ĐƯỜNG TĂNG NGOÀI ĐỜI THẬT

“ Người nói pháp quý không bằng người nghe pháp, người nghe pháp quý không bằng người biết pháp, người biết pháp quý không bằng người hiểu pháp. Nói, nghe, biết, hiểu pháp quý không bằng người hành pháp”
Thầy Thích Pháp Hoà
🙏🙏🙏

Fb Thao Ngoc
ĐƯỜNG TĂNG NGOÀI ĐỜI THẬT

Tôi không được chứng kiến chuyến hành hương của đức chúa Jesus Cristo khi Ngài cùng 5000 người hành hương về thành Jerusalem; tôi cũng không được chứng kiến tăng đoàn 1250 đệ tử của phật Thích ca Mầu ni nhưng ngày nay, điều không thể tin được đầu thế kỷ 21 đã xảy ra. Tôi đã được chứng kiến đoàn hành hương của thầy Minh Tuệ đang diễn ra.

Đây là một hiện tượng xã hội rất kỳ lạ, nhất là lại xảy ra giữa thời hiện đại.

Ban đầu chỉ có mình Thầy âm thầm tu tập đã 6 năm. Thầy đã từng bị chửi, bị đánh, bị đuổi. Thầy một mình đi khất thực đã 4 lần ra bắc vào nam mà không ai biết, không ai quan tâm. Thầy hiền lành, ăn nói thì mộc mạc, thái độ thì lúng túng, chất phác; với ai cũng xưng con, ai cho tiền cũng hết sức từ chối. Thầy chỉ xin một bữa cơm chay buổi sáng dù đó là bún thừa, cơm nguội rắn như đá. Mỗi ngày Thầy chỉ ăn một bữa, đã ăn rồi là thôi, ai cho thức ăn cũng không nhận nữa. Đã 6 năm rồi không ai biết tới thầy, một tu sĩ khất thực nhỏ mọn, có vẻ điên khùng, ngây ngô.

Kệ!

Thầy cứ đi trên con đường tu tập vạn dặm của mình, mặc gió, mặc mưa, mặc người đời. Mùa mưa thầy ở trên núi Sạn (Nha Trang), ở trong một hốc núi như một vị guru (thánh) Ấn độ. Trên con đường hành tập theo hạnh đầu đà của Thầy, ngày đi 30, 40 km, đầu trần, chân đất, áo bá lạp chắp vá từ những mảnh vải nhặt ở bãi rác, tối ngủ ở gốc cây, ở nghĩa địa, … Thầy đã tu được hạnh ngủ ngồi kiết già (thực ra là thiền định), mặc kệ gió, mặc kệ mưa, mặc kệ ma quỷ, côn trùng, rắn rết vây quanh. Nhờ có mạng xã hội mà người ta biết tới Thầy, người ta choáng váng trước các chi tiết tu tập của Thầy
Mọi người bắt đầu tìm hiểu về Thầy lúc Thầy đang trên đường tới Hà Giang. Từ thầy toát ra vẻ mộc mạc, đơn thuần. Dù ai biết đến hay không biết đến, dù ai làm gì Thầy cũng mặc. Thầy giản dị, thân thiện, hỏi gì cũng nói, biết thì nói, không biết thì bảo không biết. Khi công an hỏi giấy tờ căn cước thì Thầy không có nhưng Thầy lại nói:

  • Con đã từ bỏ thế gian rồi; còn cái thân xác này thôi, muốn bắt, muốn giết gì cũng được, cho con sống thì con lại tu tiếp. Nếu con chết, giả dụ ô tô đụng chết, thì cũng không oán hận. Người ta vứt xác cho cá rỉa hay chôn lấp đâu đó cũng được, con không oán trách gì. Con bây giờ không có gì mà nhờ mọi người bảo hộ quyền lợi, nghĩa vụ gì đó nữa, cũng không có tài sản gì phải bảo hiểm hết.

Thầy vẫn cứ đơn thuần, chất phác như vậy trên con đường tu hành vạn dặm; lúc nào cũng tươi cười, hoan hỷ chúc phúc cho mọi người.

Mạng xã hội đã phát hiện ra Thầy, phát hiện ra hành tung và đạo hạnh không tầm thường của Thầy và cả xã hội, phật tử, giới tu sỹ, đã chú ý tới Thầy. Thôi thì khen chê đủ cả nhưng không ai có thể bắt bẻ được Thầy vì ngay từ đầu Thầy đã nói:

  • Con không phải là sư, là thầy gì cả. Con chỉ là một công dân VN đang trên đường học tập theo giới hạnh của phật Sakya Munni và đi theo con đường của Phật. Con không có học trò, cũng không thuyết pháp vì bản thân con học chưa xong. Chỉ khi nào con thành tựu chánh đẳng, chánh giác thì lúc đó con mới dám hoá độ cho mọi người. Con không mời ai đi theo con mà cũng không xua đuổi ai cả, ai đi cùng là việc của họ mà không đi tiếp cũng là việc của họ!

Hạ mình, diệt ngã, xả ly như Thầy xưa nay chưa từng có.

Đã có những người đầu tiên đến với Thầy. Đại Đức Thích Minh Tạng và sa di (người mới tu học) Minh Trí đã bỏ chùa đi theo Thầy và coi Thầy là sư phụ nhưng Thầy chỉ dám nhận là huynh đệ cùng tu. Cả hai vị này đã phát nguyện theo Thầy đến hết đời. Lục tục có những tu sỹ, người mộ đạo khác đến theo Thầy. Có người đến rồi không chịu nổi gian khổ rồi lại về, có người đi được dăm ba ngày, có người được vài tuần. Đến đi cùng Thầy cũng hoan hỷ mà chia tay Thầy cũng hoan hỷ.

Phật tử theo thầy lúc đầu có vài người tò mò, vài người thích selfies, vài youtubers, tiktokers đi theo làm tin mạng. Dần dần đoàn người ngày một đông thêm, người đi theo vì tò mò, người đi theo vì niềm tin chân thành vào Phật, người thì theo vì mê tín, người thì theo để chữa bệnh ..

Sư Thích Trí Trung đã nói rất đúng: – Chướng ngại của Thầy đã bắt đầu!

Hoàn toàn đúng!

Làm một vị Phật sống không dễ! Người ta tôn vinh Thầy, tán thán Thầy, phục tùng Thầy thì đạo hạnh của Thầy phải ngày một tinh tấn, giới luật của Thầy phải ngày một nghiêm mật. Nhận lấy cái thiêng liêng của một vị phật thì phải gánh lấy cái cao cả của vị phật ấy, không thể khác! Chỉ có một lòng vì chúng sinh, xả ly, tuyệt dục, vô ngã, từ bi … mới gánh được cái trách nhiệm chánh đẳng chánh giác này.

Những câu hỏi kiểu như:

  • Đi thế thì giúp ích gì cho xã hội?!
  • Nếu ai cũng đi thế thì xã hội sẽ ra sao ?!
  • Tự đoạ đày thế là không nên … ?
    Rồi chúa Jesus dạy thế này, Phật dạy thế kia, ông này nói thế này, ông bà kia nói thế kia … Học nhiều mà để kiến thức sách vở che lấp đến lú lẫn thì cũng không hơn gì người vô học. Ngồi đấy mà chê bai người ta. Thử làm theo người ta một hai ngày xem sao?!. Nói đạo lý thì dẻo quẹo nhưng thử bỏ ra một hai chục triệu xem có đau như lấy dao cứa vào da thịt ấy chứ!
    Vậy nên, nói thì dễ mà làm mới khó

Vậy nên sư Pháp Hoà đã dự báo :

  • Người nói pháp là đáng quý nhưng không quý bằng người nghe pháp, người nghe pháp đã quý nhưng không quý bằng người biết pháp, người biết pháp đã quý nhưng không quý bằng người hiểu pháp nhưng nói, nghe, biết, hiểu pháp không quý bằng người hành pháp

Đời sống xã hội loài người đi cùng với cái thiện, cái ác. Khi nào cái thiện, điều tử tế, được tôn vinh thì xã hội ổn định

Mong Thầy đủ nghị lực để tiếp tục làm vị phật sống trong đời đem hào quang đạo đức hướng thiện lan toả đến muôn nơi!

St

“CON MA SÔNG”

KÊNH ĐÀO “PANAMA ĐÔNG DƯƠNG” QUA QUẢNG TRỊ

[CAMBODIA VÀ KÊNH ĐÀO FUNA SẼ KHÓ THÀNH CÔNG NẾU LÀO NỐI MEKONG VÀO THẠCH HÃN ĐỂ RA BIỂN ]

Hôm nay đọc tút anh Đương Phạm kể chém gió với nhà thơ Thanh Thảo và cụ bảo nên nối Mekong về Quảng Trị để cho Lào có đường biển vào sâu nội địa , bọn Funa sẽ khóc thét 🙂
.
Hơn hai mươi năm trước ý tưởng của Tiến Sĩ Phạm Văn Quang đã làm dậy sóng Quảng Tri, phóng viên Tuổi Trẻ từ 2004 đã gặp tiến sĩ Quang và nghe ông nói về dự án này

Nhân vụ kênh đào Funa của Cam, nhắc lại chuyện này , ai quan tâm vào đọc cho vui :

“CON MA SÔNG”

TS Phạm Văn Quang

TTCN –

Nhiều người hỏi ông với ý mỉa mai là dân địa chất sao không lo tìm mỏ mà lại nhảy sang nghiên cứu sông ngòi kênh rạch rồi bỏ cả đời vắt óc tìm giải pháp trị hà bá?

Ông biết đó là phần việc của ngành thủy lợi, nhưng bao nhiêu năm đồng bằng sông Cửu Long năm nào cũng có người bị chết vì lũ lụt.

Và ông bắt đầu mày mò tìm chiêu pháp trị thủy sông Mêkông cũng như ấp ủ tham vọng vẽ lại bản đồ các dòng sông trên đất Việt bằng con mắt một nhà khoa học biết nhìn xa trông rộng.

Ông là tiến sĩ Phạm Văn Quang, 70 tuổi, viện phó Viện Địa chất & môi trường.
Đam mê “qui phục” các dòng sông bám lấy ông như một thứ bùa ngải.

Ông duyên nợ với sông bởi hai lý do: thuở nhỏ nghe chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh, và quặn ruột mỗi khi gặp lũ lụt tang thương; thứ hai, những tri thức về địa chất đã giúp ông hiểu sâu sắc hơn qui luật các dòng sông.

Đắm mình vì sông!
Duyên nợ ấy lại chỉ tình cờ.

Từ bỏ khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội vì ý nghĩ “văn học không làm được gì”, ông hăm hở vào ngành địa chất với giấc mộng đi tìm “vàng” cho đất nước. Một lớp chuyên gia địa chất, trong đó có ông và Chủ tịch nước Trần Đức Lương, được chuyên gia Liên Xô đào tạo vẽ bản đồ.

Đó là thế hệ chuyên gia địa chất đầu tiên ở VN khi vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Hơn 20 năm lang thang vẽ bản đồ, tìm mỏ trong và ngoài nước, ông đã chạm mặt bao nhiêu dòng sông con suối nhưng không nghĩ sau này chúng lại cuốn cả cuộc đời, sự nghiệp ông theo.

Cho đến năm 1976 ông được Viện Nghiên cứu ảnh viễn thám Ân Độ mời sang học lớp nghiên cứu ảnh viễn thám (“đọc” ảnh chụp bề mặt trái đất từ vệ tinh để tìm mỏ). Một giáo sư Hà Lan lại khuyên ông nên nghiên cứu môn địa chất thủy văn. Ông lắc đầu: “Tôi phải nghiên cứu mỏ, nước tôi đang cần mỏ”.

Giáo sư Hà Lan bảo: “Cái gì tạo nên đặc điểm, hình trạng bề mặt trái đất? Không phải tạo hóa mà là nước mưa”. Câu nói này khiến ông tỉnh giấc. Vị giáo sư đó còn tặng ông một cuốn sách viết về sự hình thành các con suối trên thế giới bằng phương pháp toán học và kết luận tất cả sông, suối trên trái đất đều chảy theo một qui luật toán học.

Ông như người bị bỏ bùa để rồi 50 năm qua ông cứ lặn ngụp nghiên cứu các dòng sông của VN và thế giới như một công việc tay trái, dùng tri thức địa chất để “mổ xẻ” từng dòng sông, đặc biệt là hệ thống sông ngòi thuộc Đông Nam Á với câu hỏi làm sao biến chúng thành nguồn lợi?

Có người bảo ông là “con ma sông” vì sông nước nào ông cũng đọc tên vanh vách.

Ông bảo: “Tôi nắm rõ từng centimet sông Seine của Pháp và sông Hằng của Ân Độ”. Không chỉ soi xét những con sông lớn, ngay cả những lạch suối nhỏ không thể vẽ trên bản đồ địa chất tỉnh, chỉ trong chu vi 9m2 ông cũng lần mò khám phá.

Nhiều chuyên gia nước ngoài đánh giá ông là một tiến sĩ địa chất đẳng cấp quốc tế và thậm chí họ còn không rành rẽ hệ thống sông ngòi của nước họ bằng ông.

Năm 1992, khi tăm tiếng nổi như cồn, Chính phủ Lào “thuê” ông sang vẽ bản đồ địa hình, địa chất và nước sông Mêkông để xây dựng đập thủy điện Nậm Thơm. Sau đó ông tiếp tục sang Thái Lan vẽ bản đồ mỏ. Cũng nhờ những chuyến viễn du ấy ông đã tranh thủ tìm hiểu kỹ các con sông Đông Nam Á.

Tất cả đều khởi nguồn từ ý tưởng sáng tạo cá nhân chứ không nằm trong chương trình Chính phủ.

Mê mải đuổi theo các dòng sông, ông “lạc” sang sân thủy lợi tự khi nào không rõ.

Gần nửa thế kỷ lặn ngụp với sông không phải là một thú vui hay để thỏa mãn cơn khát tri thức mà là để kiên trì một tham vọng… chống lại trời: cải tạo các dòng sông ở VN, bắt hà bá phải “qui hàng” cho dân bớt khổ.

Năm 1982, một lần lang thang từ biển Cửa Việt ngược dòng Thạch Hãn lên làng Cát, nằm khuất lấp giữa thung lũng Khe Sanh, ông chết mê dải đứt gãy tuyệt vời nhất dãy Trường Sơn vẫn được coi là hiểm trở trong tưởng tượng của nhiều người. Rồi ông lại lạnh người bắt gặp dòng Xêbănghiêng (Lào) đang lượn vào sát chân làng Troại (VN) chạy mất hút về phía tây đổ vào sông mẹ Mêkông.

Một ý nghĩ như tia chớp lóe trong đầu: có thể đặt một đường kẻ nối sông Xêbănghiêng mé tây Trường Sơn với sông Rào Quán – Quảng Trị phía đông để dẫn nước ngọt từ sông Mêkông ra Cửa Việt (biển Đông) không? Mọi ý nghĩ của nhà khoa học đều không cho phép siêu tưởng.

Ông lóe nghĩ như vậy bởi đã quan sát rất kỹ địa hình, địa chất Khe Sanh là một thung lũng khá thấp trong khi dải đứt gãy phía tây làm biên giới chia Việt-Lào lại có những quả núi không hiểm trở. Và ông lao vào nghiên cứu dù biết công trình của mình đang mạo hiểm chẳng kém gì… Ngu Công dời núi, có khi còn bị bia miệng để đời.

“Để nghiên cứu sông Mêkông tôi phải nghiên cứu cả lưu vực sông Mêkông, qui luật dòng chảy của toàn bán đảo Đông Dương”- ông nói. Ông vẽ bản đồ chi tiết hệ thống sông ngòi khu vực, tính toán diện tích lưu vực và lượng nước mưa, sau đó tính ra tổng trữ lượng nước mỗi năm lưu vực đón nhận rồi dốc xuống đồng bằng sông Cửu Long.

Dự án trị thủy sông Mêkông chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi công trình dày cộp đầy táo bạo của ông. Tất cả dòng sông lớn của VN đều đã được ông soi kính hiển vi cũng như đưa danh sách các hà bá vào trong “sổ đen”. Chẳng hạn dự án trị thủy sông Mã, sông Chu, sông Cả, dự án “cứu hộ” đập thủy điện sông Đà, dự án phá đê cải tạo đồng bằng sông Hồng…

“Mới đây nhất tôi đang viết dự án trị thủy sông Thu Bồn để cứu thị xã Hội An và thánh địa Mỹ Sơn”. Nhiều ý tưởng và dự án ông “khoe” với Chính phủ được các nhà khoa học vỗ đùi thán phục. Họ bảo ông đích thực là “khắc tinh của hà bá”.

Tuy nhiên, trong số đó đến nay mới chỉ có dự án lấp vịnh Hà Cối – Đồng Rui kéo dài từ Vân Đồn lên Móng Cái để lấn cho Quảng Ninh một bán đảo rộng gấp 1,5 lần lãnh thổ Singapore là đang nhận được hưởng ứng nhiệt tình của lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh.

Cuối năm 2003, Tổng hội Địa chất VN cũng tuyên bố dự án trên của ông đã được mở rộng thành dự án cấp nhà nước.

Còn lại hàng chục “công trình thế kỷ”, trong đó có “kênh đào Panama VN”, vẫn cứ nằm trên giấy. Ông không buồn bởi những dự án của ông là dự án của tương lai, có khi phải tính bằng thế kỷ, nó cũng giống như nghề trồng bonsai cổ thụ, đời này trồng nhưng đời cháu, chắt mới hưởng.

Đoạn chì đỏ là kênh nối Sebanghieng qua Rào Quán

Trong một lần góp ý văn kiện Đại hội lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng, ông nói: “Các văn bản của Nhà nước mới chỉ dám vạch ra kế hoạch 10, 20 năm tới phải làm gì là quá ngắn, chúng ta phải vạch ra những kế hoạch dài hơi hơn: 100, 200 năm mới làm được nhiều thứ cho con cháu”.

Ngày đi bỏ mối cà phê, đêm làm “vua” bản đồ

Căn phòng của ông chật cứng những cuộn bản đồ. Trong đó có những cuộn ông phải săn của người khác, mua từ nước ngoài, từ những nguồn “độc” cùng phần lớn là sản phẩm do ông vẽ. Cả đời ông đã vẽ hàng ngàn bản đồ các loại. Vẽ nhanh tới mức chỉ cần vài đường là nên chân dung một quốc gia, một lưu vực với cả hệ thống sông ngòi chằng chịt. Vẽ nhiều tới mức có cảm giác những sợi nơron thần kinh trong đầu ông cũng bị xoắn lại như những khúc cuộn liên hồi của một dòng sông!

Ông bảo: “Vẽ bản đồ là ngành khoa học chìa khóa của mọi ngành khoa học địa chất khác”.

Chính năm tháng lang bang vẽ bản đồ địa chất ông đã mò ra bản đồ của từng con sông. Ông cùng Chủ tịch nước Trần Đức Lương là hai trong nhóm tác giả vẽ và viết cuốn bản đồ địa chất đầu tiên của VN, hiện là cuốn gối đầu giường của ngành địa chất. Không chỉ trổ tài ở VN, ông còn giúp nhiều nước khác thành lập bản đồ địa chất như Lào, Thái Lan, Ân Độ…

Năm 1976, Ân Độ mời ông sang vẽ cả một vùng địa chất trong sáu tháng. Và để vẽ được một tấm bản đồ hệ thống sông, hồ cũng như nghiên cứu được tính khả thi của kênh dẫn nước Đông Dương, ông phải vẽ cả bản đồ hệ thống đứt gãy của toàn thế giới và từng khu vực.

Gần đây công việc vẽ bản đồ địa chất có nhàn hơn khi sử dụng các ảnh chụp từ vệ tinh nhưng để sở hữu được chúng ông phải đổi một khoản tiền rất lớn.

Có những công trình như kênh đào Đông Dương ông phải vẽ vài trăm bản đồ mới nghiên cứu được để sau đó hoàn thiện một bản đồ chung tổng thể. Có những bản đồ “độc” ngoài ông ra không ai có, bán giấy chỉ đáng vài ngàn song để có nó ông phải miệt mài suốt sáu tháng liền và cả quá trình trước đó.

Mặc dù đã nghỉ hưu nhưng hiện ông vẫn là viện phó Viện Địa chất – môi trường (thuộc Tổng hội Địa chất VN). Đó là công việc mất thì giờ nhưng làm vì anh em tín nhiệm. Làm được bao nhiêu ăn bấy nhiêu, Nhà nước không tài trợ. Nhiều người cứ ngỡ viện phó là to, nhưng để có tiền săn ảnh viễn thám chụp VN của Mỹ và để duy trì đời sống gia đình, suốt 30 năm qua ông tiến sĩ vẫn phải làm một nghề cả khu phố biết: mỗi ngày hai lần rang xay cà phê rồi đạp xe lóc cóc đi bỏ mối khắp Hà Nội.


“Kênh đào Đông Dương”
Có hai nghịch lý: trong khi cứ về mùa mưa dòng Mêkông hùng vĩ lại trút túi nước khổng lồ vào đồng bằng sông Cửu Long gây mất mùa, chết chóc thì ở suốt dải miền Trung từ Quảng Bình qua Quảng Trị đến Thừa Thiên-Huế, từ biên giới Việt-Lào ra biển lại khát cháy. Cho nên chặn cơn cuồng nộ của Mêkông với đồng bằng sông Cửu Long và “giải khát” cho miền Trung là bức thiết.

Và công trình của ông Quang khi loan ra đã gieo vào hàng ngàn người giấc mơ một kênh đào tương tự kênh đào Panama của châu Mỹ để kéo nước ngọt từ Mêkông chảy cắt qua dải Trường Sơn đổ tắt ra biển Đông ở ngay địa phận tỉnh Quảng Trị. (khi mà dự án thoát nước Mêkông ra biển tây gần như phá sản).

Một kênh đào Panama của VN không phải là điều viễn tưởng.

Mọi tính toán của ông Quang đều cho thấy tính khả thi của dự án: từ điểm A (1) cao 175m đến điểm B (12) cao 80m dự kiến đào con kênh dẫn – xem bản đồ – có đỉnh cao nhất tại điểm 9 là 365m thì chỉ cần hạ thấp độ cao tại 10 vị trí xuống mực 175m (bằng độ cao của làng Troại) và đắp một con đập chỉ cao 80-100m tại cửa sông Xêbănghiêng (có độ cao mực nước 135m về mùa khô) để nâng cao trình nước sông Xêbănghiêng và Mêkông lên mức 235m, thậm chí đập chỉ cần cao 60m đã tạo độ chênh lệch khiến dòng Xêbănghiêng ngoan ngoãn đổi chiều.
Mặt khác tại điểm 12 (cách làng Cát 200m) chỉ cao có 80m (điểm 13-làng Cát còn thấp hơn: 40m và đoạn kênh dẫn chạm sông Quảng Trị chỉ 14m) so với mức nước tại điểm 11 được hạ xuống còn 175-200m chênh nhau 95-120m thì một công trình thủy điện nằm trong tầm tay VN.

Chỉ cần 6-10 tỉ đôla là có được một kênh đào tay sờ mắt thấy, số tiền đó không phải nhiều nếu phải làm một công trình lịch sử nhiều lợi ích.

Trước năm 2003, nhiều nhà khoa học vẫn hoài nghi “câu chuyện thần thoại” của ông Quang, nhưng mới đây nhiều người mới ngã ngửa khi phát hiện Trung Quốc đang có dự án giống hệt dự án của ông Quang: đào hàng loạt kênh dẫn với tổng chiều dài 1.300km từ sông Dương Tử phía nam đưa nước ngược lên châu thổ Hoàng Hà khô khát phía bắc với tổng vốn đầu tư 50 tỉ đôla trong 50 năm. Ân Độ cũng đã vào cuộc với dự án vẽ lại bản đồ các dòng sông khi họ đào 30 kênh dài trên 10.000km, tốn 120 tỉ đôla, chỉ trong 13 năm để “xin” nước sông Hằng phía bắc luôn nhấn chìm cả châu thổ Bangladesh sẻ chia cho miền nam hạn hán.

Còn dự án “trị hà bá sông Mêkông”, ông vẫn đánh cược: “Nếu có ai tìm ra giải pháp tuyệt hơn thì tôi xin cầm dự án rút lui, nhưng nếu không ai hơn tôi thì tôi vẫn bảo vệ đến cùng”.

[ Đặng Thái Huyền]

🍻🍻🍻🍻🍻🍻🍻🍻🍻🍻🍻

THÓI NGỤY BIỆN CỦA NGƯỜI VIỆT


Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, đến tranh luận trên diễn đàn và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng…
Ngụy biện hay Fallacy là khái niệm để chỉ những cách lập luận tưởng chừng là đúng, nhưng thực chất lại là sai lầm và phi logic trong tranh luận. Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành đúng, và từ đúng trở thành sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.


Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện có thể cướp đi mạng sống của con người?
Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên:

  1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”
    Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”
  2. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”
    Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.
  3. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”
    Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.
  4. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”
    Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?
  5. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”
    Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.
  6. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”
    Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?
  7. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”
    Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?
  8. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”
    Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.
  9. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”
    Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm lý tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.


GS. Nguyễn Văn Tuấn

9 CÂU NÓI CỦA NGƯỜI GIÀ ĐÁNG SUY NGẪM

Câu thứ 1: đừng bao giờ mong đợi bất cứ sự giúp đỡ về mặt kinh tế nào từ người khác. Tiền, đối với ai cũng đều không đủ dùng. (Học cách cho đi).

Câu thứ 2: bạn bè giúp bạn là thiện chí, là tình nghĩa; bạn bè không giúp bạn là lẽ đương nhiên, không nên ghi thù oán hận, người ta cũng không có nợ bạn! (Học cách cảm thông).

Câu thứ 3: cần phải biết rằng không có ai bắt buộc phải giúp đỡ khi bạn cần, chỉ có tự bản thân bạn mà thôi, vì vậy, khiến bản thân trở nên độc lập, kiên cường, vui vẻ và hạnh phúc, đây mới là điều bạn nên làm, dẫu sao thì thế gian này, chỉ có mình bạn bắt buộc phải đồng cam cộng khổ, cùng sống cùng chết với bạn mà thôi, bạn hiểu chứ? (Học cách kiên cường).

Câu thứ 4: đừng nhìn giàu nghèo để kết giao bạn bè, họ có hàng trăm nghìn tỷ đồng cũng không liên quan tới một cắc của bạn, đừng tự biến mình thành kẻ nịnh hót, theo đuôi. Ngược lại, vẫn có những người dù trong tay không có gì nhưng vẫn chia sẻ với bạn chiếc bánh bao chay duy nhất. (Học cách nhìn người).

Câu thứ 5: đừng vì “bạn bè giàu có về kinh tế” mà xa lánh “bạn bè giàu có về mặt tinh thần”. Dần dần, bạn sẽ hiểu ra, những người bạn giàu có về vật chất có thể đưa bạn đi ăn chơi hưởng lạc, nhưng cũng có thể đem tới cho bạn những rắc rối, phiền phức rồi bỏ bạn lại một mình với mớ bòng bong.

Còn những người bạn thật sự, những người bạn cổ vũ bạn về mặt tinh thần có lẽ chỉ có thể đưa bạn tới những cánh đồng, những dòng suối, con sông, nơi không có rượu ngon, không có sự hào nhoáng, không có sâm panh, sàn nhảy, nhưng họ có thể cùng bạn chạy, cùng bạn cười như một tên ngốc. (Học cách tự trọng).

Câu thứ 6: có thể tin tưởng rằng trên đời này quả thực tồn tại những tình yêu đơn thuần vĩnh cửu, nhưng nó chỉ thuộc về Ngưu Lang Chức Nữ, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài hay Romeo và Juliet, bởi lẽ họ đều không sống lâu cho lắm, còn chúng ta thì ai cũng muốn sống lâu sống thọ. (Học cách trân trọng).

Câu thứ 7: bất kể bạn kết hôn vì điều gì, chỉ cần đã có con cái, bạn phải yêu cái nhà này, bất luận có xa cách, lạnh nhạt tới đâu, bạn phải có nghĩa vụ khiến nó ấm áp lên, bởi lẽ bạn là cha mẹ. (Học cách gánh vác trách nhiệm).

Câu thứ 8: thanh xuân của chúng ta chớp mắt một cái là sẽ qua, nếp nhăn cũng sẽ mỗi ngày một nhiều hơn, chúng ta không thể ngăn cản năm tháng làm phai tàn nhan sắc bên ngoài, nhưng chúng ta có thể khiến cái “tâm” bên trong của mình dần dần được mài giũa theo thời gian, giống như hạt cát bên trong những con trai, theo năm tháng sẽ dần dần trở thành viên ngọc sáng loáng, đợi tới khi chúng ta già đi, bước chân chậm chạp, ta vẫn có thể dùng sự lộng lẫy của viên trân châu thắp sáng lên đoạn hành trình cuối cùng! (Học cách trưởng thành).

Câu thứ 9: đừng chấp niệm, cố chấp, đời người có rất nhiều điều không như ý, thế giới không phải lúc nào cũng chào đón bạn, trái đất cũng không phải vì bạn mà quay, vì vậy đừng quá cố chấp muốn có được thứ gì đó, ngay cả bản thân chúng ta cũng chỉ là người qua đường trong cõi hồng trần, đến với thế giới bằng hai bàn tay không, vậy ra đi rồi còn có thể đem theo cái gì? (Học cách buông bỏ).

Những câu chuyện thú vị

Gia Nguyễn chia sẻ từ trang Những câu chuyện thú vị

N i ệ m K h ú c T h á n g T ư

Tháng tư
ta mất nửa đời
Chia em cơn khát vọng lời
nguyện ca

Tháng tư
nẻo cũ còn xa
Biển xanh dậy sóng
lòng tha phương người

Tháng tư
vỡ một tiếng cười
Rơi trên suối nắng
ngậm ngùi vong xưa

Tháng tư
khuất bóng cơn mưa
Trùng trùng huyệt mộ
tiễn đưa phận Kiều

Tháng tư
khuyết những cung chiều
Môi tìm môi
nụ xuân tiều tụy xuân

Tháng tư
duyên khởi trầm luân
Não nùng đá sỏi
rưng rưng cuộc người

Tháng tư
đỏ rực góc trời
Lên men
thối rữa một thời tháng tư

Vầng trăng phố lạnh
phù hư
Hồn oan gào thét
rên gừ gọi nhau

Tháng tư
rệu rã cơn đau
Xác người rũ rượi
trước sau vật vờ

Tháng tư
tĩnh thức cơn mơ
Trả treo con gió
mịt mờ Tháng tư…

Trần Đức Lập.