QUYẾT ĐỊNH BỞI CHÍNH SÁCH

Dù ở bất cứ bang nào của Mỹ từ Californhia, Florida, Georgia, Pensyvanhia, Maryland… gã hứng thú nhất là tới các làng nghề nông. Nông dân đúng là các quý ông, quý bà, họ ở trong các biệt thự rộng lớn giữa triền cỏ xanh mướt, những thảm hoa muôn màu và những cây rợp bóng. Họ lái xe hơi xịn và đến các trung tâm, các câu lạc bộ thưởng thức nghệ thuật, mùa nông nhàn họ đi du lịch khắp thế giới…

Gã có thể khẳng định mà không ngượng mồm rằng nước Mỹ thực sự là thiên đường của hơn hai triệu nông dân Mỹ.

Nhìn những biệt thự giữa bát ngát thảm cỏ và hoa, gã mơ có một cô nàng xứ Việt ở đó, dừng chân, gã bảo: cho anh một chân chăn bò hoặc một tay hái táo được không em?

Có được cuộc sống sung túc hạng nhất thế giới là nhờ với khoảng hơn 2 triệu nông dân chiếm 0,7% tổng số lực lượng lao động của toàn nước Mỹ lại có 2,109,363 nông trại, trung bình mỗi nông trại có diện tích 174 héc ta. Và họ đã làm ra tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp gần 500 tỷ đô la Mỹ.

Có nghĩa là chỉ với hơn 2 triệu ông bà nông dân Mỹ đã làm ra tổng sản phẩm tương đương cả nền kinh tế VN – đất nước 100 triệu dân – làm ra.

Vì sao?

  1. CHÍNH SÁCH
  • Chính phủ đã ban hành Luật Đất đai vào năm 1862 quy định phát không đất đai cho những người đến sống và làm việc trên các mảnh đất trống tại miền Tây nước Mỹ, tạo điều kiện cho nông dân được định cư, lập nghiệp dễ dàng.

Năm 1914, Quốc hội Mỹ lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông nghiệp.

Cơ quan này gồm các chuyên gia giỏi nhất Mỹ tư vấn cho nông dân quy trình khoa học, công nghệ từ bước sử dụng phân bón cho đến các khâu sau của quy trình sản xuất nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cho ra đời những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại.

  • Năm 1929, tổng thống Herbert Hoover thành lập Ban Nông nghiệp liên bang nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho nông dân.
  • Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt cho phép thực hiện một hệ thống trợ giá cho nông dân một mức giá gần bằng giá lúc thị trường ở điều kiện ổn định bình thường.
  • Đồng thời, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1996, chính phủ cho nông dân vay tiền canh tác, nông dân có quyền trả nợ theo giá quy định trong hợp đồng. Cụ thể là vào những thời điểm sản xuất dư thừa, nông dân bán sản phẩm cho chính phủ, còn vào lúc giá nông phẩm cao, nông dân có quyền bán sản phẩm cho các công ty kinh doanh lương thực để tăng lợi tức.
  • Ngoài ra, chính phủ còn đề ra chính sách bảo tồn, dưỡng đất dự trữ. Sự can thiệp với quy mô lớn vào ngành nông nghiệp Mỹ được kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990.
  • Hiện nay, chính phủ đang chú trọng đến xuất khẩu nông sản, và đặc biệt quan tâm đến tính vững bền của lực lượng lao động nông nghiệp.
  • Thượng viện vừa thông qua dự luật di dân nhằm mục đích bảo đảm có đủ số công nhân cần thiết cho nền nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa gặt hái, chăn nuôi gia súc, và sản xuất nông phẩm cần thiết cho xuất khẩu. Đạo luật này cũng mở đường cho những người làm việc trong ngành nông nghiệp Mỹ mà chưa có giấy tờ hợp lệ được phép nhập cư vào Mỹ.

Chính nhờ các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả này đã mang lại cho ngành nông nghiệp Mỹ một kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.

  1. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ RẤT CAO

Nước Mỹ đặc biệt nhấn mạnh đến việc cơ giới hóa các phương tiện canh tác, sử dụng máy móc thay thế cho sức người và sức súc vật.

  • Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Việc cơ giới hóa máy móc không chỉ đơn thuần là tăng số lượng máy móc trên cánh đồng mà còn chú ý đến thực hiện kết hợp các tính năng để tạo ra các máy liên hoàn, kết hợp máy kéo với máy cày, máy gieo trồng, máy gặt.

Hay các sáng kiến về các loại máy móc có thể canh tác được ở những vùng đất cứng mà sức người khó có thể làm được. Hầu như mọi hoạt đông trong sản xuất nông nghiệp đều thực hiện bằng máy móc, từ làm đất, gieo trồng, bón phân, tưới tiêu đến gặt hái. Nông dân còn dùng máy bay để phun thuốc trừ sâu, dùng máy điện toán đề theo dõi kết quả thu hoạch.

Với diện tích đất canh tác rộng lớn nên việc áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã khiến cho năng suất lao động tăng mạnh.

  1. PHẨM CHẤT VÀ LÒNG TỰ TRỌNG CÔNG DÂN CAO

Nông dân Mỹ được trang bị các phẩm chất công dân và lòng tự trọng cùng ý thức tôn trọng pháp luật cao. Với họ danh dự công dân luôn đặt lên hàng đầu nên không cho phép mình sản xuất ra sản phẩm kém chất lượng và độc hại.

Điều này ở nông dân VN đang là điều xa xỉ.

Vâng… buồn và đau thay khi nhìn lại tổng thể nền nông nghiệp, nông dân, đời sống nông thôn của nước nhà hiện nay.

Khi: Năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam luôn thấp nhất trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp.

Theo thông tin từ Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), giá trị gia tăng nông nghiệp trên mỗi lao động của Việt Nam hiện đạt chưa tới 400 USD/người, thấp hơn cả Lào và Campuchia.

Câu trả lời chỉ có thể tìm ra từ CHÍNH SÁCH.

fb: Lưu Trọng Văn

Dạy thêm – học thêm do đâu?

Muốn dẹp được nạn dạy thêm, học thêm thì điều tiên quyết là phải chỉ ra được nguyên nhân đã sản sinh ra nó.

Ảnh: VNExpess
  1. Chương trình nặng?

Đây là nguyên nhân được nhiều người nêu ra, với lý do rằng vì chương trình quá nặng, phải học thêm thì mới hoàn thành được, bằng không nếu chỉ học trên lớp thì chỉ là cưỡi ngựa xem hoa.

“Theo số liệu năm 2009, thời gian học trung bình của học sinh từ 7 – 15 tuổi (tương đương từ lớp 1 – 9) ở các nước thuộc nhóm Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khoảng 7.390 giờ (60 phút/giờ). Trong khi đó, theo chương trình 2006, học sinh Việt Nam từ lớp 1 – 9 chỉ học khoảng hơn 5.600 giờ; còn theo chương trình mới 2018, thời gian chỉ tăng lên được chút ít là gần 6.200 giờ, nghĩa là còn thấp khá nhiều so với thời gian học của HS các nước OECD” (Dẫn theo báo Thanh Niên). Vậy là nặng hay không nặng?

Nội dung chương trình giáo dục của Việt Nam không phải nặng mà là khô cứng, cách dạy thì nhàm chán, máy móc, nặng tính văn mẫu… Chính tính chính chất này mới làm cho học sinh chán học, mệt mỏi, không tiếp thu tốt; và vì thế lại càng phải dùng nhiều biện pháp để bắt thuộc bài, dẫn đến đã chán càng chán hơn, thậm chí dẫn đến phản ứng tiêu cực từ các em.

Như vậy, cái cần thay đổi không phải là cắt giảm dung lượng, thời lượng mà là xây dựng nội dung bài học sao cho hấp dẫn, mang tính khai mở; có phương pháp giảng dạy và tổ chức hoạt động giáo dục lôi cuốn, kích thích tư duy…

Nay chương trình mới, như đối với cấp Tiểu học chẳng hạn, đã được thiết kế 2 buổi/ngày. Mục đích là buổi 2 dành cho các hoạt động thể chất, nghệ thuật, năng khiếu, trải nghiệm…, nhằm giúp các em cân bằng và phát triển hài hòa. Nhưng phần lớn các nhà trường đã không những không thực hiện yêu cầu tối quan trọng này mà thay vào đó, họ đưa các trung tâm hay các giờ học thêm vào chiếm chỗ, biến thành học thêm để thu tiền. Do đó, vấn đề là lập lại kỷ cương để các em được thụ hưởng một nền giáo dục thực chất, tử tế và phát triển hài hòa.

  1. Do thi cử?

Đúng, thi cử nặng nề cả về nội dung lẫn sự khốc liệt trong “tỉ lệ chọi” đã dẫn đến một cuộc đua và đẩy học sinh vào con đường học thêm. Tuy nhiên nếu quan sát chi tiết hơn thì sẽ thấy điều này không đúng cho tất cả.

Ví dụ như đối với học sinh Tiểu học, đâu có thi cử gì, nhưng chính ở cấp học này nạn học thêm dường như lại trầm trọng nhất.

Áp lực thi cử chủ yếu là đối với học sinh lớp 9 chuyển cấp lên lớp 10 và học sinh 12 thi vào đại học. Chúng ta biết rằng, thi vào lớp 10 công lập là một mục tiêu to lớn của cả học sinh và phụ huynh thành phố, vì áp lực tài chính nếu học trường tư; nhưng câu chuyện công/tư chủ yếu là vấn đề đối với các đô thị lớn chứ nông thôn thì cơ bản không có áp lực này. Trong khi đó, tỉ lệ dân số giữa nông thôn và thành thị của Việt Nam hiện tại là 2/1, tức nông thôn gấp 2 lần thành phố. Tuy nhiên, như chúng ta đang thấy, nạn học thêm không chừa bất cứ đâu. Ở thành phố lớn khốc liệt hơn là bởi mật độ dân số cao hơn chứ không có nghĩa là nông thôn không bát nháo.

Thi cử và văn hóa thi cử ở Việt Nam “đang có vấn đề”, và nó cần được cải cách mạnh mẽ. Tuy nhiên nếu nói rằng nó là nguyên nhân chính dẫn đến nạn dạy thêm, học thêm thì lại thiếu thuyết phục. Thời tôi đi học cách đây 20 năm thì thi đại học rất khó, nhưng mươi năm trở lại đây, trừ những trường top, thì bắt đầu…“rớt khó hơn đậu”! Cứ đến mùa tuyển sinh là các trường đại học lại cử người đi nô nức mời chào khắp các trường phổ thông, gọi là “tư vấn tuyển sinh”. Chưa bao giờ các trường phổ thông lại oách đến thế so với đại học!

Cách đây chưa đầy 10 ngày, có lẽ tất cả chúng ta còn nhớ, khi hàng loạt tờ báo đăng nội dung “Học sinh giỏi từ chối vào đại học, đi xuất khẩu lao động mong đổi đời”. Rồi trước đó ít ngày, Bộ Giáo dục công bố một con số gây sửng sốt “Gần 118.000 thí sinh đỗ đại học nhưng bỏ nhập học”. Phải thừa nhận rằng “Thời vàng son” của giấc mơ đại học đã đi qua.

Phần trên là nói về Tiểu học và THPT, giờ quay trở lại với THCS (lớp 9). Cái áp lực thi vào công lập là do đâu? Do thiếu trường. Vậy giải pháp đơn giản là xây thêm trường. Nhà nước không thể phó mặc cho dân tự bơi tìm trường trong khi trường lớp thiếu nghiêm trọng như hiện nay. Một mình Hà Nội mà “Hơn 33.000 học sinh Hà Nội trượt lớp 10 công lập” thì hỏi tại sao cuộc chiến không khốc liệt? Cho nên, vấn đề không phải chỉ ở câu chuyện thi cử, mà phía sau nó và quan trọng hơn là chi đầu tư cho giáo dục. Nếu vẫn thiếu trường mà học phí tư thục thì chót vót, dù có cải cách thi cử cách nào cuộc chiến vẫn sẽ vô cùng cam go. Và hơn thế, nếu con bạn đậu được công lập thì con người khác sẽ phải văng ra, chúng ta cần sự bình đẳng trong thụ hưởng giáo dục chứ không phải chỉ là chiến thắng lẫn nhau.

  1. Vì thành tích của nhà trường?

Có, và khá nặng, nhất là đối với những trường THPT chuyên, trường chất lượng cao. Nhưng các trường phổ thông bình thường thì không hoặc không đáng kể. Họ không mấy bận tâm đến thành tích, chỉ miễn là học sinh tốt nghiệp được, và em nào vào đại học thì mừng, chứ không ham hố câu chuyện thành tích, vì họ cũng thừa biết rằng chẳng lợi lộc gì cho mình. Những giáo viên nào từng dạy cả trường chuyên và trường phổ thông bình thường thì thấy rõ sự khác nhau một trời một vực này. Dạy “trường làng” sướng hơn nhiều, dù thu nhập sẽ thấp hơn. Mà cả nước thì được bao nhiêu trường chuyên? Chúng ta cứ từ đó mà suy.

  1. Vì tiền?

Theo tôi, đây mới là nguyên nhân chính. Nếu vì chất lượng, vì sự phát triển của học sinh thì các nhà trường sẽ thực hiện đầy đủ và hiệu quả chương trình Giáo dục Quốc dân. Ví dụ, đối với tiểu học quy định học 2 buổi/ngày với buổi 2 là các nội dung thể dục, thể thao, nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm, thì nhà trường phải tổ chức cho các em, nhưng đây không, họ đem thời gian ấy của các em bán lại cho các trung tâm để chia lợi nhuận.

Bên cạnh đó là ép học sinh học thêm bằng đủ các mánh khóe chiêu trò, như viết đơn tự nguyện, chèn vào giờ chính khóa, đưa tiết chính khóa cài vào buổi học thêm, trả bài chính khóa trong buổi học thêm, phân biệt đối xử, cố tình gây khó dễ bằng điểm số; liên kết với bên ngoài và gắn những cái tên rất kêu như STEM, STEAM, Tin học Quốc tế, Tiếng Anh Bản ngữ, Kỹ năng sống, v.v..

Nếu vì chất lượng giáo dục thì nguyên tắc cơ bản là anh phải thực hiện hết trách nhiện để đạt hiệu quả mà chương trình chính khóa đã đề ra; còn lại, em nào có nhu cầu thật sự thì mới tổ chức dạy thêm, nhưng đây anh dùng thủ đoạn để ép tất cả phải đi học, thì nếu không phải vì tiền thì là vì cái gì?

Để kết thúc, tôi xin nhắc lại cái ý mà tôi đã lặp đi lặp lại nhiều lần: không ai cấm dạy thêm cả, nhưng phải tuyệt đối cấm dạy thêm trong nhà trường và cấm giáo viên đang làm việc trong hệ thống giáo dục công tổ chức và dạy thêm. Đây là biện pháp ngăn ngừa có tính nguyên tắc mà bất cứ một xã hội nào nếu muốn quản trị được thì cũng sẽ phải thực hiện. Còn các giáo viên nếu muốn dạy thêm thì phải ra khỏi hệ thống giáo dục công và tự do hành nghề bằng cách mở trung tâm hay tự dạy ở nhà, thì tùy. Tôi xin hết lòng ủng hộ và sẵn sàng gửi con mình đến học nếu các vị dạy tốt và cháu có nhu cầu.

Chú thích: OECD bao gồm – Úc, Áo, Bỉ, Canada, Cộng Hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ai Xơ Len, Ai Len, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxemburg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Slovakia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ.)

Thái Hạo

MỘT BÀI THƠ KHÔNG TÊN

Tác giả: cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

P/s:
Bài thơ trên là của Martino Nguyễn văn Thiệu.
Một lần ra tận chiến trường Quảng Trị khốc liệt, Tổng Thống đã đến Nhà Thờ La Vang đổ nát để cầu nguyện. Sau đó, Tổng thống đã viết vào quyển nhật ký của Ngài bài thơ trên.

* Theo trang Văn chương miền Nam

Ông Nội

Bin leo lên chiếc Spacy của mẹ, hí hửng khoe: – Cô giáo treo tranh Bin lên tường.

– Cưng mẹ vẽ gì?

– Nhà bố ở quê. Có cây cau, đụn rơm, gà mẹ dẫn con đi kiếm ăn, con mèo nằm sưởi nắng, cu Mót ngồi chơi.

– Ai bảo thế?

– Ông nội

Mẹ cau mặt, lảng qua chuyện khác:

– Bin thích mẹ thưởng gì?

– Thuốc lào.

– Gì cơ? mẹ sửng sốt.

– Thuốc lào để Bin thưởng ông nội.

Xe dừng trước cổng, Bin chạy vào réo: – Ông ơi! Cháu được cô giáo treo tranh lên tường. Tranh vẽ nhà bố ở quê đấy!

Nó tìm ông khắp nơi nhưng không thấy. Thường ông đợi nó từ ngõ cơ mà!

– Ông đâu? Nó hỏi chị Hai. Chị im lặng.

– Gối này của ông, Cu Bin cúi nhặt chiếc gối trong đống đồ chị Hai đang dồn đống trước phòng. Lạ chưa, phòng ông dọn sạch đồ đạc, xịt mùi nước hoa thơm lừng đuổi mùi Ϯhυốc lào quen thuộc.

– Ông đâu mẹ?

– Ông ốm đi Ьệпh viện.

– Chở Bin vào thăm ông.

– Vào đó bác sĩ chích!

– Thế Bin chơi với ai? – Bin mếu máo.

– Bin chơi với con robot mẹ mới mua. Đẹp lắm!

Bố đi làm về, Bin níu áo:

– Bố biết ông đâu không?

– Ông về quê.

Ngẫm nghĩ, Bin bảo: “Ông đi tìm cu Mót”.

Bin đếm một mạch từ một đến trăm.

– Ai bày Bin thế?

– Ông.

Bin đọc: “Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

– Ai dạy Bin thế ? – mẹ ngạc nhiên.

– Ông.

Bin vẽ một bức tranh trong đó ông nắm tay cu Mót. Vẽ xong, Bin bảo: “Ông ra đi! Bin đã tìm cu Mót cho ông rồi kìa!”.

Ông và Bin đều ham coi tivi nhưng ông thích cải lương, Bin thích hoạt hình. Chiều nay đang coi hoạt hình, Bin đứng dậy nhìn ra cổng gọi lớn: “Ông về đi! Bin nhường ông coi cải lương đấy”.

Bin ngủ nhưng bố mẹ đêm thao thức.

Mẹ hỏi: “Cu Mót là ai mà con nhắc hoài vậy?”.

Giọng bố đều đều như tiếng mưa rơi từ dĩ vãng:

“Cu Mót ra đời trong đói khổ. Ăn củ khoai, hạt lúa mót mà tượng hình nên đặt là cu Mót. Nghèo mà sáng dạ. Nghe gì là nhớ. Nhìn qua là biết. Thấy con thông minh, bố mẹ quyết cho học chữ. Mùa đông cha cõng đi học. Mùa nước nổi, mẹ đẩy thúng qua mương. Có gì các chị cũng nhường. Ai cũng làm gấp đôi để dồn sức cho cu Mót học. Học hết trường làng, qua trường huyện, lên thành phố… Học hết mồ hôi nước mắt, tiền của cha mẹ rồi đi làm, lấy vợ và xù!” – bố chua chát.

– Anh kể… ai thế?

“Cu Mót lấy vợ giàu. Vợ thích cái gì cũng sang, sạch, hiện đại. Ông bố chồng như cái bát sành sứt cũ kỹ muốn quẳng cho khuất mắt…

Giọng anh ʋút cao nhọn hoắt như đâm kim vào lòng rồi trầm lặng như đá chặn ngực.

– Mai tôi đem cu Mót về cho bố. Tôi không muốn thằng Bin lớn lên lại thành cu Mót đi lạc và tôi lại đi tìm nó như cha”…

Ngày đông có nắng ốm. Bát sành sứt, bình vôi mẻ chụm lại trên băng đá hong nỗi buồn. Cái mốc meo. Cái phai nhạt. Cái còn tươi rói. Họ giống nhau ở đôi mắt mờ đục mà cái nhìn hong hóng như trẻ thơ, đậu ở cổng ngóng phép lạ. Phép lạ hiếm mà niềm đau thì khối! Mỗi niềm chạm tay vào cổng để lại một vệt thế là dày cộm, mở ra, khép lại đều rướm мάu. Nỗi buồn của Thi cάп bộ chσáпg một vạt sân. Lão ở đây đã bảy mùa lá rụng. Có năm người con thành đạt ở nhiều ngành. Các con dỗ cha bán nhà chia vàng, thay phiên phụng dưỡng cha.

Được đôi năm xem cha như cục nợ, đùn đẩy, gây gổ, cҺửι mắng. Cuối cùng không chịu nổi cảnh ấy, lão đi lang thang rồi vào trung tâm nuôi dưỡng người già. Lão nói năng, kể chuyện hay nhất đám, lại từng làm cάп bộ, có con cάп bộ nên gọi là Thi cάп bộ. Lão có ý định góp nhặt những thước phim buồn của 300 bi kịch nhờ ai đó chấp bút thành quyển Tam bách bất hiếu thời hiện đại.

Ông lão mới vào không kể gì ngoài chuyện thằng cháu. Dường như lão ở đây mà quả tιм móc để đằng cháu, dõi theo từng giờ. Giờ này cháu tôi đi học về. Giờ này có phim hoạt hình. Giờ này cháu tôi ăn cơm. Nó biết chan canh cho tôi vì tay tôi run làm canh đổ… Đôi mắt tèm nhẹp hấp háy của lão lưng rưng lướm rướm khi nhắc cháu. Riết rồi cháu lão thành cháu cả nhóm. Lão rỉ rả kể, bình sứt bát mẻ gật gù nghe. Chuyện nó đòi mẹ đẻ con bồ câu. Chuyện hai ông cháu lén nuôi con mèo…

Phép lạ hiện ra ở cổng khi ba người xuất hiện. Thi cάп bộ gào to: “Con cháu ai vào thăm kìa!”.

Nghe chữ cháu, ông lão như có điện xẹt qua tιм. Ông nhìn ra và không tin ở mắt mình.
Thằng Bin chạy trước, vừa chạy vừa réo: “Ông nội ơi, Bin tới đón ông nội về!”. “Cu Mót” theo sau. Sau nữa… vợ thằng cu Mót!

Ông lão nhắm mắt lại. Phải chăng đây là giấc mơ ngày?

“Mở mắt ra ông! Bin nè?”.

Ông lão mở mắt ôm chầm lấy cháu vừa cười vừa mếu: “Lớn mà khóc cô giáo không cho phiếu bé ngoan đâu đấy!”. Rồi nhìn quanh, Bin nhận xét: “Trường ông nhiều ông, còn trường cháu nhiều cháu”.

Quay qua những bạn già đang nhìn cảnh ấy với đôi mắt mừng lẫn tủi, ông lão giới thiệu: “Đây là cu Bin!”. Cu Bin dễ tҺươпg đến nỗi ai cũng muốn sờ đôi má mịn như nhung, nhìn vào đôi mắt trong veo như giếng và nghe tiếng bi bô nói cười khua động chốn lạnh lẽo buồn thiu. Đang đầu đông mà vui như tết. Cả ông giám đốc cũng bảo mấy mươi năm rồi mới có cảnh vui thế này!

Cũng đã lâu lắm rồi, cάпh cổng trung tâm mở ra, khép lại mà không rướm мάu..

(Lượm lặt)

3 VẾT LÕM NGHIỆT NGÃ TRÊN BẢN ĐỒ VIỆT NAM

Khi nhìn vào bản đồ đất nước, hầu hết chúng ta nói Việt Nam có hình chữ S. Tuy nhiên đó chỉ là hình dáng tương đối của đường bờ biển. Biên giới trên bộ của chúng ta có hình dáng phức tạp hơn nhiều.

Đường biên giới được hình thành cơ bản trong thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam tuỳ theo các yếu tố như địa hình, dân tộc. Sẽ chẳng có gì để nói hay bàn tán nếu không có 3 vết lõm khoét xâu vào lãnh thổ nước ta một cách vô lý và nghiệt ngã…

Đầu tiên là vết lõm gần điểm cực bắc nước ta. Đó là Tụ Long có diện tích khoảng 1000km2. Tụ Long thuộc vào lãnh thổ Đại Việt từ thời Nhà Lý. Chợt nhìn thì thấy đây giống như vùng đất xa xôi, không quan trọng. Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến, đây là vùng đất trù phú, thịnh vượng do giàu có tài nguyên, nhất là về đồng, bạc và ngân sa. Có thể nói không ngoa, đây chính là “kho của” ở vùng biên cương của các triều đại phong kiến Việt Nam.

“Đồng Tụ Long, Thiếc sông Ngâu
Tiền rừng, bạc bể kể đâu sánh bằng!”

Câu ca dao từ Thế kỷ 17 chính là sự khẳng định cho sự giàu có của vùng đất này.

Không chỉ vậy, đây còn là vùng hiểm yếu trong tuyến phòng thủ phía bắc. Bởi vậy cho nên năm 1979 trong chiến tranh biên giới phía bắc thì vùng Vị Xuyên nằm liền kề Tụ Long chính là 1 trong những chiến trường ác liệt nhất trong toàn cuộc chiến và còn kèo dài ngót nghét cả chục năm về sau.

Đáng buồn, sau khi hoàn tất việc xâm lược Việt Nam thì Pháp đã cắt Tụ Long cho Trung Quốc theo Công ước Pháp Thanh 1887.

Vết lõm thứ 2 nằm giữa Tây Bắc và Bắc Trung Bộ mà cụ thể là nằm giữa 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An. Hiện đây là tỉnh Hủa Phăn của Lào.

Tỉnh này cùng với Xiang Khoang và Xaisomboun (Trấn Ninh) có diện tích gần 50.000km2 thuộc Việt Nam từ thời Lê Sơ. Trong hơn 400 năm liên tục đây là vùng đất quan trọng trấn giữ biên cương phía tây nước ta khỏi sự quấy nhiễu của các Tiểu quốc người Thái.

Lấy lý do địa hình thì năm 1888 Pháp đã tách Trấn Ninh cùng dải đất dài chạy dọc theo dãy Trường Sơn (tổng diện tích gần 100.000km2, tương đương diện tích Hàn Quốc) để làm tiền đề lập ra nước Lào như ngày này. Bởi vậy có thể nói, chẳng phải Pháp chia Việt Nam ra thành 3 kỳ mà là họ chia chúng ta ra làm 4 trong đó có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào.

Vệt lõm thứ 3 khoét sâu vào lãnh thổ phía nam, cách Sài Gòn chỉ 1 tiếng đi xe là Tuy Lạp, nay là tỉnh Svay Rieng của Campuchia có diện tích khoảng 3000 km2. Vùng này vốn là 1 phần của tỉnh Gia Định trong Nam Kỳ lục tỉnh.

Sau khi Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp, cùng với việc Bảo hộ Campuchia, năm 1870 chính quyền Pháp ở Nam Kỳ cùng với triều đình Campuchia do Norodom I đứng đầu đã phân chia biên giới khiến Việt Nam mất hẳn vùng Mỏ Vịt Tuy Lạp (Svay Rieng ngày nay và dải đất dài chạy theo kênh Vĩnh Tế.

Vậy là sau các hiệp ước chia tách, hình dáng Việt Nam được hình thành như ngày nay với 3 vết lõm nghiệt ngã khoét sâu vào lãnh thổ.

(Từ Tú)