, Phạm Duy, cũng đã làm được những điều tương tự trong thơ.

Nêu thế để thấy: Thơ để nhớ được một câu, một bài, lại mang giá trị lâu dài trong đời sống, không phải là việc đơn giản.

Đi cùng thời gian, tính đến mùa xuân Nhâm Dần 2022, ít nhất “Nhớ rừng” cũng đã có tuổi thọ gần 90 năm rồi.

ĐẶNG HUY GIANG / Văn Nghệ Sagon

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình
TẠI QUẦN ĐẢO NÀY, CÓ RẤT NHIỀU NGÔI NHÀ ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN NHỮNG HÒN ĐẢO BIỆT LẬP ĐỂ LÀM NƠI NGHỈ DƯỠNG LÝ TƯỞNG.

Trên thế giới có rất nhiều hòn đảo được mệnh danh là “thiên đường”. Trong đó, Thousand Islands dù không phải nơi được mệnh danh là “thiên đường” nhưng lại gây thương nhớ bởi khung cảnh thiên nhiên bao phủ tuyệt đẹp.

Nằm giữa vùng biên giới của Mỹ và Canada, quần đảo này bao gồm 1.864 hòn đảo trải dài khoảng 80km, khởi nguồn từ phía Đông Bắc hồ Ontario dọc theo con sông Saint Lawrence.

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 1.

Quần đảo Thousand Islands với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ

Để được coi là một hòn đảo trong Thousand Islands, diện tích nổi trên nước ít nhất phải ở mức 0,1 mét vuông, nổi trên nước quanh năm và có ít nhất một cái cây sống. Trong số hơn một ngàn hòn đảo này, có những nơi rộng cỡ 64 km vuông nhưng cũng có những hòn đảo nhỏ chỉ đủ để xây lên cho một ngôi nhà duy nhất.

Tại quần đảo này, Heart Island được xem là trái tim của ngàn đảo, nơi lưu giữ những câu chuyện tình lãng mạn. Bên cạnh đó, khung cảnh thiên nhiên lãng mạn của quần đảo này vào mùa thu khi lá xanh bắt đầu chuyển vàng, hòa quyện cùng làn nước trong xanh khiến hòn đảo này tựa như chốn thần tiên trong truyện cổ tích.

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 2.

Khung cảnh đẹp đến nao lòng tại Thousand Islands vào mùa thu

Ngoài ra, nơi đây cũng nổi tiếng với cây cầu dài 1,5km nối hai nước Mỹ – Canada bắc ngang qua Thousand Islands. Cây cầu này được xây dựng từ năm 1938, là nơi chứng kiến nhiều biến cố lịch sử thế giới. Khi du khách đứng trên cầu, cũng có thể phóng tầm mắt để thưởng thức phong cảnh toàn thể Thousand Islands mà không hề bị ngăn cản bởi hai chữ “biên giới”.

Nhờ phong cảnh đẹp cùng sự riêng tư tuyệt đối tại đây, nhiều hòn đảo đã được chọn làm nơi sinh sống và nghỉ dưỡng của nhiều người. Ngoài những ngôi nhà đơn, nhà đôi thông thường, có những hòn đảo với diện tích lớn còn được xây dựng tòa lâu đài bên trên với hàng cây bao xung quanh.

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 3.
Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 4.

Những ngôi nhà đơn…

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 5.

và thậm chí là lâu đài được xây dựng trên các hòn đảo riêng biệt.

Được biết, phương tiện đi lại giữa các hòn đảo và đất liền chủ yếu bằng tàu thuyền. Tất nhiên, hầu hết các hòn đảo này đều có điện được cung cấp năng lượng từ cối xay gió và thủy điện. Dịch vụ điện thoại cũng hoàn toàn ổn nhờ đường dây được nối bằng dây cáp dưới xuyên từ hòn đảo này sang hòn đảo khác.

Khoảng 20 hòn đảo trong số những hòn đảo này đã tạo nên Công viên Quốc gia Thousand Islands, công viên quốc gia lâu đời nhất Canada nằm ở phía đông của dãy núi Rocky.

Sự riêng tư mà những hòn đảo này cung cấp là điều mà hầu hết nhiều nơi nghỉ dưỡng trên thế giới không thể có được. Đây cũng được đánh giá là nơi yên bình và lý tưởng nhất để tránh xa phố thị ồn ã và tận hưởng sự an nhiên.

Quần đảo đặc biệt mỗi cư dân đều sở hữu hẳn một hòn đảo cho riêng mình - Ảnh 6.

Với đầy đủ dịch vụ tiện nghi, đây được đánh giá là nơi nghỉ dưỡng vô cùng lý tưởng tại Canada

Nguồn: Buzz Feed /Shoha VN

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong: Một tài năng đoản mệnh

Chỉ với ba bài hát “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”, Đặng Thế Phong đã là nhạc sĩ có một không hai gắn liền tên tuổi bất hủ của mình với mùa thu. Xem thế đủ biết không phải cứ đẻ sòn sòn đã là hay. Vấn đề là ở chỗ ít mà tinh, mà để đời.

Văn đàn Việt Nam những năm 1930-1945 đã phải chứng kiến nhà văn Vũ Trọng Phụng ra đi ở tuổi 27 (1939) vì bệnh lao để lại sự tiếc thương vô hạn cho những người yêu thích văn học nước nhà. Năm 1940, chúng ta mất nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử khi ông mới 28 tuổi vì bệnh phong.

Trong lĩnh vực âm nhạc, một tài năng khác cũng ra đi ở độ tuổi rất trẻ (24) cũng bởi căn bệnh thuộc hàng tứ chứng nan y như Vũ Trọng Phụng. Đó là Đặng Thế Phong.

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong

Cũng như Vũ Trọng Phụng, phải mãi sau này khi làn gió đổi mới đến với đất nước ta thì các nhạc phẩm nổi đình đám một thời của Đặng Thế Phong và các nhạc sĩ tiền chiến khác mới được đánh giá một cách đúng mức trong kho tàng lịch sử âm nhạc Việt Nam mặc dầu từ rất lâu rồi nó đã có chỗ đứng vững chắc trong lòng người hâm mộ.

Cũng giống như Nguyễn Đình Thi, chỉ với hai bài hát cách mạng “Diệt phát xít” và “Người Hà Nội”, ông đã là một nhạc sĩ nổi tiếng bậc cao thủ trong giới nhạc sĩ Việt Nam đương đại.

Đặng Thế Phong cũng vậy. Chỉ với ba bài hát “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”, ông đã là nhạc sĩ có một không hai gắn liền tên tuổi bất hủ của mình với mùa thu. Xem thế đủ biết không phải cứ đẻ sòn sòn đã là hay. Vấn đề là ở chỗ ít mà tinh, mà để đời.

Đặng Thế Phong là vậy đó.

Sinh ra trong một gia đình công chức ở thành Nam nhưng không may mắn. Cha mất sớm buộc Đặng Thế Phong phải sớm tìm con đường mưu sinh: vừa đi học, vừa vẽ thuê kiếm sống.

Mới hơn hai mươi tuổi đầu đã lang thang nơi đất khách quê người tận xứ Nam Vang làm đủ thứ nghề vẽ thuê, dạy nhạc để sống, để học và để sáng tác. Năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc cho phép Đặng Thế Phong có thể vừa ôm đàn, vừa sáng tác, vừa biểu diễn tác phẩm của mình với chất giọng tenor rất đặc biệt.

Theo các bạn bè và bà Đặng Thanh Kim, em út của Đặng Thế Phong thì ông là một thanh niên rất điển trai, hoạt bát, thích ăn diện, ăn nói rất có duyên lại giỏi đàn hát nên được rất nhiều cô gái thành Nam yêu mến. Đặc biệt Đặng Thế Phong có biệt tài sắm các vai nữ, y như thật. Nhiều cô gái mê ông vì thế.

Trong số đó có ba cô lọt vào mắt xanh chàng trai trẻ đa tình. Đó là cô Hà Tiên, học sinh Trường Sarcree coeur Nam Định; cô Nguyễn Thị Na, tức Lê ở khu Ga Hải Phòng; và cô Bạch Yến ở Hàng Bông, Hà Nội.

Trong ba cô thì Bạch Yến xem ra nặng tình hơn cả bởi cô là người chăm sóc và tiễn đưa Đặng Thế Phong đến nơi an nghỉ cuối cùng và buồn thay cuộc đời của cả ba người đều lỡ dở.

Đặng Thế Phong viết “Đêm thu” năm 1940. Ca khúc này ông viết và biểu diễn ở những đêm lửa trại, lời ca được nhiều bạn bè đóng góp chỉnh sửa nên rất trong trẻo hồn nhiên, thể hiện nỗi đam mê của con người trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngay lập tức bài hát được giới trẻ hưởng ứng nhiệt liệt. Song phải đến “Con thuyền không bến” viết vào tháng 9/1941 sau khi nhạc sĩ đi Phnom Penh trở về thì tên tuổi Đặng Thế Phong mới nổi như cồn.

Hôm đó tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ca sĩ Vũ Thị Hiển lần đầu tiên hát ca khúc này đã làm xôn xao dư luận. Sau đó chính tác giả đã trình bày bài hát này tại rạp Olimpia ở phố Hàng Da thì công chúng Hà Nội càng thêm mến mộ một tài năng. Không chỉ bởi chất giọng của người nhạc sĩ kiêm ca sĩ mà bởi chất thơ nhuần nhuyễn trong từng giai điệu và lời ca thẫm đẫm chất thu:

Đêm nay thu sang cùng heo may

Đêm nay sương lam mờ chân mây

Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng

Như nhớ thương ai chùng tơ lòng.

Có một điều rất khó lý giải là tại sao ở cái tuổi mới hơn hai mươi mà Đặng Thế Phong lại nhuần nhuyễn từ ca từ đến làn điệu thấm đẫm chất dân ca đồng bằng Bắc Bộ như vậy.

Lướt theo chiều gió. Một con thuyền theo trăng trong.

Giai điệu này lặp đi lặp lại nhiều lần như một điểm nhấn, nó nghe như một làn điệu dân ca mơ hồ, chầu văn hay chèo nào đó.

Cũng lạ, trong lúc âm nhạc Pháp đang tràn ngập Việt Nam, tâm lý hướng ngoại đang là “mốt” trong giới trí thức, những đĩa hát tango chinoise 78 vòng/phút đầy chất lính kèn lê dương, phong trào tân nhạc chủ yếu là đặt lời cho các bài hát tây thì nhạc phẩm của Đặng Thế Phong lại thấm đẫm tâm hồn Việt…

Năm 1942, Đặng Thế Phong viết “Vạn cổ sầu”, sau Bùi Công Kỳ sửa lời và đặt tên mới là “Giọt mưa thu”. Đây là giai phẩm thứ ba của Đặng Thế Phong và lại có chủ đề là mùa thu:

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi

Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi.

Giọt mưa thu rơi thánh thót. Thật không có hình ảnh nào sống động chính xác hơn. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn ví những khúc ca lộng lẫy đó như là “hoa hậu” của ca từ âm nhạc hiện đại Việt Nam.

“Giọt mưa thu” là một nhạc phẩm song cũng là một mảng tâm hồn của con người. Nó như một lời ru kỳ diệu đưa hồn người hòa đồng vào các cung bậc cảm xúc đầy sắc màu của thiên nhiên, nó như giãi bày hộ nỗi buồn nhân thế đang mong được giải tỏa.

Một tiếng tơ lòng cất lên mỏng manh như tâm hồn người nghệ sĩ.

Đã bao năm rồi, đã có biết bao thế hệ người Việt Nam cất tiếng hát:

Ai nức nở thương đời

Châu buông mau, dương thế bao la sầu.

Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ chia xa, mỗi năm được gặp nhau một lần ngắn ngủi, nước mắt của tình yêu và nỗi nhớ giội từ trên trời cao xuống hiu hắt lắng đọng từ cõi vô biên, phải chăng đó là chất xúc tác để chàng nghệ sĩ họ Đặng cảm xúc cất lên những âm thanh siêu ảo vượt lên nỗi buồn thế tục, phải chăng giọt mưa thu chính là thiên sứ của tình yêu đã được nhân cách hóa một cách tài tình.

Hãy thử tưởng tượng trong một ngày mưa thu rơi thánh thót ngoài hiên, tiếng vĩ cầm cất lên réo rắt những giai điệu như nức nở của giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, người ta có cảm nhận như đâu đây tiếng lòng thổn thúc của thơ Verlain, hay tiếng nhạc buồn của Chopin, hay những cánh lá vàng trong bức tranh “Mùa thu vàng” của Levitan. Thiên nhiên và lòng người hòa quyện một cách tài tình trong bàn tay sáng tạo của người nghệ sĩ.

Chỉ với ba nhạc phẩm thôi, Đặng Thế Phong đã là một hiện tượng trong lịch sử nền âm nhạc Việt Nam. Từ “Đêm thu” với những kỷ niệm tươi trẻ hồi thơ bé cùng Tết Trung thu:

Qua lá cành ánh trăng lan dịu dàng

Ru hồn bao nhớ nhung.

đến “Con thuyền không bến” mộng mơ:

Ánh trăng mờ chiếu.

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la thuyền mơ bến nơi đâu?

đã là một bước chuyển rất lớn trong tâm hồn người nghệ sĩ.

Đến “Giọt mưa thu”: Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ.

Có thể thấy Đặng Thế Phong đã hóa thân vào tiếng thu lòng thổn thức một cách tài tình như thế nào.

Trong số những người bạn học thân của Đặng Thế Phong hồi thiếu thời ở Nam Định có Vũ Đức Oong. Ông này sau tham gia cách mạng bị Pháp bắt giam ở nhà ngục Sơn La. Từ trong tù, nghe tin bạn bị lao mà chết, năm 1943, ông cảm thán viết bài thơ “Nhớ Thế Phong”, trong đó có đoạn:

Đã mấy thu rồi xa cách lắm

Mấy lần thu tới mấy thu đi

Bạn ơi! Có biết thu này khác

Trăng úa bên rừng khóc biệt ly!

Cũng lại ý tứ mùa thu. Phải chăng hai người bạn nối khố này rất đồng cảm với nhau. Năm 1945 ra tù tham gia cướp chính quyền ở Nam Định, ông Oong đã đến ngay gia đình Đặng Thế Phong và còn giữ nhiều tấm ảnh quý về gia đình họ Đặng này. Ông nói: “Nếu tôi không bị đi tù thì tôi không để cho Phong đi Campuchia và ốm đau bệnh tật như thế!”.

Thoắt đấy mà đã chín chục năm ngày sinh của một nhạc sĩ tài hoa nhưng đoản mệnh. Hôm qua chúng ta đã hát những ca khúc buồn của ông, hôm nay chúng ta tiếp tục hát những ca khúc của ông nhưng với một tâm thế khác. Ngày mai cũng vậy. Bởi lẽ đó là những ca khúc bất hủ của một tài năng đích thực

AN THANH LƯƠNG / Văn học Saigon