HÀNH TRÌNH SƯ MINH TUỆ NGÀY 31-5

Alex Alpha

Sáng nay thì đoàn sư Minh Tuệ đã ngồi thọ thực tại nơi nghỉ tối qua, bà con đã chuẩn bị đồ cúng dường cho các sư.

Sáng nay thì có một lúc các thầy bị fan lao vào như trong showbiz.

Khá nhiều người muốn đổi nồi cơm điện lấy may với sư Minh Tuệ.

Truyền thông giật tít đã có các sư bỏ về sau cái chết của sư Minh Thiện, và đưa hình sư mặc áo sọc xanh trắng giống tuyển Achentina làm ví dụ. Nhưng đây là thông tin sai, vì sư này bỏ đoàn từ sáng sớm hôm qua khi sư Minh Thiện còn chưa bị đột quỵ cơ. Sư này đi 10 ngày trải nghiệm, và quyết định về quê và tiến hành tu linh hoạt tại gia. Trong lòng luôn hướng về Phật pháp, nhưng vạn sự xin tùy duyên.

Còn khoảng 18 km nữa đến đất Huế, thì khả năng rất cao hôm nay là ngày cuối cùng ở đất Quảng Trị. Đây đúng là một mảnh đất thép với nhiều kỷ niệm không thể nào quên của đoàn.

Hôm nay, sau sự cố hôm qua thì số lượng sư trong đoàn không vì thế mà giảm đi. Hiện số lượng đã là 58 sư, mặc dù hôm qua có một vài sư bỏ về. Có sư Minh Từ nhỏ nhất mới 21 tuổi, được bà ngoại đưa đến, cũng đã có chút chuẩn bị về chế độ sinh hoạt, vận động, ăn uống. Các anh em Youtuber vẫn đóng vai trò Đền Trình rất hiệu quả.

Hôm nay thì đoàn không nói về sự việc sư Minh Thiện mất hôm qua. Có hỏi cũng chỉ bảo là mọi người đều đã biết rồi.

Các sư có kinh nghiệm dẫn đầu đoàn, khá vui vẻ thoải mái. Các sư mới nhập đoàn thì đi ở giữa. Các sư gần với sư Minh Tuệ hơn thì đi gần hơn. Sư Vô Sanh cũng đã có mặt. Sư Song Ngư Minh Hiếu thì chưa thấy.

Sư Kim Cang hôm nay đã tịnh khẩu. Hỏi gì cũng chỉ A Di Đà Phật. Bởi vì sư cảm nhận được bài viết của tôi chăng. Dù có nói gì cũng chỉ là vô minh mà thôi.

Trưa nay thì các thầy được chuẩn bị chỗ nghỉ trong một nghĩa trang gần QL1A xã Hải Lăng. Có dựng bạt che nắng mưa, nhưng có chỗ bất tiện so với cây xăng là không có chỗ vệ sinh.

VÔ MINH

Vô Minh đơn giản là không biết sự thật. Vậy biết sự thật là gì. Là giác ngộ. Người biết sự thật là gì. Chính là Phật. Trong Đạo Phật có nhiều kinh điển, nhưng đơn giản là chỉ cần nhìn thấy chính mình là thành Phật. Một cái máy ảnh không thể tự chụp chính nó, kể cả có soi hàng vạn cái gương. Chúng ta không thể nhìn thấy gáy của chính mình. Khi nào chúng ta tự nhìn thấy mình thì chúng ta thành Phật.

Vậy làm thế nào để nhìn thấy chính mình, có 84000 Pháp môn đang chờ bạn.
Vô Minh trong cuộc sống có nhiều biểu hiện. Ví dụ một cậu trai tán một con bé tham tiền bằng những lời khen ngợi rồi hứa hẹn hạnh phúc, tất cả đều vô nghĩa, chỉ cần 1 cái iPhone 13 là xong. Vậy vì sao cậu trai không biết điều đó, vì Vô Minh đã che mờ đôi mắt. Mà đôi khi chính con bé kia cũng không biết nó là đứa tham tiền, mà chính nó cũng lừa dối bản thân nó là nó thích trí tuệ cơ thích giải thoát cơ, nhưng bản chất là tham tiền. Nó cũng Vô Minh, mà cậu trai cũng Vô Minh. Chúng ta cũng vậy, chúng ta luôn là cậu trai kia và cô gái ở những phiên bản khác mà thôi.

Rồi Tần Thủy Hoàng đi tìm sự bất tử, cũng là dạng Vô Minh.

Rồi tất cả những bộ phim về vũ trụ Marvel rồi vũ trụ Disney rồi vũ trụ Kim Dung rồi vũ trụ Tây Du Ký, có các siêu anh hùng, nhưng chung quy cũng là ân oán tình thù. Anh đấm tôi một đấm, tôi đá lại anh một đá. Người bình thường đấm nhẹ và chậm hơn, còn kẻ có thần thông thì đấm dữ dội hơn. Thủy Hử là nói về 108 vị có thần thông. Kim Dung cũng viết về những vị có thần thông. Điện thoại di động của chúng ta cũng là thần thông. Thần thông tạo ra sự kỳ diệu và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, nhưng thần thông lại không giải quyết tận cùng gốc rễ của vấn đề.

Thần thông là một siêu xe, đi về đâu lại do trí tuệ. Cho nên đạo Phật không cổ vũ thần thông, mà đạo Phật xiển dương trí tuệ.

Vô Minh là không có trí tuệ, có trí tuệ là không Vô Minh.

Thấy người say nắng đột quỵ mới rời bỏ tăng đoàn chính là Vô Minh.

Thấy ông sư ôm bát đi hành khất bảo là ông này đang làm việc vô nghĩa, cũng là Vô Minh.

Nói chung Vô Minh là cái nhìn sai về một sự thật khách quan. Cho nên cõi Ta Bà của chúng ta chính là cõi Vô Minh, chứ chẳng đâu xa.

CÁI CHẾT

Nhưng nãy giờ nói về Vô Minh để làm gì.

Bởi vì nó liên quan đến cái chết.

Vì sao chúng ta lại chết.

Khi phóng viên hỏi người Nhật, là vì sao các ông học Nho giáo của Trung Quốc mà sau này các ông lại phát triển sớm và nhanh hơn Trung Quốc, có phải do các ông bỏ đông theo tây không ? Thì họ trả lời: thực ra chúng tôi không thể nào học hết tinh hoa của Trung Quốc, nhưng tinh hoa của Trung Quốc đa phần về nói về cái sống. Chúng tôi học về cái sống vừa đủ, nhưng về cái chết chúng tôi lại hiểu hơn người Trung Quốc. Người Trung Quốc rất giỏi nói về cuộc sống, nhưng họ sợ chết hơn chúng tôi, nên thậm chí họ không thể hiểu trọn vẹn điều họ rao giảng bằng chúng tôi. Chúng tôi là những người dám thực hành cái chết.

Vì sao chúng ta được sinh ra.

Trong kinh Phật chia ra làm hai loại. Các vị Phật sinh ra, hay còn gọi là tái sinh, hoặc chuyển sinh làm kiếp người, là do nguyện, tức là các vị ấy muốn thế, muốn sinh ra để phổ độ chúng sinh chứ không phải bị sinh ra. Còn phàm phu chúng ta bị sinh ra do Vô Minh, hay còn gọi là sinh ra do nghiệp.

Tóm lại sinh ra có 2 loại, nguyện và nghiệp.

Thế nào là tái sinh do nghiệp.

LUÂN HỒI SINH TỬ DO THAM ĐẮM

Ví dụ dễ hiểu nhất là lúc sắp chết nhớ tới bát phở, thế là chuyển sinh vào gia đình bán phở. Ăn phở thỏa thích.

Đến năm 20 tuổi, đi Châu Âu chơi, được ăn bánh pizza, thấy ngon quá. Sau này lúc chết lại nhớ tới mùi pizza nên lại chuyển sinh vào gia đình làm bánh pizza.
Đến năm 18 tuổi, đang ăn pizza thấy một cô gái đi ngang qua khung cửa, thấy quá thích liền phi qua cửa sổ đến với cô ấy. Thì ối dồi ôi, cô ấy đã có chồng rồi.
Sau này, lúc chết lại nhớ về cô ấy, bộ vi xử lý vũ trụ mới lập trình xoạch xoạch tìm một điều kiện tối ưu nhất để được gần bên cô ấy. Kết quả đưa ra, để gần cô ấy, bạn chỉ có thể làm một con chó để bầu bạn có được không, chứ tất cả các nhân vật xung quanh cô ấy đã đều có rồi.

Thế là ok, làm con chó bên người đẹp. Một ngày, người đẹp lấy chồng. Chồng người đẹp thế nào lại ghét con chó, sút một phát, con chó dính lên tường, từ từ rơi xuống để lại trên tường một vệt máu dài.

Con chó khi chết nhớ về thằng cha kia, lạ rình tái sinh để trả thù. Rồi tái sinh được, trả thù xong, lại dính vào oán thù mới, cứ oan oan tương báo trải vô lượng kiếp sống, gọi là luân hồi.

Kiểu xin tí cơm ăn nốt tí canh, lại xin tí canh ăn nốt tí cơm.

Thì có những vị thức tỉnh, một ngày họ nhận ra mãi rơi vào những tuần hoàn vô nghĩa, họ bảo thôi chơi game này chán quá, không muốn tái sinh nữa. Nhưng muốn không bị tái sinh, thì phải rũ sạch nghiệp lực, hay còn gọi là tu hành để chuyển nghiệp. Nghiệp cứ bong ra đến đâu, thì ngọn đèn trí tuệ sáng đến đó, rồi một ngày thành Phật.

Chuyện có thế thôi.

CÁI GÌ ĐI TÁI SINH

Có hai quan điểm về linh hồn. Một là có linh hồn vĩnh cửu gọi là thường kiến, linh hồn này thoát khỏi thể xác và bay khắp nơi đánh nhau như Tây Du Ký. Hai là không có linh hồn vĩnh cửu gọi là đoạn kiến, chết là hết, đây là quan điểm của nhóm YOLO, sống chỉ một lần bạn ơi, hãy làm gì mình thích, đi phượt thôi. Cả hai quan điểm trên đều bị Phật giáo bác bỏ.

Sau đó là tranh cãi về thời gian tái sinh, tái sinh lập tức sau khi chết (theo Phật giáo nguyên thủy), hay phải sau 49 ngày (theo Trung Quốc), thì quan điểm hiện đại mềm dẻo đứng ở giữa cho là tùy. Thân Trung Ấm (giai đoạn chuyển tiếp, thân trong giai đoạn bị che mờ) có thể là 49 ngày, có thể ít hơn, và có thể dài hơn, tùy từng trường hợp.

Vậy không có linh hồn thì cái gì đi tái sinh. Thì cái đi tái sinh trong Đạo Phật chính là Thức.

Nôm na là giữa tiền kiếp và hậu kiếp có một tấm màn che bằng nilon. Trong suốt, mềm mại, nhưng không xuyên thấu nên không có vật chất hay ánh sáng hay bất cứ cái gì lọt qua khỏi tấm màn này. Có nghĩa là giữa hai kiếp sống không có sự trao đổi về vật chất. Không có vật chất hay ánh sáng nào từ kiếp này xuyên màn qua được kiếp bên kia cả. Chỉ có một thứ xuyên qua được, đó chính là thông tin. Còn thể xác hay còn gọi là tấm thân tứ đại thì tan rã, cát bụi trở về với cát bụi.

Không có một linh hồn nào đi xuyên qua tấm màn đó để nhập vào một thể xác mới và sống một kiếp sống mới cả.

Khi chết, người đó đã ấn tay vào tấm màn đó, do tấm màn kín nhưng mỏng đã tạo thành khuôn. Từ cái khuôn đó mà vật chất lại tạo ra một bàn tay mới giống y cái bàn tay cũ. Bàn tay chỉ là ví dụ. Nôm na có thể hiểu là phóng chiếu là tạo ra cả một con người mới.

Cái khuôn đó chính là nghiệp, thông số kỹ thuật của khuôn chính là thức gọi là Thức Tục Sanh. Bàn tay mới chính là sinh thể trong một kiếp sống mới. Thức này đi vào bụng mẹ, cùng với tinh cha huyết mẹ tạo thành con người mới.

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Vì sao có vụ ấn bàn tay vào tấm màn này, thì đó là vì Vô Minh. Trong Kinh Tương Ưng, Đức Phật nói về thập nhị nhân duyên, Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão Tử sầu bi khổ ưu não. Duyên là dẫn duyên, là dắt dây, là gọi về, cũng là gây ra. Vì có vô minh nên tạo nghiệp, và nghiệp dẫn thức đi tái sinh. Sinh rồi Tử, rồi lại Vô Minh, rồi lại Sinh, lại Tử, cứ thế mãi mãi luân hồi.

Để thoát luân hồi thì phải thoát khỏi vòng xoáy này, hay nói cách khác là phá vỡ sự liên hoàn của vòng 12 nhân duyên này thì không còn bị tái sinh nữa. Vòng luân hồi đó có điểm dễ phá, có điểm khó phá. Thường phá ở Vô Minh. Chứ sinh ra thì phải tử, muốn phá ở chỗ tử như là muốn sinh lại không tử thì quá khó.

Hành là hành động tạo tác, nhưng lưu ý là hành động tạo tác trong Vô Minh, vì Hành do Vô Minh dẫn duyên. Còn hành động trong trí tuệ thì lại không phải Hành này, cho nên mới nói vì sao Đức Phật sau khi thành Đạo cũng ăn uống ngủ nghỉ lại không tạo Nghiệp. Vì Đức Phật đâu còn Vô Minh mà có Hành này để tạo Nghiệp. Chỗ này nhiều vị tu học lâu năm vẫn rối tinh rối mù.

Cho nên sẽ có hành thiện trong vô minh và hành thiện trí tuệ. Chính hành thiện có trí tuệ mới đem lại giải thoát, còn hành thiện mà vô minh thì vẫn cứ khổ đau chồng chất khổ đau mà thôi.

Có nghĩa là các vị A La Hán, Bồ Tát, và Phật không bao giờ ấn tay như vậy. Chỉ có chúng sinh mới làm kiểu vậy. Vì các vị đã phá bỏ Vô Minh, nên không tạo Nghiệp, và cũng không dẫn Thức đi tái sinh.

Như kiểu người trưởng thành không bao giờ họ cầm phóng lợn có chuôi dài và phóng xe máy trên phố ban đêm rồi la hét cả, chỉ có trẻ trâu mới làm vậy. Sau này trẻ trâu ngộ ra thì lại sám hối, rồi viết sách chia sẻ kinh nghiệm: các bạn ơi đừng thế nha, làm thế là xấu lắm. Cả một chuỗi dài gây lỗi rồi sửa lỗi rồi rút kinh nghiệm đó được chấm dứt ngay từ lúc chưa xảy ra, vì có trí tuệ.

Cái bàn tay đó chính là cú vươn ra vơ lấy bát phở ở kiếp trước, chính là cú vươn ra vì gái đẹp, chính là cú vươn ra để trả thù đã là nguyên nhân chúng ta tái sinh.

Nhưng không phải ai cũng vì bát phở, ai cũng vì gái đẹp, ai cũng vì oán thù, mà có người tái sinh để tu tập, để được học kinh điển, để cứu dân độ thế. Nói chung có rất nhiều kiểu nguyện và nghiệp tạo ra vũ trụ vô cùng phong phú. Kiểu tái sinh để tu học tuy là có tiến bộ hơn tái sinh vì bát phở, nhưng cũng là đang tìm ngón tay mà thôi, chứ chưa thấy mặt trăng.

Nên mới có thuyết cho rằng vị đi thứ hai sau tổ Minh Đăng Quang tái sinh thành sư Minh Tuệ, để đi tiếp hành trình còn dang dở, cứ vậy, cứ vậy, đến khi đắc đạo thành Phật.

Nhưng để lúc qua đời, Nghiệp không còn dẫn Thức đi tái sinh nữa, thì trong quá trình sống phải tu tập, giữ giới, xây dựng đạo hạnh, đó là lý do vì sao phải tu hành. Chứ có thuốc gì uống một cái mà hiệu quả thì thôi tu làm gì. Tiếc là cái cảnh giới đó, vật chất không nhập được, buộc phải tu tâm mà thôi.

Có người thì lấy ví dụ thắp nến, bắn bi-a để diễn tả về tái sinh. Viên bi cũ va vào viên bi mới và dừng lại nhưng viên bi mới vẫn bay đi phụ thuộc hướng và lực của viên bi cũ.

THỨC THÌ VẪN LÀ VÔ MINH MÀ THÔI

Thức cũng là do Hành mà có. Có nghĩa là cái Thức ấy do thân khẩu ý của chúng ta mà có, chứ Thức đó không phải chân lý. Mọi kiến thức hay nhận thức của chúng ta đều do Hành mà có. Nghĩa là học hỏi, suy ngẫm, nghiên cứu, xem TV, đều tạo ra cái Thức này. Và Thức này thì vẫn trong vòng Vô Minh mà thôi.

Đây là chỗ đạo Phật bắt nạt khoa học tí. Vì bên khoa học có làm gì để ra kiến thức thì vẫn là từ Hành, mà Hành là do Vô Minh mà có.

Có nghĩa là cả bài viết này tôi viết cho các bạn đọc thì cũng chỉ là cái Thức của tôi mà thôi. Mà cái Thức này do tôi học tập, suy nghĩ, rút kinh nghiệm thì cũng là vô minh mà ra. Các bạn không thể cho là chân lý.

Tôi ở đây cũng có thể là bất cứ vị thánh tăng nào hay bất cứ nhà khoa học nào, OK.

Người biết thì không nói, người nói lại không biết.

Không phải vì không nói, mà nói là Hành rồi. Hành là Vô Minh mà ra thôi.

SƯ MINH THIỆN QUA ĐỜI SAU 3 NGÀY BỘ HÀNH

Dẫn đến việc qua đời của sư Minh Thiện ngày hôm qua, đối với người tu đó là một sự giải thoát. Đối với con mắt thế tục, đơn giản là cái chết, là sự tiếc nuối.
Còn trên thực tế, thì sư Minh Thiện mới ở Mỹ về 4 ngày đã đi với đoàn 3 ngày. Đêm dài Quảng Trị lại bị đuổi, sư Minh Thiện đi sau với sư Minh Tạng thì không phải chờ chỗ nghỉ như sư Minh Tuệ, nhưng vẫn phải chịu quãng đường xa hơn đến 3 giờ sáng mới được nghỉ.

Rất nhiều thứ cộng dồn đã tạo thành một combo chấm dứt sinh mệnh của sư Minh Thiện. Chắc chắn rằng, thần thức của sư sẽ lại đi tìm một miền trú xứ phù hợp với tâm nguyện tu hành của sư mà thôi. Và chưa biết sư có đắc đạo ngay không, nhưng một góc nhìn nào đó đây cũng là một sự giải thoát. Sự giải thoát trên đường hành đạo thì lại càng là một sự tuyệt vời.

Còn mấy ông ôm nồi cơm điện định nhập đoàn hôm qua, nghe tin vậy thì sáng nay té luôn, lấy cớ là đoàn đông lắm nên chưa gặp được sư Minh Tuệ để xin nhập đoàn. Quay đầu cũng là cái tốt, mà ở lại cũng là cái hay. Cứ tận tâm tận lực làm điều mình thích là vui rồi.

Sư Minh Thiện đi được 3 ngày thì mất, trong khi các sư khác đã đi cả tháng, hoặc hàng chục ngày, thì cũng không thể nói là do sự vất vả của hành trình.
Khi sư Minh Thiện nhập đoàn, tôi lại không review, nhưng sau đó có lúc nhìn thoáng qua tôi mới giật mình vì thấy nét khổ hạnh bi thương ở trên hai má và trũng mắt của sư. Cũng không quá bất ngờ về sự ra đi của sư chỉ là không ngờ đến sớm như vậy.

Vị sư có râu pháp danh Lâm Tuyền hôm qua bị nhầm là qua đời. Thực ra đúng là cộng đồng mạng có nhầm thông tin, nhưng không bỗng dưng nhầm. Về sắc tướng thì đúng là sư Lâm Tuyền cũng nên cẩn thận bảo vệ sức khỏe của mình trong những ngày tới.

Hai ngày vừa rồi, sư Minh Tuệ cũng khoác y màu đen. Khả năng đây là màu không hợp phong thủy với sư. Tuy sư không tin bói toán, nhưng chắc vụ này sư nghe con sư ạ.

Còn đa phần các vị sư khác tuy đau chân nọ kia, nhưng trông mặt khí sắc vẫn đầy chắc và kín, không bị vỡ bị hở và tản mác như hai vị sư vừa nói trên.

Tôi cũng không bàn quá sâu về phản ứng của xã hội và những người chống đối sư Minh Tuệ, tuy nhiên đây là cơ hội để họ dấy lên làn sóng đổ thừa cho sư Minh Tuệ. Một số người bi quan đã quay xe và cho rằng sư Minh Tuệ sẽ sớm phải ẩn tu.

Nhưng tôi thì cho rằng sự việc sẽ không kết thúc đơn giản như vậy. Người tham gia sẽ có dè chừng hơn, nhưng hiện tượng sư Minh Tuệ còn tiếp diễn.
Các sư vẫn đang Hành Pháp, Hành này trong Vô Minh hay trí tuệ là tùy tâm các sư. Còn Hành của người ăn mày bình thường thì chuẩn Hành Vô minh, cho nên hành khất bình thường không thành Phật là vậy.

Trâu bò ăn chay không thành Phật cũng là do Hành trong Vô Minh. Cho nên mới có combo ăn chay niệm Phật. Ăn chay rồi nhưng phải có nội hàm là niệm Phật thì mới đắc chánh quả. Còn cứ ăn chay mà vẫn Hành nghiệp trong Vô Minh thì chịu.

Cho nên các thầy cứ hay nói là bước chân Chánh niệm, rồi ăn trong Chánh niệm. Cái chữ Chánh chính là quản sự Vô Minh này.

Cái Hành (thân khẩu ý) của chúng ta bình thường là theo bản năng. Khi tu thì bản năng đó được sửa dần bằng trí tuệ. Bát chánh đạo là sửa cái Hành này. Có Chánh thì mất Hành, mặc dù không có cái gì gọi là Chánh Hành.

TỔNG KẾT NGÀY

Đang update

#thichminhtue #daudaminhtue #suminhtue

TU SĨ MINH TUỆ… GIỌT NƯỚC TRÀN LY


Trần Kiêm Đoàn.


Phật Đản mở đầu cho mùa An Cư Kiết Hạ năm nay (Phật Lịch 2568 – Tây Lịch 2024), đạo Phật Việt Nam trong cũng như ngoài nước có hiện tượng xao động bất thường với sự xuất hiện của “Sư Thích Minh Tuệ”.

Hành giả Thích Minh Tuệ

Nếu gọi một cách thân thiện và gần gũi với hệ thống giáo lý Phật môn thì người xuất gia, bất kỳ tuổi nào chưa thọ Đại giới (Cụ Túc giới) để thành Tỳ kheo, Khất sĩ thì ở hàng Sa Di và được gọi với danh vị là “Chú”; nhưng ở đây xin gọi danh vị công bằng cho một người tin và tu theo con đường Phật lý là “Tu sĩ Minh Tuệ – Ts MT”. Đây là một nhân vật chỉ nhận mình là người tín tu theo đạo Phật theo chí hướng và hạnh nguyện riêng của mình, không theo môn phái, chùa viện hay đạo tràng, tăng đoàn, giáo hội nào cả. Tuy nhiên, qua hành trạng tương tự với hình ảnh các nhà tu truyền thống, cổ điển nên dư luận và định kiến của đại chúng đã rầm rộ khoác lên TsMT những nhãn hiệu đã có sẵn từ truyền thống và định kiến như Hạnh Đầu Đà, Du Phương Tăng… Xin dành khuynh hướng “chính danh” cho đại chúng và thời gian.

Đạo Phật là một tôn giáo hay hiện thực hơn nữa là một hệ thống giáo dục, triết lý, giới luật “siêu tôn giáo” giúp con người giải khổ tìm vui. Để tiến tới tâm thế an lạc hé cửa vào cho khả năng giác ngộ và giải thoát sau cùng, mọi động thái hỗ trợ cho mục đích cứu khổ đều là pháp môn phương tiện. Đạo Phật thường nói đến tám vạn bốn ngàn – mà thật ra là vô lượng – pháp môn như Đức Phật đã truyền ngôn từ giây phút đầu hiện thế ở vườn Lâm Tỳ Ni rằng, mỗi người là một cá thể duy nhất tự cầm ngọn đuốc chân tâm, bản lai của chính mình mà lên đường tìm phương giải thoát.

Do vậy, đạo Phật là con đường độc lập tự do đích thực từ bản chất uyên nguyên đến 2568 năm sau như hôm nay. Thế nên, những sự rao giảng, ban phát, chấp trước để giới hạn tinh thần tự quyết, tự do, tự mình thắp đuốc lên mà đi của bất cứ đối tượng hay thế lực nào đều là phi Phật pháp.

Tu sĩ Minh Tuệ (TsMT) là ai?

Hoàn cảnh xuất thân của TsMT xuất hiện quá nhiều trên các trang mạng xã hội. Từ những ý tưởng cường điệu, đại ngôn ví von TsMT với hình ảnh của Phật, của Chúa đến những phản biện phủ nhận tính chính danh và thiện lành trong sáng của TsMT xuất hiện ồ ạt theo cảm tính nóng bỏng tức thời như một phản ứng có điều kiện của khối đại chúng đang bị dồn nén, bức xúc giữa hai bờ đạo và đời, thánh và phàm, tịnh và động, tự tại và bon chen, tu và tục, thanh quy và phóng dật… của hàng tu sĩ trong các tôn giáo thời hiện đại. TsMT, vô hình chung, trở thành một “nguyên cớ”, chứ không phải là nguyên nhân, của tâm lý phản kháng đại chúng trước những biểu hiện tiêu cực cũng như tệ nạn tôn giáo đang trên đà tăng tốc!

Phóng viên Tiền Lê báo Tiền Phong đã trực tiếp gặp ông Lê Xuân, 84 tuổi, thân phụ của TsMT và đã tường thuật trên số phát hành ngày Chủ Nhật (19/05/2024, 19:16:09 GMT+7) với nội dung xin được tóm lược những nét chính như sau:

Cách thành phố Pleiku (Gia Lai) chừng 40 cây số, ông Lê Xuân, 84 tuổi, thân sinh ra TsMT cùng vợ sống trong căn nhà hai tầng khang trang ở một xã của huyện Ia Grai (Gia Lai). Dù lớn tuổi nhưng ông Xuân vẫn rất khoẻ mạnh, minh mẫn.

Ông Xuân kể, cách đây hơn 30 năm, ông cùng gia đình từ huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vào huyện Ia Grai (Gia Lai) lập nghiệp. Ông Xuân cùng vợ có 3 người con trai và 1 người con gái. Trong đó anh Lê Anh Tú (TsMT) là người con thứ hai, hiện đã 43 tuổi.

Ông Xuân chia sẻ, ngay từ nhỏ, Tú là người con trai hiền lành, hiếu thảo, học lực khá nên được mọi người quý mến. Học xong phổ thông, theo nghiệp bố, anh Tú đi bộ đội chừng 3 năm, sau đó theo học Trường Trung cấp Lâm nghiệp Tây Nguyên (Gia Lai).

Ra trường, anh Tú làm đo đạc cho một công ty tư nhân ở Đắk Lắk. Thời điểm này anh Tú đọc những sách về Phật nên đã ăn chay, tu tại gia. Gia đình hồi ấy cũng khá lo lắng vì không thấy anh có bạn gái, tâm tư cũng không muốn lập gia đình.

“Gần 10 năm về trước Tú có đọc sách về Phật pháp nên phát nguyện đi tu. Lúc ấy tôi nói đi tu rất khó khăn nhưng đã quyết thì phải tu trọn vẹn, không được phá giới, phải chân cứng đá mềm, không tham lam sân si. Lúc đi Tú để lại cho tôi một cái đồng hồ, điện thoại, tủ lạnh, 8 mét vải màu vàng.”

“Từ nhỏ Tú đã có lòng từ bi với mọi người, không bao giờ muốn làm ai buồn lòng. Ai em nó cũng xem là cha mẹ, phải học hỏi.”

Trong các lần trả lời trực tiếp với đại chúng các “phóng viên đường phố”, TsMT đã xuất hiện trên các trang mạng với hình tướng và ngôn ngữ ái hòa, chơn chất qua lời chia sẻ trước sau như một rằng: Mình tự tìm hiểu đạo Phật qua kinh sách như Nikaya và nuôi chí tu theo Phật từ lâu nhưng mãi đến vào chặng đời 34 tuổi mới xuất gia. Tuy đầu tiên cũng có vào chùa (với Tu sĩ Phật giáo Thích Chân Quang ?) nhưng chỉ sau năm bảy tháng, thấy không hợp với môi trường tu học nên rời chùa ra đi và chỉ tin hành theo Phật. Vì nhận thấy hạnh tu một mình, tự chế tối đa, du phương khất thực… thích hợp với mình nên quyết chí tu hành theo hướng “du sĩ khổ hạnh”. Từ đó “nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du – một bát cơm nghìn nhà, một mình đi vạn dặm” sống bằng thực phẩm hành và khất mỗi ngày một bữa từ mọi người mọi nhà không phân biệt trên đường thiên lý độc hành. Và, TsMT cũng chỉ vào y phục của mình để tự xác định rằng, đó là màu sắc “Cái Bang”, chắp vá từ những mảnh vải phế bỏ, không chạm đến màu vàng của thế giới tu hành Phật giáo thời hiện đại hay của bất cứ phương phái nào để giữ hướng tu hành tự nguyện của riêng mình.

Kết hợp lời thuật của ông Lê Xuân và lời xác quyết về khuynh hướng xuất gia theo đạo Phật của TsMT, cả hai đều có sự nhất quán về hoàn cảnh, bản chất và hành trạng từ khi sinh ra cho đến thời xuất gia trong non 10 năm qua. Sự nhất quán đó xác định đôi nét tiêu biểu gồm cả hai mặt đời và đạo trong một con người của TsMT rằng:

Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn ở chốn đất nghèo miền Trung (Hà Tĩnh), TsMT là một người con bình thường, hiền hòa và nhân hậu (lo học, hiền lành, hiếu thảo và thương người); là một công dân tốt (học ra trường, đi bộ đội theo nghĩa vụ, có công ăn việc làm ổn định). Với ý hướng tìm hiểu đạo Phật từ thuở thiếu thời, càng lớn lên càng có tâm nguyện xuất gia tu Phật và tới độ tuổi 30+ chín chắn, TsMT đã xuất ly gia đình tu theo đạo Phật.

Trong dòng sinh mệnh và truyền thừa của đạo Phật, khi nói đến Tăng đoàn và những bậc tôn túc, thường nói đến các bậc hữu học và các bậc vô học. Bậc hữu học là những vị được “sư phụ” bổn sư truyền dạy thông qua quá trình học tập và giáo dưỡng bình thường. Các bậc vô học cao hơn một bậc là “vô sư tự ngộ” với sở học và sở chứng tự mình tìm hiểu, học hỏi, chiêm nghiệm, quán niệm, thực chứng mà hiểu đạo và hành đạo. Đạt Ma Tổ sư suốt 9 năm ngồi im lặng tọa thiền nhìn vách tường chùa Thiếu Lâm với thần khí sáng ngời (cửu niên diện bích). Lục tổ Huệ Năng không hề biết chữ nhưng thần trí quán thế vì chữ chỉ là ký hiệu giới hạn không đủ làm phương tiện truyền tâm. Đức Phật là bậc Giác ngộ tự tu, tự chứng tới đỉnh Thiên Nhân sư là những biểu tượng đường tu tự độ như thế.

Tính phương tiện trong đạo Phật quả nhiên là một vũ trụ diệu kỳ nên những người học Phật, theo Phật và hành đạo Phật trong 26 thế kỷ qua không ai giống ai trên hành tinh này nhưng điểm đích sau cùng không sai khác: Đấy là con đường tìm cầu an lạc và giác ngộ, là Nẻo Đạo của riêng mình. TsMT có phương tiện thiện xảo riêng trên con đường đã chọn. Trong những nghìn năm qua, khắp cái thế giới Ta Bà hưng vong chìm nổi nầy, đạo Phật đã trở thành một thực thể… trùng lai, bởi đạo Phật đến với con người vừa là vấn nạn, vừa là đáp án. Vấn nạn của Khổ (Dukkha) và cứu khổ. Cứu khổ thì có vô lượng pháp môn làm phương tiện. Vạn pháp bình đẳng. Mỗi sinh linh đều tùy theo căn cơ và ngã tướng, ngã sở để tìm cầu con đường cứu khổ cho mình, không có ai hay bất cứ một sinh thể nào có uy quyền hay năng lực nắm độc quyền phương tiện. TsMT có phương tiện tu hành (mà mục đích cuối cùng cũng là tìm cầu sự cứu khổ cho mình) và bậc thượng thủ, thượng tôn, thượng sư, thượng đức… nào, nếu chưa chứng quả, giác ngộ thành Phật thì cũng là một Phật tử “tùy duyên” đang lang thang “vĩnh vi lãng đãng phong trần khách” tìm đường cứu khổ giữa dòng đời gió bụi nầy mà thôi.

Bởi vậy, đức Phật đã để lại Tam Pháp Ấn. Đó là cái khuôn dấu Chánh Pháp bao gồm cả nhân sinh quan, vũ trụ quan, bản thể luận của nhà Phật với 3 dấu ấn chân pháp: Khổ, Vô Thường, Vô Ngã. Sống và ứng xử khế hợp với nguyên lý Tam Pháp Ấn thì cho dẫu bất cứ dưới hình thức, danh nghĩa cá nhân hay bộ phái nào cũng đều là đệ tử, là người theo Phật. Đức Phật dạy trong kinh Nikaya Trung Bộ rằng: Ai nguyện nương tựa Phật lý và nương theo Phật pháp để tu hành tự độ cứu khổ, kẻ ấy là người theo Phật. Đấy là một thái độ tự giác khi nhận ra chân lý và nương theo chân lý để cải thiện cuộc sống của mình, hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không cần phải thông qua một hình thức lễ nghi nào.

Trường hợp cụ thể của TsMT đã dụng công học hỏi, tìm hiểu về đạo Phật từ thuở thiếu thời và lớn lên tự xuất gia hành trì theo con đường khổ hạnh của nhà Phật với cả thân và tâm qua hơn 6 năm không hề thối chuyển là một hình ảnh điển hình của khuynh hướng tự giác và tự phát theo Phật.

Bởi vậy, trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam hiện nay, sự xuất hiện của một tu sĩ “ngoài luồng” như TsMT đã gây nên những phản ứng trái chiều giữa đại chúng cũng như hàng tu sĩ “trong luồng” mà TsMT đã nói về mình rằng: “Con không liên quan gì tới tu sĩ Cung đình, Quý tộc…” Phản ứng quần chúng trong thời gian qua đã nóng lên một cách bất ngờ! Kể cả tứ chúng Phật tử, đại chúng trí thức và bình dân, những nhà lãnh đạo có thẩm quyền đương đại của Phật giáo trong nước và kể cả các linh mục đạo Công Giáo quan tâm.

Đạo Phật là Trung Đạo, hai bờ phải trái cực đoan: Một là ca tụng TsMT như một bậc chân tu sáng ngời cao khiết đầy phạm hạnh — hay ngược lại 180 độ — thóa mạ TsMT là kẻ điên khùng, bất trí, bất thường, thoái đạo… đều rơi vào hai vọng nghiệp thái quá hoặc bất cập, ra ngoài nẻo đạo từ bi, trí tuệ Phật Đà.

Những điều trông thấy

Mười ngày sau Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn 2024, chúng tôi về thăm Việt Nam sau hơn 7 năm chưa về lại. Với lớp tuổi ta, thiếu 1 tuổi đầy 80, tôi không còn ảo tưởng về lại quê hương, làng cũ để làm một việc gì “nên nỗi” hay tìm một cái gì to tát về bất cứ phương diện nào như những giấc mơ của thời trung niên đầy phong độ. Tuổi già như cỗ xe tứ mã với ngựa già xe cũ: Trong chính trị thường bám chấp và níu kéo; trong văn học nghệ thuật thường lẩn thẩn núp bóng ngày xưa; trong tôn giáo, tâm linh thường bị quá đà thấy mình như đang trên đường… gặp đạo! Bởi tự biết rõ mình hơn, tôi chỉ còn tự chọn cho mình một thái độ đối với các chùa viện, nhà thờ, am cốc và những chốn tâm linh ở quê nhà là “hành hương cầu thị”; trải rộng lòng mình để tìm về nguồn cội mà chiêm ngắm, tự trầm trồ khen thầm, tâm phục nhiều hơn là phê phán.

Vốn tuổi già ít ngủ, tôi thường thức dậy sớm khoảng 3, 4 giờ sáng. Nếu lục đục pha trà hay loay hoay làm gì đó thì sợ phá giấc ngủ người khác nên tôi thường tìm đến những ngôi chùa gần nhất. Tôi thật vui vì hầu hết chùa ở Việt Nam thức giấc mở cửa rất sớm và có những thời công phu đều đặn hàng ngày lúc trời chưa sáng, nhất là ở miền Nam và miền Trung. Thật không ngờ người đi chùa, nhất là thế hệ cao tuổi, lại đến sinh hoạt với chùa đông đảo và thường xuyên như thế. So với thế hệ Chiến tranh Việt Nam bảy, tám, chín chục chúng tôi thường đi chùa Rằm, mồng Một hay sinh hoạt GĐPT và khuôn hội thì vào dịp cuối tuần; nhưng ở đây sinh hoạt hàng ngày với tinh thần “ngoan đạo” cao độ.

Trong sáu tuần lễ ở quê nhà đi từ Nam, lên Cao nguyên, ghé Trung và ra Bắc, tôi đã trực tiếp đến các chùa lễ Phật và vấn an quý Thầy, Sư Ni quen và lạ. Thật sự tôi hơi “lóa mắt” về hình ảnh các chùa viện đã biết và mới biết; đa đều được xây dựng, trùng tu hay chỉnh trang nếu không ở mức độ nguy nga, tráng lệ thì cũng công phu và mỹ thuật. Đời sống của chư Tăng Ni và nếp sinh hoạt của các chùa viện mà tôi được đến viếng đã khác xa thời cây đa, cổ tự của những năm xưa. Từ thể thức trà nước tiếp khách đến những bữa cơm chay tập thể hay đãi khách đều tươm tất và phong phú hơn nhiều so với nếp tu hành kham nhẫn “tương chao, rau muối” một thời. Tăng Ni chúng xuất gia, hầu hết bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại chứ ít còn hiện tượng “xa lánh hồng trần” như một thời quá khứ. Hình ảnh công khai mà tôi thấy được là hầu hết tu sĩ các cấp đều có điện thoại cầm tay và phần đông có phương tiện giao thông và giao lưu riêng. Các bậc phương trượng, trụ trì, quản lý, hộ tự thì có mức sống cao hơn với phòng riêng có máy điều hòa không khí, điện thoại và xe ô tô tự lái hay đưa đón.

Có duyên may được tiếp xúc với quý Tăng – Ni, từ sa di… đuổi quạ đến trụ trì, phương trượng và hàng chức sắc Giáo Hội đương thời, tôi có được niềm vui là tâm nguyện tu học vươn lên của đa số chư vị. Nhờ mạng lưới truyền thông nhanh nhạy bao trùm khắp từ thành thị đến nông thôn nên các nguồn thông tin rất cập nhật. Khách hành hương từ phương xa trở về như tôi nếu không theo dõi tin tức thời sự, rất có thể trở thành lạc hậu về những chuyện đang xảy ra nóng bỏng trong cũng như ngoài nước so với tứ chúng ở chùa.

Càng được tiếp xúc nhiều với chùa chiền và tăng ni, nỗi xao xuyến trong tâm tôi càng tăng bởi khuynh hướng thực dụng trong các chùa viện ở quê nhà cũng không thua gì ở Âu Mỹ. Những hình thức cúng dường, gây quỹ… đầy hình thái và màu sắc đời thường trở thành khá phổ biến. Sự hiện diện và sức mạnh của vật chất, tiền bạc không còn là “ngoại đạo” như đa số chư vị tu sĩ có thẩm quyền hộ pháp và hoằng pháp mà tôi được gặp đều có kế hoạch xây dựng và phát triển tương lai chùa to tượng lớn với nguồn tài chính tỷ nầy tỷ nọ… Tôi không có lý do mà cũng chẳng có nhu cầu đi xa hơn trong vấn đề nầy. Tuy nhiên, qua thực tế trải nghiệm của mình trong 70 năm sinh hoạt với chùa ở Việt Nam cũng như ở Mỹ tôi không thể “hoan hỷ” giả vờ như không thấy rằng:

Hệ lụy tất nhiên của phương tiện vật chất và tiền bạc vào cửa thiền thường biến chốn thiền môn thanh tịnh thành cửa chùa xung động. Hàng tu sĩ giáo phẩm tiếp cận và hành hoạt với quyền lực thường bị “tục hóa” qua khuynh hướng đo lường tầm cao của công hạnh tu trì với thành quả xây dựng được cơ sở hình tướng chùa to tượng lớn!

Trong lúc đó, giới tu sĩ trẻ đương thời phần đông thông minh và nhạy bén trước mãnh lực cuốn hút của các phương tiện truyền thông như điện thoại, xe máy và các trang mạng xã hội thông dụng nhất ở Việt Nam là Facebook, TikTok, Zalo, Viber, Instagram, Quora… nhưng đây cũng chính là thách thức thời đại quyết liệt và gay gắt nhất giữa sức mạnh thực dụng thực tế và thế giới tâm linh giới hạnh tu hành.

Trong một thế giới cửa thiền đang ngày càng bị khuấy động trước cám dỗ thực dụng, một thực tế khiến tôi trăn trở là có khá đông chư Tăng Ni đạo cao, đức trọng, nghiêm trì giới luật, công hạnh vuông tròn, có viễn kiến chấn hưng Phật giáo trước những thử thách nghiêm trọng của thời đại đang dần rút vào im lặng. Số tứ chúng có bản tâm thanh tịnh tu hành hầu hết bó tay trước những hiện tượng thoái trào đang tiếp diễn bởi mức độ nhạy bén quá cao của bối cảnh tôn giáo, xã hội và quyền lực chính trị…

Có thể nói Đạo Phật Việt Nam (xin phân biệt với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam) trong cũng như ngoài nước, vô hình chung, hiện nay có 3 phân phái (đúng hơn là 3 khuynh hướng):

  1. Phái hàn lâm: Thiểu số quần chúng Phật tử gồm những học giả, trí thức, luận giả… xuất gia cũng như tại gia tương tác với nhau qua những lý thuyết và khái niệm cao siêu ở tầm “tàng kinh các”. Họ chia sẻ, trao đổi, viết lách toàn những điều trừu tượng về đạo Phật; đam mê sưu tầm, luận bàn, suy diễn, chẻ những cụm từ Hán Phạn làm tư ở mức độ “vô thượng, thậm thâm” quá nhiêu khê, trừu tượng mà quần chúng Phật tử trung bình và sơ cơ nếu được nghe và đọc thì như nghe và đọc tiếng nước ngoài.
  2. Phái tứ chúng: Gồm Tăng, Ni, Phật tử nam, Phật tử nữ chiếm đại đa số quần chúng Phật tử tại các giáo hội, tự viện và tăng đoàn. Đây là khối nhân sự xương sống của mạng mạch Phật giáo xưa nay.
  3. Phái cầu vọng: Gồm những Phật tử lâu năm hay mới theo có khuynh hướng hành hoạt với đạo Phật như một tín lý dân gian qua những hình thức cúng bái, cầu xin. Khuynh hướng tâm linh có khi đi xa hơn trong sinh hoạt lễ hội, trộn lẫn kinh kệ đạo Phật với nhạc lễ chầu văn; kết hợp Tam Bảo đạo Phật với Thánh Thần đạo Mẫu, đạo Thiên tiên Thánh giáo và đi xa hơn với những hình thức đốt vàng mã, bói toán, chiêu hồn…

Ba “phái” nầy không nhất thiết phải có sự sinh hoạt độc lập theo dòng mà thường khi vẫn có sự tương tác qua lại với nhau nhiều hay ít tùy trường hợp và mức độ.

Nôi dung bài viết này không nhằm mục đích ca ngợi hay phê phán một đối tượng tôn giáo, xã hội, chính trị nào cả mà chỉ mong được lý giải “hiện tượng Minh Tuệ” đang gây “bão mạng online – internet” ở quê nhà.”

Qua chặng đường ba, bốn chục năm trở lại, đạo Phật Việt Nam đã chuyển biến trước những thử thách của hoàn cảnh và phương tiện. Một đạo Phật thanh tịnh mái chùa rêu phong nấp bóng cây đa, thâm nghiêm giữ hồn dân tộc đã bị lay động bởi hình tướng phóng thể và phương tiện đời thường. Khi tâm động thì cảnh động và tất nhiên cuốn theo pháp chênh, người động. Các bậc xuất gia là linh hồn của đạo Phật. Linh hồn bị tục hóa thì tâm cũng bị vẩn đục theo là hệ lụy vừa trực tiếp vừa gián tiếp khó lòng tránh được. Nếu không có một sự chấn chỉnh đúng thời, đúng hạn thì tính thậm thâm vi diệu của pháp Phật sẽ từ tĩnh sang động, từ đạo vị sang trần thế, từ thánh sang phàm, từ siêu thoát sang nhuốm mùi tục lụy vì danh, vì lợi, vì ngã mạn, ngã sở… bụi trần!

Trường hợp Tu sĩ Minh Tuệ là một giọt nước tràn ly. Đại chúng không cần biết TsMT là ai, tu theo hạnh nguyện nào, nghiêm cẩn với giới luật và hành đạo có tương hợp với nguyên lý và đạo lý Phật môn truyền thống hay không. Quần chúng không suy diễn, phân tích, lý luận quanh co mà rất đơn giản, cụ thể và đi thẳng vào vấn đề, rằng: Các bậc xuất gia hành đạo Tăng Ni là hình ảnh tiêu biểu trong ba ngôi Tam Bảo – Phật-Pháp-Tăng – tuân theo giới luật nhà Phật mà cơ bản nhất là nếp đời phạm hạnh, từ phàm tới thánh thì hà cớ gì lại phải mộng tưởng điên đảo với hình tướng giả ảo như dòng chảy tâm linh ngày càng thiếu nước, ngược dòng đến thế?!

Sự tương phản quá rõ nét giữa các tu sĩ Phật giáo có chùa to tượng lớn, đi đâu cũng có tiền hô hậu ủng, xe pháo sang trọng, ăn uống tinh tươm đầy bổ dưỡng, tiền bạc rủng rỉnh, cà sa gấm đoạn, thị giả và đệ tử đầy đàn, du lịch thường xuyên khắp thế giới. Trong lúc đó hạnh tu trong sáng của nhân vật TsMT thì hoàn toàn ngược lại.

Cho dẫu đây chỉ là hiện tượng cá biệt xuất hiện đột ngột và nhất thời nhưng do bởi động cơ nào mà quần chúng khắp nước đủ mọi thành phần xã hội lại dậy lên luồng phản ứng mạnh mẽ (kể cả hai chiều thuận và nghịch) lên tới một mức độ sâu rộng khắp cả trong và ngoài nước như đang tiếp diễn.

Trường hợp tu sĩ Minh Tuệ cũng được xem là một hiện tượng. Hiện tượng thường xuất hiện ở các dạng chính là vật lý, tâm lý, đạo lý, tín lý và… kể cả vô lý! Hiện tượng Minh Tuệ có thể nằm ở dạng tâm lý và tín lý. hiện tượng con người cũng như hiện tượng thiên nhiên sấm sét. Trong một tia chớp khoảnh khắc nào đó gây sự náo loạn long trời lở đất, nhưng nhưng tác dụng còn lưu lại nhanh hay chậm, tức thời hay lâu dài còn tùy thuộc vào sức mạnh của tia chớp và đối tượng bị đánh trúng. Tia chớp Minh Tuệ đã đánh động tâm lý quần chúng nhìn về đạo Phật và nhánh thứ ba trong ba nhánh cơ bản nhất của tôn giáo này là Tăng Bảo. Quần chúng bắt gặp một hình ảnh đẹp tiêu biểu trong pháp tu của Phật giáo: buông xả mọi tham ái và hoàn toàn phủi sạch mọi bám chấp theo giới luật của Đầu Đà Thập tam Công hạnh.

Theo thông tin chính thức của Giáo hội PGVN trong nước cho biết là cả nước có 18.491 tự viện (chùa, tu viện, thiền viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường…), 54.773 Tăng Ni, Phật tử chiếm 60% dân số; so với Hải ngoại có khoảng 300 ngôi chùa Phật giáo (kể cả chùa tư nhân, chùa Hội, chùa Thầy) và 2.200 Tăng Ni Sư theo ước định 2021 (PGVNTN) thì tuy khác nhau về nhiều mặt tổ chức và sinh hoạt nhưng cùng có chung những vấn đề trước mắt. Đó là nhu cầu thời đại cần có một sự chấn chỉnh hay chấn hưng Phật giáo (như thời kỳ 1950) liên quan đến hàng giáo phẩm lãnh đạo, giới luật và phương tiện cũng như pháp khí hoằng pháp, hộ pháp và chấp pháp.

Ngưỡng nguyện Hồng ân Tam Bảo độ trì cho mạng mạch Đạo Phật Việt Nam vẫn luân lưu cùng Đạo pháp, Dân tộc và Thế giới. Hiện tượng nhất thời Tu sĩ Minh Tuệ như giọt nước tràn ly, tiếng khánh báo thức để hàng Phật Tử quan tâm rằng: Đạo Phật cần hiện đại hóa để bắt kịp bước đi thời đại, tịnh hóa thiền môn.

Tạm kết

Có một trang Facebook đăng hình “thân Phật chảy máu” với lưỡi dao sắc lẻm cắt ngang mình Phật máu chảy đỏ lòm với lời bình luận đại ý nhấn mạnh rằng: rồi đây manh áo Cái Bang và nồi cơm điện phế thải sẽ bị quăng đi và ném vào sọt rác. Tôi chưa rõ là thân Phật chảy máu vì các trưởng tử Như Lai buông lơi giới luật hay bởi kẻ tin Phật lạc loài đang bị thóa mạ hoặc đang bị đàn áp bởi dư luận và quyền lực? Thế nhưng, tôi rất tâm đắc với lời comment đầy tâm đạo và trách nhiệm bên dưới rằng: “Thân Phật chảy máu theo dòng tưởng tượng lãng mạn của người con Phật hay hình tướng của Tu sĩ Minh Tuệ bị ném vào giỏ rác… điều đó chẳng hề gì. Điều quan trọng nhất là những vết son hay vết chàm đó là GIỌT NƯỚC TRÀN LY để đạo Phật Việt Nam có động cơ CHẤN CHỈNH hay CHẤN HƯNG kịp thời trước khi quá muộn.” California, Mùa An Cư 2568 (2024) Nguyên Thọ

Trần Kiêm Đoàn Ph.D; MSW

THẦY THÍCH MINH TUỆ VÀ MÔ HÌNH TU CHÙA – KHÔNG – CHÙA

Tôi dự đoán, thời gian tới, số người theo Thầy Thích Minh Tuệ sẽ nhiều không đếm xuể, và, số người rời khỏi đoàn vân du cũng sẽ nhiều tương đương với người vào. Con số có thể lên hàng trăm hàng ngàn ra/vào. Lúc đó, sẽ có những biến chuyển về quan niệm tu một cách mới mẽ, độc đáo, mô hình Chùa – Không – Chùa sẽ ra đời.

Ngoại trừ những người thuộc cơ quan an ninh đóng giả nhà tu (điều này bắt buộc có của một nền an ninh – tư pháp quốc gia, ở bất kì quốc gia nào trước hiện tượng như Thầy) thì số người ngoài xã hội và người đi tu từ các chùa theo thầy Minh Tuệ sẽ ngày càng nhiều. Vào đoàn rồi ra đoàn sẽ nhiều lắm. Vì hai lý do:

  • Niềm hi vọng và ánh sáng chân như trong vết dấu tăng đoàn nguyên thủy.
  • Mục đích tu tối thượng và hằng cửu.

Ở lý do thứ nhất, trước đây, ngài Minh Đăng Quang từng vân du và từng có những đám đông theo ngài. Nhưng thời của ngài Minh Đăng Quang không suông sẻ, bởi thời đó, vấn đề an ninh còn hết sức nhạy cảm, hơn nữa, quốc độ mà ngài chọn quá gần vùng “rừng lá thấp” nên sẽ khó bề yên tu.

Còn với Thầy Thích Minh Tuệ, không hiểu ngay từ đầu Thầy có nhìn ra căn cốt vấn đề người xưa hay không, nhưng Thầy đã chọn vân du ra hướng Bắc, một hướng đi ít nhạy cảm hơn, không gần vùng “rừng lá thấp” nhưng lại gần vùng “nôi cách mạng”.

Chỉ việc chọn lựa quốc độ để vân du, đã thấy việc chọn lựa của thầy Thích Minh Tuệ khá đắc địa và hợp lý, cơ may hanh thông cao hơn nhiều so với ngài Minh Đăng Quang. Và việc vân du của thầy Minh Tuệ ngay trong lúc này tạo ra hiệu ứng Tăng Đoàn Nguyên Thủy rất cao, bởi hình ảnh Thầy Minh Tuệ gợi nhắc hình ảnh của Đức Tổ và các bậc Bồ Tát một thuở.

Điều này vô hình trung đánh thức suy tư của các nhà tu, vốn dĩ đã sống quá lâu trong Tăng Đoàn chính thống, tức sống ở chùa, hoặc là trụ trì, hoặc là sư sãi và luôn phải va chạm vật dục với đời sống xã hội. Với một số thầy có cơ may thủ đắc vật dục với chức sắc thì họ nghiễm nhiên trở thành ông hoàng trong chùa, với những người còn lại, đời sống trở nên “một ngày như mọi ngày”, ê chề, mệt mỏi, chán chường và gắng gượng…

Tình cờ, hình ảnh một người chân đạp đất đầu đội trời xuất hiện trong cõi tu làm đánh thức.

Sự đánh thức lớn nhất và đầu tiên ở đây có lẽ là thú vui được tự do vân du khắp nẻo đường trong sự đồng cảm của Phật tử. Thứ đến, là một sự lột xác, giải trừ vật dục trong sâu xa tiềm thức, mà ngay cả lúc chưa đi tu, người ta đã nghĩ đến, nhưng khi vào tu, sự thể lại cuốn vào một cơn vật dục khác. Nên khả năng bỏ chùa đi vân du vài tháng, thậm chí vân du cả đời sẽ rất cao. Nhưng, trong nhóm sư này, cũng sẽ xảy ra hai tình trạng: Muốn vân du nhưng sợ rời Giáo Hội; Rời bỏ Giáo Hội để vân du.

Nhóm rời bỏ Giáo Hội để vân du có lẽ sẽ ít ỏi so với nhóm mong mỏi được vân du nhưng không rời bỏ Giáo Hội. Bởi đây là căn bệnh trầm kha của con người, một con người trong hay ngoài giáo hội, tu hay không tu, nếu còn va chạm, tương tác vật dục thì sự trì trệ và tính thực dụng sẽ tăng theo thời gian.

Và trong bất kì hoàn cảnh nào, mục đích ban đầu lựa chọn vẫn là một thứ công án nội tâm, thúc giục cho đến khi thời tiết, sinh quyển phù hợp. Hình ảnh Đức Cồ Đàm cùng Tăng Đoàn vân du của mấy nghìn năm trước luôn là điều gì đó màu nhiệm, huyền bí và đẹp, đủ để thúc giục con người lên đường với đôi bàn chân trần, chẳng cần toan tính gì thêm.

Và, đời sống vốn đông cứng, cô đặc trong các giáo hội đã chôn mất hứng thú ban đầu khi người ta quyết định xuất gia, đó là hình ảnh Đức Cồ Đàm cùng tăng đoàn nguyên thủy. Thế rồi theo thời gian, hạt mầm từ tâm bị nén, thay vào đó là những cỏ dại của điêu trá và tham sân si. Đến một ngày, hình ảnh Thầy Minh Tuệ như một giọt mưa đánh thức hạt mầm từ tâm đã ngủ khô trong tâm thức, nó cựa mình thức giấc, và đòi sự sống của một hạt mầm. Thế nên mới có chuyện có nhiều người trong và ngoài Giáo Hội liên tục theo Thầy.

Tuy nhiên, không phải cứ hạt mầm gieo xuống đất là mọc thành cây rồi lại đơm hoa, kết trái và tiếp tục nảy mầm, phải nói là tùy số phận của hạt mầm nữa. Tôi là nông dân, tôi trồng cây và quan sát, không phải bạn gieo một triệu hạt cải thì có một triệu cây cải, có khi bạn gieo một triệu hạt cải, nảy mầm hết rồi đó, nhưng khi thu hoạch chỉ còn vài cây, thậm chí chỉ độc nhứt một cây, may sao, cây ấy lại trổ bông và kết trái, thế mới có hi vọng mùa sau.

Và, khi việc vào – ra Tăng đoàn trở nên thường xuyên, không chừng xã hội sẽ phát triển thêm mô hình tu Chùa – Không – Chùa, tức Phật Tử, Tăng Ni phát nguyện cùng vân du với Thầy trong vòng mười ngày, hai mươi ngày, một tháng, một năm rồi lại trở về đời thường.

Mọi đám đông cũng sẽ lắng xuống và thay vào đó là trào lưu Chùa – Không – Chùa, vân du cùng Thích Minh Tuệ, tùy căn duyên mà chọn ngắn dài, tùy cơ địa mà chọn xa gần. Rất có thể ngày ấy, chuyện ấy sẽ đến.

Và sẽ có một điệu sống mới trên dải đất hình chữ S này. Bởi cơ duyên và tín hiệu đầu tiên nhận thấy được là Thầy gặp rất nhiều trở ngại từ Giáo Hội và một ít người vô đạo, nhưng Thầy lại gặp thuận lợi trong Nhân Tâm (gồm cả chính quyền và nhân dân). Tin là vậy!

Ps’: Nguồn hình internet.

Lý giải vì sao người Bắc Âu không màng”nhà lầu, xe hơi'” nhưng vẫn hạnh phúc!

Người Việt cần đọc
19/5/2024

“Thực phẩm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.
Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.
Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp
Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6h/ngày,
Hoặc
Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…
Điểm chung của các quốc gia này là gì?
Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.
Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking.Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

  • Tăng trưởng kinh tế cao,
  • Chỉ số phát triển con người cao,
  • Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?
Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.
Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc.
Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:
Không hề có nhà cao tầng,
Người dân ăn mặc rất mộc mạc,
Đi những chiếc xe cũ kỹ
Và ăn những món ăn đơn giản.
Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực con người.
Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là:
“Chất lượng cuộc sống”.
Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn:
“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.
Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn:
Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng.
So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai.
Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm Chất”,
chứ không phải là “Vật Chất” trong cuộc sống.
“Nhanh một chút”,
“nhanh một chút!”.
Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống:
“Chậm Một Chút!”,
nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.
Những con người
“Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự:
“Đơn Giản”
Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới.
Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.
“Thực phẩm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.
Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”
Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút.
Ví dụ
Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70-80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu.
Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.
Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng.
Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.
•Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng
Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triền khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.
•Không cần phải khoe của
Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.
Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.
Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây!
Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’ .
Về thời gian làm việc.
Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy.
Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách.
Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.
Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do chính thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.
“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu.
Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự:
“đau khổ, giày vò”.
Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.
Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc.
Nghe giống như đặc điểm của những kẻ:
‘lười nhưng thiên tài’
mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.
Đúng!
Và đây là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.
Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho cho gia đình.
Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ:
“Gia Đình”
Trong cuộc sống của người Bắc Âu,
gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa,
cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…
Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.
Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình.
Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông ba có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.
Điều cuối cùng, đối với người đàn ông Bắc Âu, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công nữa, mà chính là phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ. Với họ, khoảnh khắc có lẽ là hạnh phúc nhất trong ngày chính là khi đứa trẻ của mình leo lên đầu, ôm lấy cổ ba chúng, hôn một cái và thủ thỉ nói:
“Chúc cha ngủ ngon nhé”.
Đây mới là cách đầu tư thông minh nhất nếu bạn muốn có cuộc sống hạnh phúc!

  • Cang Huỳnh lược dịch từ Le Saviez-Vous .

Giải mã y phục của thầy Minh Tuệ

(Peter Pho)

Thầy Minh Tuệ tu theo lối khổ hạnh như lão đã viết. Loại tu hành này có tên là Hạnh Đầu Đà.

Nhiều họa sĩ vẽ thầy Minh Tuệ và bắt mắt nhất là bộ cánh của thầy. Bức họa của họa sĩ Nguyễn Hồng Hưng lão đánh giá là đẹp và ý nghĩa nhất trong những bức minh họa về thầy Minh Tuệ. Họa sĩ nhắn cho lão nói rằng:”Chào Anh. Bức vẽ “ Người không toả sáng bằng cái đầu”. Bức đầu tiên tôi không đăng, vi vẽ ngài Mình Tuệ có bước chân toả sáng trên con đường đầy máu và nước mắt. Xong thấy không vui và còn hận nên tôi bỏ con đường đau đớn đó đi . Chỉ để bước chân ngài ấy toả sáng.”

Họa sĩ đã làm nổi bật lên “Pháp y” của thầy với hơn mười màu sắc khác nhau rất bắt mắt.

Vậy các bạn có biết pháp y này có nguồn gốc gì? Chắc đa số bạn đều cho rằng thầy vô tình nhặt nhạnh vải thừa áo cũ để chắp vá thành cái áo để khoác trên người. Sau đấy xuất hiện vài vị sư “Cái bang” nhập vào sư đoàn của thầy, các vị cũng khoác trên mình bộ cà sa chắp vá như thầy Minh Tuệ, nhưng về phối mầu thì cà sa của thầy Minh Tuệ là đẹp và “nghệ thuật” nhất. Nếu bán đấu giá, chắc Nguyễn Hoài Bắc sẽ trả giá đến chục ngàn Đô. Hoài Bắc mà bận cà sa này, vai khoác túi vải nhét đầy tiền, trên tay cầm một xấp Đô La đi nghênh ngang ngoài đường, đảm bảo một biển người cuốn theo sau còn nhiều hơn thầy Minh Tuệ…kkk

Y phục của thầy Minh Tuệ có nguồn gốc và sự tính toán kỹ càng. Nó có tên là “Y phấn tảo”, được cắt tỉa, chắp vá, khâu lại từ nhiều mảnh vải khác nhau. Đó những mảnh vải bó thây người chết sau khi đốt còn sót lại hoặc áo tang, khăn tang mà người ta vứt bỏ nơi nghĩa địa, bệnh viện,… hay là những quần áo cũ vứt ngoài đường mà chó chim tha về làm ổ nơi vỉa đường. Thầy nhặt về giặt giũ sạch sẽ, khâu lại thành y để mặc. Đây là nguyên tắc thứ nhất của tu Hạnh Đầu Đà, việc này giúp cho hành giả không bị lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ.

Vị hành giả tu hạnh đầu đà chỉ có ba tấm y duy nhất, y lớn khoác bên ngoài, một áo, một quần, còn gọi là thượng y, trung y và hạ y. Suốt cả một đời tu sĩ, vị hành giả chỉ có ba tấm y đó, khi rách nát thì vá chằng vá đụp đến khi không còn chỗ vá nữa thì mới được thay y mới.

Có lẽ trong giới thời trang sắp bùng nổ kiểu thời trang cách điệu từ Y phấn tảo. Khi ấy lão PP sẽ mua vài bộ cho mình và các trưởng lão Tạ Trí, Đỗ Vũ, Gã Búi Tó mặc đến chơi nhà Bac Nguyen cho đẹp mắt…kkk