VĨNH BIỆT TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH, NHÀ TÌNH BÁO XUẤT SẮC, NHÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TÀI BA !

Người ta thường nói, làm tình báo thì nhìn đâu cũng thấy địch. Nhưng đối với Nguyễn Chí Vịnh thì không, anh nhìn đâu cũng thấy tình người, anh nhìn đâu cũng thấy sự tin cậy giữa con người với con người.

NHÀ TÌNH BÁO XUẤT SẮC

Hơn 1 năm trước, anh gọi điện cho tôi, nói anh đang viết cuốn sách về người thầy của anh, tướng tình báo Đặng Trần Đức (Ba Quốc). Anh đề nghị tôi tập hợp loạt ký sự “Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng” (đăng trên Thanh Niên năm 2004) để in thành sách, anh sẽ bổ sung thông tin về hoạt động của vị tướng lỗi lạc này sau năm 1975. Anh muốn hai cuốn sách phát hành cùng một lúc để kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông Ba Quốc.

Nghe giọng nói của anh vẫn hào sảng, tôi thật sự vui mừng. Đến khi đưa bản thảo đầu tiên cho tôi xem, thấy anh không khỏe, tôi hỏi về sức khỏe của anh, anh nói anh đã bị ung thư giai đoạn cuối, đã 30 lần xạ trị. Lúc đó tôi mới biết anh đã hoàn thành cuốn sách với một nỗ lực phi thường. Anh nói, cuộc đời hoạt động của ông Ba Quốc, giai đoạn trước năm 1975 đã có cuốn sách của chúng tôi, tường thuật tương đối đầy đủ và rất ấn tượng. Anh muốn cho công chúng biết cuộc đời hoạt động của ông Ba Quốc từ sau năm 1975 cũng lừng lẫy không kém gì giai đoạn trước năm 1975 nhưng công chúng chưa hề biết. Anh nói hai cuốn sách sẽ bổ sung cho nhau.

Sinh thời, ông Ba Quốc không muốn cho truyền thông biết về cuộc đời của ông. Nhờ có anh “bảo lãnh”, chúng tôi mới được ông Ba Quốc đồng ý cho viết. Nhưng sau năm 1975, hỏi ông làm những gì thì ông không nói. Nhờ cuốn sách của anh mà lần đầu tiên công chúng mới biết một cách có hệ thống toàn bộ cuộc đời của nhà tình báo bí ẩn này. Cuốn sách không chỉ là sự tưởng nhớ của người học trò xuất sắc đối với người thầy kiệt xuất, mà còn gián tiếp nhắc nhở đồng đội anh và các thế hệ những người làm tình báo mai sau, rằng làm tình báo phải kiên trung chính trực, một tin tức sai là gây hại cho nước, cho dân không thể sửa chữa, rằng những kẻ háo danh không thể làm tình báo được, rằng làm tình báo mà không có tình quân dân, không có tình đồng đội, vì “khẩu vị” của cấp trên mà bẻ cong sự thật thì trước sau gì cũng phản trắc. Cuốn sách của anh cũng góp phần lưu giữ, lưu truyền những di sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật chính trị – quân sự VN.

Anh là con trai duy nhất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Khi cha anh qua đời, anh còn thơ dại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo rất quan tâm đến anh. Anh đã trưởng thành trong lòng yêu thương ấm áp đó. Là “hạt giống đỏ”, nhưng anh không dựa dẫm để được thuận lợi thăng tiến, mà chỉ “dựa dẫm” vào các vị lãnh đạo để xin được ra chiến trường, để đến nơi gian khổ nhất. Chưa đủ tuổi, anh đã “khai gian” tuổi để đi vào chiến trường và trưởng thành trên mặt trận thầm lặng nhưng hết sức cam go của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu đất nước. Sau nhiều năm trui rèn cùng người thầy Ba Quốc trên chiến trường Campuchia đánh đuổi bè lũ diệt chủng Pol Pot, anh trở thành Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo quốc phòng. Giúp ban lãnh đạo đất nước điều chỉnh đường lối chiến lược, bảo đảm ổn định chính trị và tăng khả năng phòng thủ của đất nước, có sự đóng góp quan trọng của Tổng cục Tình báo quốc phòng do anh làm Tổng cục trưởng.

Cùng với tướng Ba Quốc, người thầy của anh, anh là người có công lao đặc biệt trong việc triệt phá hệ thống gián điệp dày đặc được sự tiếp tay của các nước lớn, giúp củng cố chính quyền nhân dân Campuchia và giúp đất nước này hồi sinh sau họa diệt chủng, bảo vệ vững chắc biên giới phía nam của Tổ quốc và là người chỉ huy các điệp viên anh hùng thế hệ mới.

NHÀ CHIẾN LƯỢC TÀI BA

Khi trở thành Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh được thế giới biết đến là một nhà quân sự kiên định nhưng mềm dẻo, không né tránh những vấn đề gai góc trong quan hệ quốc tế. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh là người tham mưu quyết liệt với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng triển khai xây dựng, đưa Cảng Cam Ranh vào hoạt động, là người được giao khởi thảo Chiến lược quốc phòng VN, cẩm nang để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chính sách quốc phòng “4 không” và “1 tùy”, nay trở thành một chính sách được công khai trong Sách trắng quốc phòng, ra đời từ sự đề xuất của anh.

“4 không” là: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ VN để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

“1 tùy” là: Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Như một kiến trúc sư của sự hợp tác an ninh trong khu vực, tướng Nguyễn Chí Vịnh đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM Plus) đầu tiên tại Hà Nội vào năm 2010. Anh đã không mệt mỏi thúc đẩy đối thoại, bồi đắp lòng tin giữa các quốc gia trong nỗ lực hóa giải những thách thức đối với khu vực.

Một trong những thách thức lớn nhất trong 12 năm tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là vấn đề Biển Đông. Với sự nhạy bén cố hữu của một nhà hoạt động tình báo, anh đã có đóng góp quan trọng cho ban lãnh đạo đất nước và Bộ Quốc phòng ứng phó với những vấn đề địa chính trị phức tạp để bảo vệ thành công mọi lợi ích của VN tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình.

MỘT NGƯỜI LÍNH ĐẾN CUỐI ĐỜI

Từ lời dặn của cha anh muốn anh thành một “binh bét” trong quân đội, anh đã sống, chiến đấu và làm việc không mệt mỏi cho đến cuối đời với tư cách một người lính, chính trực và liêm chính. Anh được đồng chí, đồng đội và học trò yêu thương kính nể, dù anh ở cương vị nào, dù đương chức hay đã về hưu.

Sức khỏe không cho phép anh kịp làm những gì anh còn nung nấu. Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, ngoài viết cuốn sách Người thầy, anh còn cùng với gia đình xây dựng bảo tàng Nguyễn Chí Thanh. Là một bảo tàng về một vị đại tướng kiệt xuất lừng danh của đất nước, nhưng đây là một bảo tàng ngoài công lập. Anh nói: “Các thành viên trong gia đình đóng góp để xây dựng bảo tàng với quy mô tối thiểu, không thu tiền bên ngoài hay xin kinh phí từ Nhà nước. Về chức năng của bảo tàng, gia đình cũng không có ý định tôn vinh thêm về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà chỉ kỳ vọng bảo tàng sẽ đóng góp nguồn tư liệu quý về lịch sử của đất nước và quân đội”. Bảo tàng đã mở cửa thử nghiệm đón khách vào tháng 7 vừa rồi và dự kiến sẽ chính thức khai trương vào ngày 1.1.2024 nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng, nhưng anh đã không đợi được tới ngày đó.

Tôi không có nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng tôi không bao giờ quên được sự tin cậy của anh dành cho tôi. Đó là khi anh làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2, đã “xúi” chúng tôi viết những loạt bài về các nhà tình báo, anh đã không xem trước khi báo đăng, sau khi báo đăng anh gặp tôi, chỉ nói vui: “Nhờ anh mà tôi tuyển tình báo rất dễ”. Người ta thường nói, làm tình báo thì nhìn đâu cũng thấy địch. Nhưng đối với Nguyễn Chí Vịnh thì không, anh nhìn đâu cũng thấy tình người, anh nhìn đâu cũng thấy sự tin cậy giữa con người với con người.

Xin vĩnh biệt anh. Nhưng anh không bao giờ chết trong lòng đồng đội, không bao giờ chết trong lòng những người làm báo chúng tôi.

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên báo Thanh Niên

NGƯỜI VƯỢT LẰN RANH ĐỎ ĐƯA BS TRẦN ĐÔNG A TỪ TRẠI GIAM VỀ BV NHI ĐỒNG 2.

Gs.Bs. Trần Đông A, trước 1975, ông nguyên là Thiếu tá quân y VNCH; sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 2 năm. Cải tạo về, ông vượt biên và bị bắt giam…

Ông Võ Văn Kiệt lúc đó là Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đã tới thăm ông trong trại để mời gọi ông ở lại làm việc với lời hứa

“Sau 2 năm làm việc mà Bs thấy không ổn thì tôi sẽ tạo điều kiện giúp Bs đi bằng đường chính thức”.

Ngay sau đó Bs Thiếu tá Trần Đông A nhận lời mời về Bv Nhi Đồng 2 và được mọi người tạo điều kiện để Bs tự do thực hiện chuyên môn của mình. Bs Trần Đông A đã mang hết tâm lực đêm ngày thăm khám và chữa cho các bệnh nhi và Bs đã không còn có thời gian để nghĩ tới “ra đi”.

Cho tới lúc có ca mổ song sinh Việt & Đức, hai bác sỹ quân y VNCH làm trưởng – phó ca mổ, là Bs Trần Thành Trai nguyên Đại úy quân y VNCH và Bs Trần Đông A tiến hành ca mổ. Ca mổ tách hai bé Việt – Đức thành công đã làm cho cả thế giới tôn vinh và ghi tên ông vào lịch sử ngành y thế giới. Sau này khi Đức lấy vợ, Bs Trần Đông A cũng tới chúc mừng !

Ông tuy đã rất lớn tuổi, nhưng vẫn đêm ngày chắt chiu từng giây phút để âm thầm nghiên cứu chuyên môn đào tạo và trau dồi kiến thức cho thế hệ kế cận.

Trước khi quyết định mổ tách Trúc Nhi và Diệu Nhi, ê kíp y bác sĩ ở bv Nhi Đồng 2 đã tới mời ông làm cố vấn trưởng cho ca phẫu thuật tách hai bé và kết quả ca mổ đã thành công trọn vẹn.

Xin cảm ơn nguyên TT Võ Văn Kiệt, người dám xóa bỏ lằn ranh đỏ ý thức hệ để tạo điều kiện cho nhân tài Việt có thể phát triển trên quê hương

Sưu tầm

Vì sao cổ nhân nói: “Cảnh giới cao nhất của đời người là cô đơn”?

Mỗi người từ khi sinh ra đã là một cá thể độc lập, không ai có thể đi cùng bạn suốt cuộc đời mà chỉ có thể bên cạnh bạn trong một khoảng thời gian nhất định, vậy nên ai cũng sẽ có những lúc rơi vào trạng thái cô đơn. Đó là một cuộc hành trình không có người đi cùng, bầu trời đêm không có sao, nó khiến người trống rỗng trở nên cô đơn, nhưng sẽ khiến người trí tuệ trở nên trầm lặng sâu sắc.

Trong “Thiên Đạo”, Trang Tử nói: “Phu hư tĩnh điềm đạm tịch mạc vô chi giả, vạn vật chi bổn dã”, nghĩa là: “Hư vô, tĩnh lặng, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là căn bản của vạn vật”. Theo quan điểm của Trang Tử, cô đơn là gốc rễ của vạn vật, và chỉ trong cô đơn, con người mới cảm nhận được cuộc sống và hiểu rõ hơn về bản thân mình.

Bởi vậy mà các nhà hiền triết cổ xưa đều cô đơn. Ở mọi thời đại, sẽ luôn có một số người đi theo trái tim mình và dành cả cuộc đời để suy nghĩ và làm mọi việc trong cô đơn, cho đến một ngày họ sẽ bình thản ra đi.

  1. Cô đơn là một nơi cao, nơi cao thì thường lạnh lẽo
    Những người đã từng đến Tây Tạng đều nói rằng trên cao nguyên phủ đầy tuyết, đối diện với những đỉnh núi nhô lên từ bầu trời và những dòng sông băng vĩnh cửu, người ta có thể trải nghiệm những giấc mơ tuyệt vời và những điều bí ẩn kinh hoàng.

Lang thang ở một nơi cao, bạn có thể tận hưởng cảnh sắc tuyệt đỉnh; sự cô đơn cũng sẽ bao vây bạn, và lúc đó bạn có thể trải nghiệm một cuộc sống khác.

Trang Tử nói: “Làm việc khi mặt trời mọc, nghỉ ngơi khi mặt trời lặn và vui chơi giữa trời và đất”.

Nếu muốn nhìn ngắm cảnh đẹp bạn phải chịu được sự cô đơn

  1. Cô đơn là một loại vô tư
    Cô đơn thường là sự lựa chọn của chính chúng ta, đó là trạng thái không chạy theo đám đông, không ghen tị với sự thịnh vượng của thế gian, cũng không tâng bốc sự hối hả và nhộn nhịp của thế giới phàm trần, chỉ cần thoải mái và bình yên với thế giới của riêng mình.

Chúng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng, đến lúc ra đi cũng không thể mang theo bất cứ thứ gì, vì vậy cuộc đời dù thế nào đi nữa cũng cô đơn.

Lương Thực Thu có nói: “Cô đơn là một loại hạnh phúc”. Cô đơn có thể khiến con người ta cảm thấy một trạng thái thanh tao và nhàn nhã, “Núi vắng đêm mưa, vạn vật đều im lặng”.

Trong “Âm tửu kỳ 5” có câu thơ: “Tâm viễn địa tự thiên”, nghĩa là “có lòng rộng mở, lánh xa cõi tục nên tự nhiên sẽ được nơi hẻo lánh yên tĩnh mà thôi”, sự cô đơn có thể cho phép chúng ta tận hưởng cuộc sống hiệu quả hơn, có thể theo đuổi sự trong sạch nội tâm và một đời sống tinh thần phong phú.

Cô đơn có nghĩa là một chuyến đi du lịch nhẹ nhàng, không để suy nghĩ của mình bị xao lãng, “đi qua ngàn bông hoa, không một chiếc lá nào chạm vào thân mình”, mọi sự gặp gỡ trong cuộc đời chỉ là cơn gió bốn mùa, sau khi trải qua phong ba bão táp thì vẫn là bản thân chân chính của ta.

  1. Cô đơn là sự tận hưởng cao nhất trong cuộc sống

Chỉ bằng cách tận hưởng sự cô đơn, bụi bẩn trong tâm hồn mới có thể được thanh lọc, sự ô uế của tâm hồn mới có thể được gột rửa và những suy nghĩ tích cực mới có thể được trau dồi. Bởi vậy tận hưởng sự cô đơn là để hiểu cuộc sống.

Trang Tử nói: “Phù du hồ vạn vật chi tổ, vật vật nhi bất vật ư vật, tắc hổ khả đắc nhi lụy da” nghĩa là “Khi lên cao, khi xuống thấp, lấy chữ hòa làm cân lượng, ngao du nơi tổ của vạn vật, xem vật là vật, mà không để cho vật xem mình là vật, thì sao mà có thể bị lụy?”.

Vào thời Tây Tấn, có một người tên là Hạ Thống ở phía nam sông Dương Tử, ông ta đọc thơ và sách rất giỏi, là người cực kỳ thông minh và có nhiều cơ hội bước vào con đường làm quan, nhưng ông lại không muốn làm quan và chỉ muốn sống cuộc đời bình dị.

Vị Thái úy Giả Sung thấy Hạ Thống tài năng như vậy nên muốn mời ông ra làm quan, nhưng Hạ Thống lịch sự từ chối.

Thái úy Giả Sung không cam tâm, liền phái một đội quân chỉnh tề cùng xe ngựa lộng lẫy đi ngang qua Hạ Thống, nhưng Hạ Thống lại nhắm mắt làm ngơ trước khung cảnh sang trọng và nổi bật trước mặt. Thái Uý lại triệu tập một nhóm mỹ nhân duyên dáng đến trước mặt Hạ Thống ca hát nhảy múa, nhưng Hạ Thống vẫn đứng yên không hề dao động.

Nhìn thấy những chuyện này, Thái Uý Giả Sung không khỏi cảm thấy khó hiểu nói: “Trên đời lại có người kỳ quái như vậy! Hắn thật sự là người gỗ, lòng làm bằng đá!”

Về sau, thành ngữ “Mộc nhân thạch tâm”, nghĩa là “Người gỗ tim đá” được dùng để diễn tả một ý chí kiên định, không bị ngoại vật lay chuyển.

Cuối đời Minh đầu đời Thanh có một quyển sách tựa là “Giải nhân di” trong đó đã miêu thuật một cách rõ ràng dục vọng của con người:

“Suốt ngày bôn ba chỉ vì cái đói, vừa mới được no liền nghĩ đến cái mặc. Cái ăn cái mặc đầy đủ liền muốn được vợ đẹp. Cưới được vợ đẹp sinh con lại hận là không có ruộng đất, ít căn cơ. Mua được ruộng vườn rộng lớn, ra vào lại giận không có thuyền đi ngựa cưỡi. Nơi chuống đầy lừa ngựa lại than không có quan chức bị người ta khinh khi. Làm được huyện lệnh chê chức quan nhỏ, lại muốn mặc áo gấm giữa triều. Nếu tâm người đời được thoả mãn, thì chỉ là giấc mộng nam kha mà thôi”.

  1. Chỉ khi chịu đựng được nỗi cô đơn thì người ta mới có thể giữ được tuổi thanh xuân
    Chỉ khi có thể chịu đựng được nỗi cô đơn thì người ta mới có được sự bình hòa, không bị bất ngờ trước sự ưu ái đặc biệt hay sự sỉ nhục tàn khốc của nhân sinh, điều này sẽ tạo nên sự khác biệt.

Chỉ khi có thể chịu đựng được sự cô đơn, bạn mới có thể tập trung lâu dài vào những điều bạn thực sự yêu thích, không đổ lỗi cho người khác, không coi thường bản thân, không thay đổi ý định, tiếp tục hướng tới mục tiêu đã đặt ra và bạn sẽ thành công.

Nhưng tất cả những người thành công thường phải trải qua một khoảng thời gian một mình mà không có sự hỗ trợ và giúp đỡ, khoảng thời gian này chính xác là giai đoạn quan trọng của quá trình vượt qua giới hạn của bản thân, giống như bóng tối trước bình minh, sau khi đi qua bầu trời sẽ sáng trong.

Chỉ khi vượt qua được sự cô đơn mới có thể giữ được tuổi thanh xuân
Có người hỏi Thiền sư rằng: “Nếu cá chép không nhảy qua Long Môn thì nó nên làm gì?”
Vị thiền sư đáp: “Tu thân dưỡng tính trong nước lạnh vực sâu”.
Người kia lại hỏi: “Còn nếu cá chép nhảy qua Long Môn thì sao?”
Thiền sư đáp: “Nếu có thể nhảy qua Long Môn, cá chép sẽ biến thành Rồng, bay lên trời, những con cá khác khó đuổi kịp”.

Người kia lại hỏi tiếp: “Vậy thì sao?”
Thiền sư trả lời: “Nếu rồng bay trên mây, thì rồng sẽ phun mưa để nuôi dưỡng thế gian. Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng của mình. Khi bị rơi vào vực sâu, bạn phải chịu đựng nỗi cô đơn. Phải vượt qua gian nan trong cuộc sống, đối diện với những mất mát, đau khổ, thiệt thòi, hay lợi ích, con người có thể dùng sự lương Thiện mà đối đãi hay không. Nếu làm được thì sẽ giống như cá Chép một ngày nào đó hóa rồng.

Lục Cơ đời Tấn trong “Mãnh hổ hành” có nói: “Khát bất ẩm Đạo tuyền thuỷ, nhiệt bất tức ác mộc âm”, nghĩa là “Có khát cũng không uống nước Đạo tuyền, có nóng cũng không nghỉ dưới bóng cây có độc”, chỉ khi giữ được sự thung dung trầm tĩnh đối với dục vọng trước mắt, bạn mới có thể cảm nhận niềm vui thâm trầm của sự cô đơn.

Thùy Dung biên tập
Nguồn: aboluowang (Vương Hòa)

Trên đời không có ai hoàn hảo cả

Một hôm, Nhan Hồi được Khổng Tử giao cho việc nấu cơm. Trong lúc Khổng Tử đang đọc sách thì nghe thấy tiếng ‘cộp’ dưới bếp vọng lên, ông liếc mắt xuống nhìn thì chứng kiến cảnh học trò của mình từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ rồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh và từ từ đưa cơm lên miệng.

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài và ngửa mặt lên trời mà than rằng:

‘Chao ôi! Học trò xuất sắc nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói’!

Một lát sau cơm canh đã chín, học trò Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Trước khi ăn Khổng Tử nói rằng: ‘Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?’.

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: ‘Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch’.

Khổng Tử hỏi: ‘Tại sao?’

Nhan Hồi thưa: ‘Khi cơm chín con mở vung ra xem thử đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi… nhưng lại nghĩ cơm thì ít, huynh đệ lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, huynh đệ hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả huynh đệ, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả huynh đệ.

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi… bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và… thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ’!

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: ‘Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ’!

Theo DKN.

Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó

ĐỒNG TIỀN LIỀN KHÚC RUỘT – LỜI CHÚA trong Phúc Âm Ma-thi-ơ 6:19-21

“Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó” (câu 21).

Câu hỏi suy ngẫm: Có mối liên hệ nào giữa thái độ đối với của cải và cách sống của người đó? Vì sao phải chứa của cải ở trên trời? Bạn đang đầu tư cuộc đời mình vào loại của cải nào?

Chúa Giê-xu so sánh giữa “của cải ở dưới đất” và “của cải ở trên trời” và kêu gọi đầu tư vào của cải ở trên trời vì của cải ở dưới đất chỉ là tạm thời nhưng của cải ở trên trời là đời đời. Vua Sa-lô-môn cũng đã nói: “Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không” (Truyền Đạo 1:2). Từ “hư không” không có nghĩa là mọi thứ đều vô dụng, nhưng tất cả những điều trên đời này chỉ là thoáng qua, không bền vững, và sẽ bị rủa sả với sự tạm thời và chóng qua của chúng. Vì vậy, ngay cả khi không bị trộm và không bị rỉ sét thì việc tích trữ của cải có giá trị giới hạn thời gian như vậy cũng là vô ích. Tóm lại, sự tạm bợ của những điều thuộc về trần gian nằm ở hai phương diện: hoặc sẽ bị mất đi hay hư hỏng, hoặc người sở hữu sẽ bước vào cõi đời đời với hai bàn tay trắng.

Hơn nữa, chúng ta phải đầu tư vào những giá trị thuộc linh vì của cải sẽ định hướng cuộc đời chúng ta. Chúa Giê-xu dạy lòng người sẽ ở nơi của cải người đó cất giữ. Khi một người xem những điều thuộc về trần gian này giá trị hơn những điều thuộc về thiên đàng thì cả cuộc đời của họ sẽ đầu tư vào những điều thuộc về trần gian. Qua ẩn dụ trong Lu-ca 12:16-21, Chúa Giê-xu cho thấy người xem những điều thuộc về đời này quan trọng hơn những điều thuộc về thiên đàng là người ngu dại vì đã đánh đổi những giá trị đời đời cho những giá trị tạm bợ, đánh đổi cả số phận đời đời của mình chỉ cho vài chục năm trên đất. Người này sẽ không bao giờ tìm thấy ý nghĩa và mục đích của đời mình và của những gì mình đang sở hữu vì không thể mang theo vào cõi đời đời. Người này thật ra chỉ là một nô lệ khốn khổ cho những điều thuộc về trần gian. Khi chú trọng vào những giá trị đời này mà bỏ qua những giá trị thuộc linh thì không chỉ những gì thuộc đời này của người đó bị phá hủy, mà chính linh hồn, nhân cách, và cả các mối liên hệ của người đó cũng bị phá hủy.

Hãy cẩn trọng trong cuộc sống vì chúng ta rất dễ bị lôi cuốn vào cuộc chạy đua không có điểm dừng để có nhiều tiền, nhiều nhà hơn, nhiều người biết tới hơn, được tôn trọng hơn, địa vị cao hơn… Con dân Chúa không cho phép mọi thứ lôi cuốn mình vào lối sống “chứa của cải ở dưới đất” nhưng phải biết “chứa của cải ở trên trời” qua nếp sống không ích kỷ, luôn sống thỏa lòng, thể hiện lòng rộng rãi và quan tâm đến người có nhu cầu với tinh thần yêu thương, tự nguyện chứ không phải miễn cưỡng hay vì bị bắt buộc.

Lòng của bạn đang hướng về trên trời hay dưới đất?

Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa đã dạy con nhìn thấy những giá trị thuộc linh cao trọng. Xin cho con đầu tư đời con vào những điều không hư nát để lòng con luôn hướng về Chúa trên trời.

Nguồn tin:
https://httlvn.org/dong-tien-lien-khuc-ruot-3-8-2023.html