HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

NGUYỄN HỒNG LAM

NCGH – Lễ sớt bát – thu hụi chết mùa Vu Lan năm 2022; Trò áp vong, cúng giải vong chia ca áp giá mùa An cư Kiết hạ năm 2019; Vụ “cọng tóc ngo ngoe” bất minh năm 2023; Clip tuyên truyền nhăng cuội về xá lợi tự sinh, xá lợi máu của Phật Tổ múc lên từ nước sông Hằng nhờ đức tin mà kết thành năm 2023 đều diễn ra tại hoặc liện quan đến chùa Ba Vàng. Tất tật đều là những trò dối Phật lừa Dân, bịp bợm có tổ chức, lợi dụng niềm tin tôn giáo, gieo rắc nỗi sợ hãi và mê tín dị đoan để trục lợi, làm tiền trên sự mê muội của chúng sinh. Tất cả đều do một tổ chức núp bóng Phật môn do Thích Trúc Thái Minh – Phạm Thị Yến cầm đầu.

Suy cho cùng, gọi bằng tên gì đó cũng là trò buôn Thần bán Phật, cần phải chặn đứng và nghiêm phạt bằng luật pháp. Không thể làm ngơ để cho chúng tiếp tục hoành hành, tàn phá, làm bại hoại xã hội về nhiều mặt. Tuy nhiên, dù có thu hàng chục tỷ, trăm tỷ, những trò lừa đảo mượn danh Phật Giáo ấy vẫn chỉ là những thương vụ cò con. Còn có kiểu kinh doanh tôn giáo khác, tuy khoác bộ cánh sạch sẽ hơn, ít tai tiếng hơn, nhưng thực chất còn hủy hoại dân tộc, xã hội tàn bạo hơn bội phần. Đó là kiểu kinh doanh cướp cạn tài nguyên, ăn ruỗng mục cả đất nước. Đau xót thay, chúng vẫn đang nằm ngoài mọi chế tài của luật pháp. Đất nước đang oằn mình chứng kiến một trào lưu cướp cạn hợp pháp!

Vì thế, tôi đã phải viết bài này. Bạn đọc lưu ý: những dữ liệu và ảnh chup được đề cập đều dừng lại ở thời điểm ngay mùa lễ hội sau tết Nguyên Đán năm 2019.


HẢO TỰ Ố TĂNG THỜI BANG VÔ ĐẠO

Huyền sử truyền rằng, năm 520, Tổ đời thứ 28 của dòng Thiền Tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) đã theo đường biển đến Quảng Châu, miền Nam Trung Hoa hoằng dương Phật Pháp. Lương Vũ Đế (464 -549), Hoàng đế khai quốc Lương triều vốn là một ông vua luôn đề cao việc học tập, giáo dân, vốn đã thành tâm cầu Phật, nghe tiếng đã cho mời Bồ Đề Đạt Ma hội kiến.

Gặp Tổ Phật, Hoàng đế Lương triều hỏi: “Từ ngày tôi làm vua đến nay lập nhiều chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như vậy có được công đức không?”. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Không có công đức gì cả”. Băn khoăn, Vua hỏi tiếp về chân công đức. Câu trả lời của Bồ Đề Lạt Ma được xem như một cứu cánh của bậc Chân Như: “Trí thanh tịnh, thể vốn vắng lặng nhiệm mầu, công đức như vậy không thể lấy thế pháp mà cầu được”. Trước ham muốn tu nhân tích đức, hành công quả để thành Thánh Đế mà Lương Vũ Đế đeo đuổi, Bồ Đề Lạt Ma chỉ buông gọn bốn chữ: “Quách nhiên vô Thánh”, nghĩa là “Vốn trống rỗng, chẳng có gì gọi là Thánh cả”.

Rồi bái biệt. Thất vọng vì cái tâm của ông vua sùng đạo vẫn động, trái ngược với mục đích/cảnh giới Thiền (Dhyana) vốn được hiểu là tĩnh tâm, quán định để giác ngộ chân lý, ngài quay lưng bỏ lên phía Bắc, không một lần ngoái lại. Công án “bất thức” (không biết), ngay từ thuở Thiền Tông vừa du nhập phương Đông đã khẳng định: xây chùa to, tạc tượng lớn, hành thí nhằm đạt tham vọng nhân thiên hữu lậu không bao giờ là con đường của Phật Pháp.

Không lâu sau đó, khoảng năm 580, Tỳ-ny-đa-lưu-chi (Vinitaruci), dòng Thiền đầu tiên từ Ấn Độ đã du nhập, bén rễ tại Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, khởi đầu cho một giai đoạn truyền bá mạnh mẽ của Thiền Tông và nhiều hệ phái Phật Giáo khác như Tịnh Độ Tông, Vô Ngôn Thông, Mật Tông… vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ bây giờ. Tuy nhiên, đó là giai đoạn hoằng dương bài bản và quy mô, còn sự tiếp nhận Phật Giáo vào Việt Nam thì đã xuất hiện sớm hơn nhiều. Đầu Công nguyên đã có truyền thuyết Chữ Đồng Tử theo học Phật Pháp từ một cao tăng đến từ Ấn Độ. Từ thế kỷ II sau Công nguyên, một số dòng Phật Giáo đã chính thức xuất hiện, chùa Phật đã được dựng nên tập trung nhiều ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh ngày nay.

Dù mang một số đặc điểm khác nhau, các dòng Phật Giáo vẫn nhất quán đề cao Phật tại tâm, giác ngộ Phật Tâm đồng nghĩa nhập Niết Bàn, vô ảnh vô hình, như một chữ Không bao trùm. Mọi thành quả khác, dù hiện hữu, chẳng qua là “hữu lậu, chỉ là quả nhỏ nhoi trong cõi nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật” như Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị về yếu tính Phật Pháp cho Lương Vũ Đế nhưng bất thành.

So từ nguyên ủy, chùa to, tượng lớn, phô trương hoành tráng hay lập kỷ lục về những cái nhất chưa bao giờ là con đường Phật Giáo. Tu hành Phật giáo là quá trình diệt dục, thực hành Tứ Diệu Đế. Dù không hẳn là pháp quy bắt buộc, thực hành Phật Pháp cũng nghiêng về phía khổ hạnh, vong thân. Hảo tự ố tăng (Chùa to đẹp, tăng hoen ố), nó đi ngược quá trình tu hành giác ngộ Phật, hủy hoại Phật Pháp, cũng đồng thời hủy hoại đạo đức xã hội, làm phương hại đến luật pháp, đảo tung các giá trị vì lợi nhuận. Những siêu công trình tôn giáo mọc lên ngày càng nhiều không chứng tỏ sự phát triển của tôn giáo, chỉ chứng minh sự tha hóa nghiêm trọng của cả đạo đức xã hội lẫn đức tin tôn giáo, khi mà tất cả ham muốn, dục vọng vật chất “hữu lậu nhân thiên” đểu có thể được thỏa mãn, đều đổi chác được bằng tiền và rất nhiều tiền.

Những người ủng hộ hoặc biện hộ cho sự bùng nổ xây dựng chùa chiền thường viện dẫn thời Lý – Trần, Phật Giáo phát triển, để lại nhiều di sản vật chất, văn hóa, văn hiến, tạo nên một dung mạo văn hóa Việt Nam đặc sắc, đáng tự hào ngay cả trong thời hội nhập. Họ quên rằng, chính trong thời Lý, khi Phật giáo phát triển huy hoàng nhất, nạn mượn danh Phật Giáo để hoành hành, làm bại hoại cửa Phật, suy yếu nền tảng đạo đức xã hội và luật pháp còn phát triển hơn. Nhà nhà đi tu, nơi nơi dựng chùa, sư tăng kết đảng hoành hành bá đạo… trở thành quốc nạn. Ngay chính những chân tăng, quan lại chính trực, giới trí thức, nhà chép sử thời đó cũng đã nhiều người kịch liệt phản đối nạn buôn Tăng bán Phật. Đời Lý Cao Tông (1173–1210) , triều đình đã phải bất đắc dĩ đuổi sư, buộc hằng hà sa số sư sãi (mượn danh) phải hoàn tục, tránh cho quốc gia một vấn nạn (khi đã quá muộn).

Mượn cớ tạo ra công trình, sản phẩm có tầm vóc để nâng cao vị thế hội nhập, không ít người đã ủng hộ khuynh hướng chạy theo kỷ lục, chạy theo những cái nhất khi xây dựng chùa, tháp, với “hy vọng” đất nước sẽ có thêm ngày càng nhiều những công trình khiến cả thế giới phải nghiêng mình, sánh ngang với Vạn Lý Trường Thành hay Kim Tự Tháp, thậm chí cả người ngoài hành tinh cũng có thể nhìn thấy từ vũ trụ. Tôi cho rằng, đây là một quan niệm phi văn hóa, sặc mùi vật chất chủ nghĩa. Chùa Tam Chúc khi xây xong, dù có “lớn nhất thế giới” cũng không thể có giá trị văn hóa bằng một mảnh gốm vỡ thời Trần còn được lưu giữ trong bảo tàng. Vòm trần điện thờ dát vàng trong bảo tháp chùa Bái Đính không thể đẹp và quyến rũ nhân loại yêu sự tinh tế hơn phù điêu tạo dáng rồng thời Lý hay mái đao dù đã mốc thếch thời gian vẫn cong vút của chùa Keo được dựng từ thời Lê. Đó mới đích thực là màu sắc, đường nét văn hóa Việt. Bởi lẽ, không thể lấy thành quả đồ sộ của văn minh – những giá trị nghiêng về vật chất – để thay thế sự đặc sắc của văn hóa – những giá trị thiên về tinh thần. Những hoành phi, đại tự tầm thường thời hiện đại dù có sơn son thếp vàng, những đại hồng chung mới đúc khắc thô thiển tên tuổi nhà giàu, quan chức to cung tiến cũng không thể quý giá bằng một góc những báu vật văn bia, mộc bản cổ đã sứt sẹo hình hài vẫn rực rỡ nghìn năm văn hiến – những giá trị nghiêng về văn bản. Đó mới đích thực là những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt.

Đừng vội chê những ai ủng hộ việc giữ gìn văn hóa Việt trong nét khiêm nhường, tinh tế, giản dị là nệ cổ, là nhược tiểu, là không dám vươn ra thế giới. Mỗi nền văn hóa có một cách đóng góp riêng cho di sản văn minh – văn hóa nhân loại, phù hợp với điều kiện và tập quán sinh sống của từng vùng địa lý cư trú, từng nhóm tộc người. Từ đúng 100 năm trước, khi nói về nghệ thuật kiến trúc và trang trí của người Việt, trong bài viết “Mỹ thuật ở Huế” đăng trong tập 16, năm 1919, Tạp chí “Đô thành hiếu cổ” (BAVH), nhà nghiên cứu uy tín người Pháp, giáo sĩ dòng Thừa sai Paris Leopold Cadìere đã có nhận xét: “Người An Nam dường như chẳng bao giờ có những dự kiến to lớn. Những cung điện nguy nga, những đền thờ đồ sộ vẫn thường nằm ngoài ý niệm của họ, và cũng như nằm ngoài tầm phương tiện của họ. Nhưng các ngôi chùa nhỏ, các ngôi nhà thấp tối của họ lại được trang trí công phu. Những nóc khuyết, trụ cột, lối ra vào, bình phong và dày đặc mẫu thức trang trí với màu sắc rực rỡ, đôi khi lòe loẹt, nhưng vẫn hài hòa với sắc màu phong cảnh, với sức chói chang của ánh sáng”.

Đó là một nhận xét xác đáng. Hãy để thế giới khâm phục Việt Nam bằng bản sắc tinh tế, đâu cần phải làm thế giới giật mình kinh hãi bằng sự sao chép, bắt chước hợm hĩnh phô phang? Lai căng đua đòi làm suy yếu sức đề kháng văn hóa. Văn hóa suy đồi, ắt hẳn quốc gia bạc nhược. Đó là mối nguy tự diệt.

Ngày nay, hiện tượng mượn mác tôn giáo – không riêng Phật Giáo – lập các dự án “du lịch tâm linh” để được giao đất, phá rừng bạt núi xây Chùa to, Tháp cao, kinh doanh trên tín ngưỡng đã thành phổ biến. Những công trình chùa chiền kiểu Bái Đính, Tam Chúc, Sơn Trà… hầu hết đều là kinh doanh tôn giáo, không phải là công trình phục vụ tín ngưỡng đúng nghĩa. Chúng đều là cú áp phe của giới tài phiệt, lợi dụng Phật giáo và phá hoại Phật giáo. Viện dẫn quy luật cung cầu, nại cớ Luật không cấm để biện hộ cho kiểu kinh doanh, khai thác dịch vụ, gắn mác “văn hóa, tâm linh” vào công cuộc buôn thần bán thánh thật ra chỉ là luận điệu của kẻ hoặc cố chấp, thiếu hiểu biết, hoặc là kẻ lạm dụng đức tin, tín ngưỡng để trục lợi. Nếu đông đảo nhân dân chưa nhìn thấy sự dị hơm, băng hoại ấy, vẫn háo hức lao theo và ngưỡng mộ thì trí thức, người có hiểu biết cần góp tiếng nói chỉ ra: đó là một nguy cơ đã trở thành quốc nạn.

Trong cả mục đích và bản chất, những công trình đồ sộ đang đua nhau mọc lên thực chất chỉ là những dự án cướp cạn văn minh, công khai vơ vét tài nguyên đất nước, cướp đoạt ngân sách của nhà nước do nhân dân đóng góp.

Đầu tiên là cướp đất. Khá đông đại gia khét tiếng và tai tiếng đều gắn tên mình với những công trình xây dựng chùa chiền, dù đức tin tôn giáo, đạo đức tôn giáo của họ hầu như đều phô ra tỉ lệ nghịch với sự đồ sộ của các công trình. Trầm Bê xây chùa ở Trà Vinh để….treo ảnh gia đình. Trần Bắc Hà bỏ hàng chục, hàng trăm tỷ trùng tu, dựng mới chùa ở Bình Định, Quảng Bình. Ông Chủ Tôn Hoa Sen Lê Phước Vũ hẳn là đang rất bận bịu “thoát tục” với công trình chùa chiền trên diện tích 1500 ha rừng đã và sẽ bị phá ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Và bây giờ thì đại gia của tập đoàn Xuân Trường đang chiếm lĩnh truyền thông với những siêu dự án ăn đất.

Những siêu dự án Xuân Trường đang đầu tư đều gắn với chữ “du lịch tâm linh” gồm: khu du lịch văn hóa tâm linh tổng hợp đảo Cái Tráp ở Hải Phòng, 450 ha đất, 9.800 tỷ đồng; Quần thể Bái Đính – Tràng An (Ninh Bình), 80ha, 17.000 tỷ đồng, nhưng ăn vào 4000 ha vùng lõi Tràng An; Khu Du lịch tâm linh Tam Chúc – Ba Sao (Hà Nam) chiếm 5.100 ha đất, đầu tư 11.000 tỷ đồng: Khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) chiếm 18.940 ha, đầu tư 15.000 tỷ…

To hơn, cao hơn, rộng hơn… chiến lược trương phình dự án chỉ nhằm duy nhất chiếm hữu được nhiều diện tích đất đai hơn. Toàn bộ diện tích Khu du lịch tâm linh Tam Chúc rộng 5.100 ha, bằng 300 lần sân vận động Mỹ Đình (theo so sánh của đồng nghiệp Đào Tuấn, Báo Lao Động) trong khi mặt bằng xây dựng chùa Tam Chúc chỉ mới chiếm 144 ha. Phần đất đai mênh mông còn lại rồi đây sẽ được xây dựng thành khu trung tâm đón tiếp, khu ẩm thực, khu nghỉ dưỡng, khách sạn 5 sao, bến xe điện, bến du thuyền, khu vui chơi tổng hợp, casino, biệt thự cao cấp bán và cho thuê… Đó đều là những công trình không liên quan gì đến tôn giáo và tín ngưỡng nhưng đều là những mũi nhọn kinh doanh béo bở.

Thì đã làm sao? Nếu có tiền, người ta cứ đầu tư, miễn luật không cấm. Đầu tư kiếm lời hướng phục vụ nhu cầu tôn giáo tâm linh vẫn còn tốt hơn có tiền đem ném vào những cuộc phá phách. Mỉa mai cho những ai vẫn ngây thơ tin vào điều đó. Họ đã không nhìn thấy, hoặc cố tình nhắm mắt không nhìn thầy sự tàn phá kinh hoàng, đúng hơn là tận diệt của các siêu dự án. Sau cướp đất là ăn thủng ngân sách. Phần lớn tiền đầu tư, có thể lên tới 70% sau khi có dự án đều là tiền vay ngân hàng. Ông chủ các siêu dự án sẽ không ngần ngại vẽ vời, đội vốn các dự án lên 1,5 -2 lần hoặc hơn thế nữa để vay được càng nhiều tiền từ ngân hàng càng tốt. Lãi ngân hàng dù có rất lớn cũng thấp hơn nhiều khấu trừ thu nhập. Nếu kinh doanh không hiệu quả, dự án bị thu hồi, ngân hàng ngắc ngoải, đại gia vẫn sống khỏe. Vì mục đích lợi nhuận, họ phá rừng, bạt núi, tàn hại môi trường, phá thủng ngân sách, cướp bóc quốc gia, còn tàn bạo hơn phá hoại.

Vẫn chưa hết. Khi các công trình tâm linh đã đi vào khai thác, bằng mọi cách, họ cố phù phép để chúng được công nhận là “Di tích văn hóa – lịch sử” – với hồ sơ thuyết minh đa phần là bịa đặt và thêu dệt. Với một khoản tiền bôi trơn cực lớn, họ sẽ đạt được điều đó rất nhanh mà không quá khó. Vậy là nghiễm nhiên “Công trình tâm linh, danh thắng” sẽ được bảo vệ, giữ gìn bằng tiền ngân sách (chi cho công an, dân phòng, bảo vệ, cả bộ máy chính quyền địa phương), nghĩa là thêm một bước nữa trắng trợn móc túi ngân sách.

Dùng mỡ nó rán nó, đó là bản chất công cuộc cướp cạn tài nguyên, ngân sách quốc gia một cách công khai. Đó là lý do vì sao các công trình siêu khủng đều có xuất phát ăn theo một cổ tự, danh thắng nổi tiếng đã có sẵn. Nếu phải so sánh với công trình mới đầu tư, công trình nguyên thủy, Bái Đính cổ tự so với Bái Đính mới chẳng hạn, xem ra chỉ bé như mắt muỗi. Lấy mở nó rán nó, nhà đầu tư chỉ giàu lên cực nhanh, không bao giờ chết.

Một ví dụ cụ thể, hàng năm, sau mỗi đợt lễ hội Chùa Hương, chùa chiền ở đây sẽ thu được vài chục tỷ đồng, năm cao nhất là 31 tỷ. Số tiền lẻ của khách thập phương cúng hòm công đức và nhét vào tay, vào chân tượng Phật hoặc đặt lễ trên bàn thờ gom lại đem gửi tại Ngân hàng Mỹ Đức, Hà Nội có khi lên tới 1.200 bao tải!

Thế nhưng, chỉ 4% trong số đó được trích lại cho BQL di tích để phục vụ trùng tu, tôn tạo, bảo vệ rừng. Trong khi đó mỗi năm nhà nước vẫn phải bỏ ra ít nhất 10 tỉ đồng để nuôi bộ máy cũng như bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, tu sửa hạ tầng, đường hành hương và chăm sóc, bảo vệ rừng. Vì đây là di tích văn hóa – lịch sử quốc gia, những đợt sửa chữa, tu bổ lớn trị giá hàng chục, hàng trăm tỉ đồng cũng đều dùng tiền ngân sách chi trả.

Và đó cũng là lý do vì sao Tập đoàn Xuân Trường – lại Xuân Trường chứ không phải ai khác – đang làm hồ sơ đề xuất siêu dự án 15.000 tỷ, chiếm trọn quần thể Chùa Hương với 1000 ha đất!

Sẽ không có đại gia nào có thể thâu tóm đất đai, moi tiền ngân sách, nếu không có sự gật đầu và tiếp tay của bộ máy công quyền từ Trung ương đến địa phương. Vì sao và để làm gì, hỏi tức là đã trả lời.

Không có sự phát triển tôn giáo, thần thánh nào ở đây cả, chỉ có sự hiện hữu và lớn mạnh kinh khủng của các tập đoàn tư bản thân hữu ăn ruỗng tài nguyên, nguồn lực của đất nước. Không ngăn chặn, tiêu diệt nguy cơ ấy bằng luật pháp nghiêm minh, bằng chính sách minh bạch một cách triệt để, đất nước sẽ ruỗng mục, xã hội sẽ băng hoại. Thờ ơ với quốc nạn không chỉ là vô trách nhiệm mà là có tội. Phải làm gì, làm như thế nào, đó là trách nhiệm của hệ thống chính trị, các nhà lập pháp, bộ máy hành pháp, tư pháp, thay vì và cần thiết, cấp bách hơn nhiều so với mối lo loay hoay tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao tinh thần dân túy, phản đối ngày càng bùng phát mạnh mẽ trong xã hội.

Từ hơn 2000 năm trước, trong thiên Thái Bá, sách Luận Ngữ, Không Tử đã khái quát: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Đất nước vô đạo, chạy theo giàu sang, thật hổ thẹn”. Xem ra, chỉ với vấn nạn “hảo tự ố tăng”, thực tế đất nước đã khốn nguy, bị tàn phá nghiêm trọng hơn bội phần so với chữ “sỉ dã” được bậc minh sư nhắc từ thiên cổ!

14.02.2019
NGUYỄN HỒNG LAM

ĐỊA DANH DUY XUYÊN TRONG MỘT SỐ THƯ TỊCH VÀ BẢN ĐỒ CỔ VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Như thường lệ, cứ đến giữa tháng 11 là tôi nhận được tin nhắn từ anh Dương Quang, người Duy Xuyên ở Sài Gòn: “Mời anh viết một bài để đăng trong đặc san Xuân Duy Xuyên, phát hành vào Tết năm nay nhé. Chủ đề vẫn là viết về lịch sử văn hóa con người Duy Xuyên”.

Năm nay, Dương Quang nhắn thêm một câu: “Năm 2024 sắp tới huyện sẽ kỷ niệm 420 năm địa danh Duy Xuyên ra đời (1604 – 2024). Nhờ anh tìm trong thư tịch cổ có văn bản nào đề cập sự kiện này không”.

Tôi nhận lời, và bắt đầu công việc “đào bới sử liệu” để xem tên gọi Duy Xuyên chính thức xuất hiện từ khi nào?

Dưới đây là những gì tôi tìm được từ các thư tịch và bản đồ cổ, được biên soạn và thời Lê và thời Nguyễn. Tôi xin liệt kê ra đây, ngõ hầu cung cấp thêm thông tin cho những độc giả và bà con Duy Xuyên có quan tâm đến tên gọi quê mình.

  • VỀ THỜI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA ĐỊA DANH DUY XUYÊN

Cổng Thông tin điện tử huyện Duy Xuyên, trong mục “Lịch sử phát triển”, giới thiệu như sau: “Duy Xuyên là mảnh đất có lịch sử lâu đời. Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho biết, cách đây khoảng 2.500 năm, những lớp cư dân đầu tiên đã có mặt ở đây và là một bộ phận của cư dân văn hóa Sa Huỳnh. Sau những cư dân tiền sử, sơ sử này, Duy Xuyên nằm trong địa bàn sinh tụ và phát triển của cư dân văn hóa Chămpa (thế kỷ II – XV). Tên đất Duy Xuyên ra đời năm Giáp Thìn (1604) thời Nguyễn Hoàng. Huyện được cải tên từ huyện Hy Giang năm 1604, trong chủ trương cải đặt lại các khu vực hành chính thuộc hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam của chúa Nguyễn Hoàng”. [1]

Thông tin này được dẫn lại ở nhiều trang web và bài viết khác nhau[2], nhưng đều không dẫn nguồn xác nhận chúa Nguyễn Hoàng đổi tên từ huyện Hy Giang thành huyện Duy Xuyên vào năm 1604 là từ văn bản nào?

Thậm chí, có người còn khẳng định: “Khác với nhiều danh xưng khác, từ xưa đến nay, về niên đại ra đời danh xưng Duy Xuyên, nhờ chính sử chép rõ nên không có tranh luận nào. Đó là vào năm Giáp Thìn (1604), với cuộc cải cách hành chính lớn của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, huyện Hy Giang (thuộc đạo thừa tuyên Quảng Nam năm 1471) được đổi thành huyện Duy Xuyên”, nhưng cũng không dẫn nguồn chính sử là văn bản nào? [3]

Sau khi tra cứu các nguồn sử liệu thời Nguyễn, tôi được biết, sự kiện chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đổi tên huyện Hy Giang thành huyện Duy Xuyên vào năm Giáp Thìn (1604) mà các thông tin / bài viết đã dẫn, là dựa vào đoạn ghi chép trong sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844): “Giáp thìn, năm thứ 47 [1604], lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn, quản 5 huyện (Tân Phước, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa [Ngãi], huyện Lê Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay đổi làm Thăng Bình) làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên”. [4]

  • ĐỊA DANH DUY XUYÊN TRONG THƯ TỊCH CỔ

Sau khi tra cứu nhiều nguồn sử liệu từ thời Lê đến thời Nguyễn có liên quan đến vùng đất Thuận – Quảng, tôi tạm thời ghi nhận sử liệu sớm nhất có viết về địa danh Duy Xuyên chính là “Phủ biên tạp lục” (撫邊雜錄) của Lê Quý Đôn (1726 – 1784).

“Phủ biên tạp lục” được Lê Quý Đôn biên soạn hoàn tất vào năm 1776, gồm 6 quyển, ghi chép các thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế và xã hội của xứ Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVI đến thời điểm Lê Quý Đôn được triều đình Lê – Trịnh cửa vào Thuận Hóa giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ trấn phủ Thuận Hóa.

Trong “Phủ biên tạp lục”, địa danh Duy Xuyên (濰川) xuất hiện ở 9 đoạn văn sau (Việt dịch):

“… Đổi huyện Lệ Giang làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên…” (quyển 1)

“… Xứ Quảng Nam: 2 phủ, 11 huyện: Phủ Điện Bàn có 5 huyện: Hòa Vinh, An Nông, Duyên Khánh, Tân Phúc, Phú Châu. Phủ Thăng Hoa có 3 huyện: Lễ Dương, (huyện chính), Hà Đông (huyện chính), Duy Xuyên (huyện chính)…” (quyển 1)

“… Từ tuần Ải Vân đi đến dinh Quảng Nam tục gọi là dinh Chiêm ở xã Cần Húc [Hào] huyện Duy Xuyên đường đi chỉ trong hai ngày…” (quyển 2).

“… Tướng thần Lại tu thu phủ Thăng Hoa (Hà Đông, Duy Xuyên, Lễ Dương), chính huyện và tân huyện, cộng 6 huyện và các thuộc ruộng thực trưng 72.357 mẫu 11 thước 22 thốn 4 phân, thóc lệ 1.681.294 thăng…” (quyển 2).

“… Xứ Quảng Nam có dinh Chiêm, có quan trấn thủ gọi là dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc [Hào], về huyện Duy Xuyên, thuộc về dinh ấy có ty Xá sai, có câu kê 3 tên, cai hợp 7 tên, thủ hợp 10 tên, Bản ty lại có 40 tên giữ việc từ tụng, văn án, có một quan Ký lục cai quản tất cả các việc trên…” (quyển 3).

“… Người Duy Xuyên là Nguyễn Kim Châu, nguời Đồng Xuân là Trần Văn Kiến thăng chức Ký huyện dâng thượng lễ mỗi người tinh ngân 8 hốt 5 lạng, thay tiền 212 quan 5 mạch và trọng cân ngân 4 lạng 2 đồng cân 5 phân thay tiền 10 quan 6 mạch 15 đồng kẽm…” (quyển 3).

“… Về 6 huyện chính và tân Hà Đông, Lễ Dương, Duy Xuyên cùng các thuộc ở Thăng Hoa số người 34.307 người, trừ vi tử, chức lính, tiêu sai, còn nộp thuế 11.237 người, thu vàng 4 đồng cân 7 ly; lụa 1.545 tấm 23 thước 1 thốn 8 phân; tiền 38.092 quan 7 mạch 57 đồng kẽm; gạo 2.848 bao 18 thưng 1 hợp…” (quyển 3).

“… Xứ Quảng Nam, phủ Thăng Hoa, huyện Duy Xuyên có núi Trà Nô và Trà Tế về nguồn Thu Bồn sản ra vàng…” (quyển 4).

Sang thời Nguyễn (1802 – 1945), địa danh Duy Xuyên được ghi nhận sớm nhất ở trong “Đại Nam thực lục tiền biên”. Ngoài đoạn tôi trích dẫn trên đây, còn có tên Duy Xuyên còn được ghi chép trong 2 đoạn sau (Việt dịch):

“… Chúa khen rằng: ‘Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng’. Liền vượt quan núi xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc, thuộc huyện Duy Xuyên, xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ…” (quyển 1). [5]

“… Mùa đông, tháng 11, ngày Giáp thân, nguyên phi là Nguyễn Thị Băng (con gái cả Mạc Kính Điển, trước kia Kính Điển bại vong, theo chú là Cảnh Huống ẩn ở chùa Lam Sơn, được tiến vào hầu tiềm để, được cho là học Nguyễn, thọ 53 tuổi, tặng hiệu là Doanh Cơ, thụy là Nhã Tiết, an táng ở xã Chiêm Sơn (thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, tức lăng Vĩnh Diễn)…” (quyển 2). [6]

Ngoài ra trong “Đại Nam thực lục chính biên”, địa danh Duy Xuyên đã được ghi chép 39 lần, từ quyển XXV đệ nhị kỷ (Thực lục về Thánh Tổ Nhân hoàng đế) cho đến quyển II đệ lục kỷ (Thực lục về Giản Tông Nghị hoàng đế).

Một bộ chính sử quan trọng khác, cũng do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ triều Tự Đức (1848 – 1883) hoàn thành vào triều Duy Tân (1908 – 1916), là “Đại Nam nhất thống chí”, cũng có ghi chép về địa danh Duy Xuyên. Cụ thể, quyển 7 viết về “Tỉnh Quảng Nam”, có ghi chép về huyện Duy Xuyên ở 3 đoạn:

“… Huyện Duy Xuyên: ở cách phủ Điện Bàn 12 dặm, lệch về phía nam, đông tây cách nhau 77 dặm, phía đông đến địa giới huyện Lễ Dương phủ Thăng Bình 15 dặm, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man 62 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình chừng 6 dặm, phía bắc đến huyện Diên Phước 16 dặm. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành; đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào phủ Thăng Hoa, đầu bản triều đổi tên hiện nay…”.

“… Huyện Duy Xuyên: ở cách phủ Điện Bàn 12 dặm, lệch về phía nam, đông tây cách nhau 77 dặm, phía đông đến địa giới huyện Lễ Dương phủ Thăng Bình 15 dặm, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man 62 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình chừng 6 dặm, phía bắc đến huyện Diên Phước 16 dặm. Nguyên là đất Chiêm Động của Chiêm Thành; đời Lê đổi làm huyện Hy Giang, lệ vào phủ Thăng Hoa, đầu bản triều đổi tên hiện nay…”.[7]

“… Lỵ sở huyện Duy Xuyên: Chu vi 57 trượng, rào bằng chông chà, hồi đầu niên hiệu Gia Long (1802), huyện lỵ ở thôn Phượng Châu Tây, năm Minh Mạng thứ 17 (1836), dời đến giáp đông xã Mỹ Xuyên, năm thứ 19 (1838) lại dời đến chỗ lỵ sở cũ…”.[8]

Ngoài ra, trong các phần viết về núi sông của tỉnh Quảng Nam của sách này, có một số núi sông thuộc huyện Duy Xuyên cũng được đề cập.

Sau cùng, tôi muốn giới thiệu một bộ địa chí quan trọng, được biên soạn vào triều Đồng Khánh, đã đề cập địa danh Duy Xuyên với những thông tin tổng quát, quan trọng về kinh tế, xã hội, nhân khẩu, tài nguyên…, kèm theo bản đồ minh họa (sẽ giới thiệu ở phần sau). Đó là “Đồng Khánh địa dư chí” (同慶地輿志).

“Đồng Khánh địa dư chí” do vua Đồng Khánh (1885 – 1889) sai các quan ở Nội Các biên soạn, bắt đầu từ tháng 5.1887, hoàn thành vào những năm đầu triều Thành Thái (1889 – 1907). Bộ địa dư chí này gồm 25 tập, ghi lại địa lý các tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời Đồng Khánh. Mỗi tỉnh đều ghi chép các mục: vị trí, diên cách, số huyện, tổng, xã, thôn, phường, số đinh, binh lính, ruộng đất, thuế khóa, phong tục, thổ sản, khí hậu, núi sông, đường sá, đồn lũy, đền miếu, cổ tích, kỹ nghệ. Kèm theo các ghi chép là 314 bản đồ các tỉnh, phủ, huyện ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong số có địa chí và bản đồ tỉnh Quảng Nam.

Phần viết về huyện Duy Xuyên gồm 8 trang chữ Hán (từ trang 13a đến trang 16b, tập 2) giới thiệu diên cách, địa giới, huyện lỵ huyện Duy Xuyên, số đơn vị hành chính thuộc huyện (9 tổng, 162 xã, thôn, châu, phường, ấp, giáp), cùng các thông tin quan trọng khác về: dân số, số đinh, ruộng đất, phong tục, sản vật, khí hậu, sông núi, danh thắng, đường đi, dịch trạm…

Đây là những phần viết theo thể chí, đầy đủ và chi tiết nhất về huyện Duy Xuyên trong các nguồn sử liệu thời Lê và thời Nguyễn.

  • ĐỊA DANH DUY XUYÊN TRONG BẢN ĐỒ CỔ

Ngoài các thư tịch đã dẫn trên đây, tôi còn tìm thấy địa danh Duy Xuyên được viết bằng chữ Hán trên các bản đồ cổ, được đính kèm trong các trước tác do các Nho sĩ, học giả từ thời Lê đến thời Nguyễn, biên soạn.

  • Tờ bản đồ có niên đại sớm nhất có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện) là tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 26b, trong tập “Giao Châu dư địa chí” đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (bản VHt.30), và tại Viện Viễn đông bác cổ Pháp ở Paris (EFEO Paris) (bản MF.1551/A.2716).

“Giao Châu dư địa chí” được biên soạn vào thời Lê và được sao lục lại vào thời Nguyễn, là tập địa chí ghi chép về địa lý Việt Nam, gồm: vị trí, giới hạn, chiều rộng, hình thế, các đường thủy bộ, các cửa biển… Ngoài phần văn bản, tập địa chí này còn có nhiều tờ bản đồ vẽ về nước ta thời Lê, bản đồ các nước tiếp giáp nước ta, bản đồ thành Thăng Long và bản đồ các xứ trong nước. Trong đó có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện”. [9] Ngoài ra, trong tập “Giao Châu dư địa đồ”, cũng biên soạn vào thời Lê và được sao lục vào thời Nguyễn, đang lưu trữ tại EFEO Paris (bản MF.1551/A.2716), cũng có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 48, có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện) như trong “Giao Châu dư địa chí”.

  • Thư tịch “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, do Đỗ Bá, một nho sinh người Nghệ An, biên soạn vào khoảng năm 1630 đến 1653, đang lưu trữ tại Toyo Bunko (Tokyo, Nhật Bản) và tại EFEO Paris (3 bản: A.73, A.588 và A.2300). Trong thư tịch này có nhiều tờ bản đồ vẽ các tuyến đường bộ, đường sông của nước ta từ Thăng Long đi vào phía Nam, từ Thăng Long đi lên phía Bắc và từ Động Hải (Đồng Hới) đi Cao Miên. Trong số đóm có tờ bản đồ ở trang 43a-b vẽ và bị chú về Bãi Cát Vàng nằm ngoài khơi phủ Thăng Hoa “hàng năm chúa Nguyễn đem 18 chiếc thuyền đến đó để thu đồ vật, phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”.[10] Trên tờ bản đồ này có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).

Đặc biệt, bản A.73 của “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” đang lưu trữ tại EFEO Paris, là bản sao lục vào thời Nguyễn, thì các bản đồ do Đỗ Bá vẽ trước đây đã được tô màu. Trong đó, tờ bản đồ ở trang 78, sao chép từ tờ bản đồ ở trang 43b của bản A.2300 (thời Lê), nhưng tại vị trí ghi tên 濰川縣 (Duy Xuyên huyện), thì lại ghi là 濰山縣 (Duy Sơn huyện).

  • Một tập bản đồ khác có tên là “Nam Việt bản đồ”, gồm 186 trang, ghi chép về địa lý và vẽ bản đồ cương vực nước ta vào thời Lê, đang lưu trữ tại EFEO Paris (bản A. 1603), có tờ bản đồ ở trang 48b vẽ phủ Thăng Hoa, kèm bị chú chữ Hán (phiên âm): “… hải trung hữu nhất trường sa danh viết Bãi Cát Vàng ước trường tứ bách lý, khoát nhị thập lý, trác lập hải trung. Tự Đại Chiêm môn chí…” (… giữa biển có dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, ước dài 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng sừng sững giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến…). [11] Tên tờ bản đồ này có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).

Đầu thời Nguyễn, vào năm Gia Long thứ 9 (1810), Đàm Thận Hữu (tức Đàm Nghĩa An) biên soạn bộ “Thiên tải nhàn đàm”, gồm 3 quyển: “Thiên Nam hình thắng lược thuyết” (30 trang), khảo sát về hình thế nước Nam; “Nam hành trình lục” (104 trang), miêu tả các con đường thủy bộ từ bắc vào Nam; “Trình lục yếu lược ký” (144 trang), liệt kê tên các dịch trạm từ Hà Nội tới các địa phương cả nước. [12] Trong quyển Thiên Nam hình thắng lược thuyết có tờ bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” ở trang 62b-63a, có ghi địa danh 維川縣 (Duy Xuyên huyện).

Trong bộ “Đồng Khánh địa dư chí”, ngoài phần ghi chép theo thể chí về các tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ của nước ta dưới triều Đồng Khánh, còn có 314 bản đồ các tỉnh, phủ, huyện ở hai xứ này. Trong số đó có bản đồ 廣南省圖 (Quảng Nam tỉnh đồ) và bản đồ 濰川縣圖 (Duy Xuyên huyện đồ) (ảnh 11), có ghi địa danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện).

Tôi cũng tìm được nhiều bản đồ khác trong các thư tịch cổ, có niên đại từ thời chúa Nguyễn đến thời Nguyễn có ghi địa danh Duy Xuyên. Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết không cho phép tôi liệt kê hết các bản đồ này ở đây, nên tôi chỉ giới thiệu một số bản đồ tiêu biểu và quan trọng như đã nêu trên đây.

Điều đáng quan tâm là địa danh Duy Xuyên viết bằng chữ Hán trên các bản đồ cổ này không giống nhau.

Trong “Giao Châu dư địa chí” và “Giao Châu dư địa đồ” biên soạn vào thời Lê, Duy Xuyên được viết là 維川, với chữ 維 (Duy) không có bộ 氵(thủy). Trong “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” và “Nam Việt bản đồ” cũng biên soạn vào thời Lê, tên Duy Xuyên được viết là 濰川, với chữ 濰 (Duy) có bộ氵(thủy).

Sang đầu thời Nguyễn, trên bản đồ “Quảng Nam tam phủ cửu huyện” trong bộ “Thiên tải nhàn đàm” của Đàm Thận Hữu, địa danh Duy Xuyên lại được viết là 維川縣, với chữ 維 (Duy) không có bộ氵(thủy).
Tuy nhiên, dưới triều Đồng Khánh, khi biên soạn bộ “Đồng Khánh địa dư chí”, các sử thần triều Nguyễn lại viết chữ chữ 濰 (Duy) có bộ氵(thủy) ở trong văn bản, cũng như ghi danh 濰川縣 (Duy Xuyên huyện) trên “Quảng Nam tỉnh đồ” và “Duy Xuyên huyện đồ”.

Lạ lùng nhất là khi sao lục tờ bản đồ ở trang 43b trong “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” do Đỗ Bá soạn vẽ vào thời Lê, thành tờ bản đồ ở trang 78 của bản A.2300 (đang lưu trữ ở EFEO Paris), thì các họa viên thời Nguyễn lại ghi tên 濰川縣 (Duy Xuyên huyện) thành 濰山縣 (Duy Sơn huyện).

  • THAY LỜI KẾT

Trên đây là điểm lược một số thư tịch và bản đồ cổ có ghi chép về địa danh Duy Xuyên mà tôi sưu tầm được. Có thể có nhiều thư tịch và bản đồ khác vẫn đang còn lưu giữ đâu đó trong các thư viện, văn khố quốc gia hay tủ sách của tư nhân có viết về Duy Xuyên mà tôi chưa tìm hiểu hết. Tuy nhiên, những thư tịch và bản đồ tôi giới thiệu trong bài viết này, đều là những tư liệu quan trọng, là chính sử của Việt Nam trong các thế kỷ XVIII – XIX. Quan trọng là nó đã giúp cho việc xác thực tên gọi DUY XUYÊN chính thức ra đời từ năm 1604 bằng việc đổi tên huyện từ HY GIANG sang DUY XUYÊN dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Và đến mùa xuân 2024 này, thì tên Duy Xuyên đã tròn 420 năm tồn tại.
T.Đ.A.S.

CHÚ THÍCH

[ ] https://duyxuyen.quangnam.gov.vn/webcenter/portal/duyxuyen/pages_tin-tuc/chi-tiet-tin.

[2] Chẳng hạn:

  • Bài viết Nguyễn Hoàng và đất phương Nam (không rõ tác giả) đăng trên https://vusta.vn/nguyen-hoang-va-dat-phuong-nam-p73681.html. (Thứ ba, 17/02/2009), có đoạn viết: “Năm Giáp Thìn (1604), ông [chúa Nguyễn Hoàng] chia đặt lại các đơn vị hành chính thuộc xứ Thuận Hóa, đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình (ngày nay là nửa phía bắc tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình); lấy huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong (phần còn lại ngày nay là nửa phía nam tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) đổi làm phủ Điện Bàn, Quảng Nam; đổi phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi; đổi phủ Thăng Hoa làm phủ Thăng Bình, trong phủ này, huyện Lê Giang đổi làm huyện Lễ Dương, Hy Giang làm huyện Duy Xuyên”.
  • Bài viết Quảng Nam dưới thời các chúa Nguyễn (tác giả: Tôn Thất Hướng) đăng trên: https://baoquangnam.vn/dat-va-nguoi-xu-quang/quang-nam-duoi-thoi-cac-chua-nguyen-121702.html (27/12/2021), có đoạn viết: “Lập xong dinh trấn Quảng Nam, 2 năm sau – năm Hoàng Định thứ 2 (1604), Nguyễn Hoàng cho cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính 2 xứ Thuận Hóa, Quảng Nam. Huyện Điện Bàn vốn thuộc phủ Triệu Phong được tách ra khỏi trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, quản 3 huyện Tân Phước, An Nông, Hòa Vang và cho thuộc vào Quảng Nam dinh. Huyện Lệ Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay là Thăng Bình) được cải thành huyện Lễ Dương; huyện Hy Giang được đổi thành huyện Duy Xuyên”.

[3] Hy Giang, Về tên gọi dòng sông Mẹ xứ Quảng: https://baodanang.vn/channel/5433/201902/ve-ten-goi-dong-song-me-xu-quang-3168102 (ngày 17/02/2019).

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 1). Bản dịch của Viện Sử học. Tập 1 (bộ 10 tập, (Hà Nội: Giáo dục, 2001), 36.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 1), Sđd, 37.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 2), Sđd, 47.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (quyển VII), Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, (Huế: Thuận Hóa, 1992), 335.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (quyển VII), Sđd, 340.

[9] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông, (Hà Nội: Khoa học xã hội, 2014), 200.

[10] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 382.

[11] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 318.

[12] Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Sđd, 410.

VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG


TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam (1804), chọn Huế làm kinh đô của vương triều Nguyễn, mà không dời đô về Thăng Long, vốn là “thượng đô muôn đời của Đại Việt”.

  • TỪ LONG ĐỊA CUỘC…

Sách “Đại Nam nhất thống chí”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chép (Việt dịch): “Kinh sư [Huế] là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam, miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trước, núi cao ngữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi ấy, là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua” (quyển 1).

Từ góc nhìn của Dịch lý và thuật phong thủy, xứ Huế là là “cuộc đất của rồng”, xứng đáng được chọn làm kinh đô của một nước Việt Nam thống nhất sau hơn gần 2,5 thế kỷ bị phân tách Đàng Ngoài – Đàng Trong. Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã đánh giá Phú Xuân (tên cũ của Huế) có “thế đất bằng phẳng như bàn tay, rộng hơn 10 dặm, ở giữa là chính dinh, đất cao bốn bên đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng, ở vị trí càn (tây bắc) trông về hướng tốn (đông nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông, đằng trước là quần sơn chầu về la liệt”, là nơi “có năm lần hổ thủy ôm đằng trước… có ba lần long sa ngăn bên tả”.

Xứ Huế là trung tâm của miền Trung, phía tây có Trường Sơn hùng vĩ che chắn, cuồn cuộn tuôn theo mạch đất nhằm hướng tây bắc – đông nam; phía đông có biển cả bao la, lại nằm trên lưu vực của hệ thống sông Hương – sông Kim Long – sông Bạch Yến; phía nam có núi chắn, phía bắc có sông giăng, xét quan điểm của thuật phong thủy, tất phải có long mạch. Sông Hương là một dòng sông chảy ngược từ phía nam lên phía bắc. Phía nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lưu ở thượng nguồn sông Hương, nơi có những ngọn núi cao, trong đó có Thương Sơn (núi Kim Phụng) là chủ sơn của xứ Huế. Nhìn rộng ra, cả khu vực đồi núi phía Tây của xứ Huế đều bắt nguồn từ những nhánh núi của dãi Trường Sơn tạt ngang ra biển, tạo nên một đại địa cục, phong thủy gọi là hoành long.

Dòng sông Hương trước khi ra đến biển cũng đã uốn lượn, đổi hướng nhiều lần, trước khi ôm trọn cuộc đất, mà về sau được vua Gia Long lựa chọn để xây đắp Kinh Thành Huế. Theo sách “Địa đạo diễn ca” của Tả Ao, một cuộc đất có long mạch uốn lượn, gấp khúc càng nhiều thì địa cuộc ấy càng có nhiều sinh khí. Vua Gia Long đã lựa chọn địa cuộc ấy để kiến tạo diện mạo của kinh đô, với đầy đủ các yếu tố: tiền án (núi Ngự Bình), tả thanh long (cồn Hến), hữu bạch hổ (cồn Dã Viên), triều củng, minh đường, thủy đáo điện tiền… Nói xứ Huế có long địa cuộc là vậy.

Có lẽ vì thế mà Nguyễn Đức Quán, một viên quan thời Nguyễn khi viếng thăm điện Huệ Nam, một thắng tích của xứ Huế, chỉ bằng hai câu thơ đã miêu tả trọn vẹn thần sắc của non nước thần kinh:

Sông xanh uốn khúc thân rồng lượn

Núi thẳm nhìn theo dáng cọp ngồi

… ĐẾN VÙNG ĐẤT CỦA RỒNG

Thăng Long là kinh đô của các triều đại: Lý – Trần – Hồ – Lê sơ – Mạc – Lê Trung Hưng trong gần 8 thế kỷ (1010 – 1789), là vùng đất “rồng bay lên”. Huế là kinh đô của vương triều Nguyễn chỉ trong 143 năm (1802 – 1945), lại là vùng đất hội tụ của rồng. Bởi lẽ, trong gần 1,5 thế kỷ nhà Nguyễn cầm quyền ở Huế, vùng đất này đã trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và nghệ thuật lớn nhất Việt Nam / Đại Nam. Và đó là lý do để hình tượng con rồng hiện diện khắp nơi trên đất Huế và tồn tại cho đến ngày nay.

Con rồng xuất hiện ở trong không gian, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… xứ Huế, với đủ loại chất liệu, nghệ thuật thể hiện, đề tài trang trí, và ý nghĩa biểu đạt.

Về không gian, rồng có mặt trên các đền đài, cung điện, miếu vũ, đình chùa ở trong và ngoài hoàng cung Huế. Rồng xuất hiện ở bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm, đầu hồi, máng xối, bình phong, bậc cấp, vì kèo, khung cửa, nghi môn… của các công trình kiến trúc. Rồng trang trí trên Cửu đỉnh, ngai vàng, bửu tán, án thờ vua quan thời Nguyễn. Rồng làm thành tay núm các con triện, ấn tín, đồ văn phòng tứ bảo… Rồng là họa tiết trang trí trên áo quần, mũ mão, giày dép của các bậc đế hậu, hay có khi là một tác phẩm nghệ thuật riêng biệt trong các sân chầu, đình viên như hai tượng rồng trước sân Duyệt Thị Đường. Rồng còn xuất hiện trên Cửu vị thần công hay là những hoa văn trên các khẩu súng điểu thương của vua Thiệu Trị, hiện vẫn lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế… Người ta có thể bắt gặp hình tượng con rồng ở bất kỳ nơi nào của xứ Huế: trong cung điện vàng son lộng lẫy, chốn lăng tẩm thâm nghiêm, nơi đình chùa miếu vũ bình dị ở các làng quê ven Huế, ở những tượng đài uy nghi, kiến trúc đồ sộ, hay ở những bến sông hay bậc thềm trong công viên…

Về chất liệu, con rồng thời Nguyễn có thể được đúc bằng đồng, chạm trổ trên đá, điêu khắc trên gỗ, xương, ngà và các loại vàng bạc đá quý. Rồng xuất hiện trên vải, lụa trong y phục, mũ mão của vua quan, phi tần. Rồng làm bằng đất nung trong điện Ngưng Hy ở lăng vua Đồng Khánh; đắp bằng vôi vữa ở lăng vua Gia Long hay ở Thế Tổ Miếu; ghép bằng sành sứ và thủy tinh trong cung Thiên Định ở lăng vua Khải Định; làm bằng pháp lam trên bờ nóc và bờ quyết điện Hòa Khiêm ở vua lăng Tự Đức… Rồng là họa tiết trang trí trên đồ sứ ký kiểu, trên tranh treo tường bằng giấy trong Thái Bình Lâu hay trên tranh gương trong điện Biểu Đức ở lăng vua Thiệu Trị…

Nghệ thuật thể hiện con rồng thời Nguyễn ở Huế thực là đa dạng: chạm lộng, chạm nổi, đúc đồng, gia công bằng vàng bạc, đá quý, khảm cẩn bằng trai, sành sứ, dệt thêu trên vải, vẽ bằng bột màu trên giấy, trên đồ sứ, chế biến từ rau củ thành những món ăn sang trọng trong ẩm thực cung đình Huế… Khi thì tạo thành hình khối, lúc lại thể hiện trên bề mặt phẳng, lúc khác lại vẽ chìm dưới lớp men phủ. Thực là thiên hình vạn trạng.

Đề tài thể hiện cũng là một nét đặc sắc khi nói về rồng thời Nguyễn. Các motif: lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nhật, long hí thủy, hồi long, viên long, long truy, long phụng, long lân, long thọ, long vân khánh hội, trúc hóa long, cúc hóa long… xuất hiện ở hầu khắp các di tích kiến trúc, các tác phẩm trang trí, nghệ thuật thời Nguyễn hiện đang được bảo lưu ở Huế.

Con rồng đã vượt khỏi chốn cung đình và hiện diện khắp nơi trên xứ Huế, trở thành một nét văn hóa, một biểu tượng nghệ thuật của cố đô Huế. Ngoài những hình tượng rồng mang biểu trưng của đế vương: uy nghi và cầu kỳ, xứ Huế còn có những con rồng đã được “dân dã hóa” thành những con giao, con cù… bình dị, xuất hiện ở nơi đình làng, chùa miếu dân gian. Và đôi khi, những con rồng “dân dã” này lại sống động hơn, giàu tính biểu cảm hơn những con rồng uy nghi ở chốn cung đình. Đây chính là điều tạo nên sự thú vị cho ai đó khi họ tìm đến Huế để tham quan, khám phá và tìm hiểu về “vùng đất của rồng.

Năm 2024 là năm Giáp Thìn – năm của con rồng, người viết bài này ước mong những con rồng Huế sẽ bước ra từ văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc…, sẽ cất cánh từ thế đất long địa cuộc, biến thành biểu tượng trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa…, để xứ Huế thực sự “hóa rồng” trong tương lai.

T.Đ.A.S.

Kết quả cuộc thi cải tạo nâng cấp khu vực cảnh quan tượng đài Mẹ Nhu Quận Thanh Khê, Đà Nẵng

Ngày 12/12, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư thành phố Đà Nẵng đã ký Quyết định số 29/QĐ-HKTS công nhận kết quả cuộc thi “Cải tạo và nâng cấp cảnh quan khu vực Tượng đài Mẹ Nhu Quận Thanh Khê, Đà Nẵng”. Cuộc thi năm nay ghi nhận 13 bài dự thi đạt giải, trong đó có 01 giải Nhất, 01 giải Nhì, 02 giải Ba, 04 giải Khuyến khích, 05 giải Cộng đồng. 

Cuộc thi được tổ chức nhằm kỷ niệm 55 năm chiến công Mẹ Nhu và 07 Dũng sĩ Thanh Khê (26/12/1968 -26/12/2023). Đây là hoạt động nằm trong chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng với Ủy ban Nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Kiến Việt xin giới thiệu với bạn đọc các đồ án đạt giải cuộc thi “Cải tạo nâng cấp khu vực cảnh quan tượng đài Mẹ Nhu Quận Thanh Khê, Đà Nẵng”. 

Giải Nhất

  • Tên đồ án: Dòng sử (TK11) 
  • Nhóm tác giả: Nguyễn Trần Hạ Vy, Đặng Lê Duy Vỹ, Mai Bá Nam, Lê Thị Mỹ Duyên, Nguyễn Cửu Hoàng Lân (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng)

Sự hi sinh của Mẹ Nhu đã gây một xúc động lớn, một niềm cảm phục sâu sắc trong lòng nhân dân Đà Nẵng. Bức tượng đài Mẹ Nhu được dựng nên nhằm ghi ơn công lao của mẹ và các chiến sĩ trong trận chiến. Với niềm tôn kính sâu sắc, nhóm thiết kế hi vọng sự cải tạo không gian xung quanh tượng đài sẽ gợi nhớ lại sự hào hùng của trận chiến nhưng cũng không kém phần mới mẻ để phù hợp với một Đà Nẵng đang phát triển ngày nay. 

Giải Nhì

  • Tên đồ án: Sức mạnh Quân Dân (TK07)
  • Tác giả: Công ty TNHH PsA House

Nhóm thiết kế lấy hình tượng dải lụa làm chủ đạo cho ý tưởng thiết kế để tôn vinh giá trị đoàn kết của quân với dân trong thời kỳ kháng chiến. 7 dải lụa với 7 màu sắc khác nhau tượng trưng cho 7 chiến sĩ, uyển chuyển mềm mại biến đổi khôn lường nhưng đầy sức mạnh. 7 dải lụa như mọc lên từ lòng đất, di chuyển men theo chiều dài của khu đất uốn lượn vào nhau tiến về phía trung tâm của tượng đài, tại đây các dải lụa đan vào nhau tạo cao trào vươn lên trở thành biểu tượng của ngọn lửa sức mạnh và tôn vinh. 

Giải Ba

  • Tên đồ án: Chuyện kể rằng (TK08)
  • Nhóm tác giả: Hồ Nghiêm Thúy Quỳnh, Phùng Tiên Tinh, Nguyễn Đình Tuấn (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng)

Những yếu tố lịch sử, văn hóa và thiên nhiên con người quận Thanh Khê đều được đưa vào từng chi tiết thiết kế. Điểm nhấn chính của tổ hợp cảnh quan là “Câu chuyện lịch sử…” – Tượng đài Mẹ Nhu được cải tạo và thêm vào một không gian tưởng niệm 7 Dũng sĩ Thanh Khê. Đây là không gian mang đậm dấu ấn linh thiêng và lịch sử truyền tải qua kiến trúc, ánh sáng và đường nét mềm mại với mặt nước. 

  • Tên đồ án: Theo dòng lịch sử (TK01)
  • Tác giả: Công ty TNHH MTV Tư vấn và Xây dựng TAC

Ý tưởng thiết kế mang tên “Theo dòng lịch sử từ quá khứ, hiện tại hướng tới tương lai, khát vọng vươn lên của thành phố Đà Nẵng”. Tượng Mẹ Nhu sử dụng màu sắc và biểu tượng tượng trưng cho “Hòa bình – thể hiện thời điểm hiện tại” để tiếp diễn cho tương lai. Khu vực mở rộng sử dụng màu sắc đối lập: màu tối thể hiện được đoạn quá khứ, lịch sử, màu sáng thể hiện được đoạn tương lai phát triển thông qua trục đối xứng ảo. 

Giải Khuyến khích

  • Tên đồ án: Mẫu Liên Thiên Kiều (TK12)
  • Nhóm tác giả: Khoa Kiến trúc Trường Đại học Duy Tân: Nguyễn Anh Tài, Văn Viết Nam; Khoa Mỹ thuật Ứng dụng Trường Đại học Duy Tân: Châu Đức Tín, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Nhân Hậu, Lê Anh Dũng; Khoa Kiến trúc Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng: Nguyễn Chánh Trực

Thiết kế tuân theo mạch câu chuyện và thẩm mỹ kiến trúc nhằm hướng tới truyền tải thông điệp về văn hóa lịch sử của thành phố Đà Nẵng đến người dân và khách du lịch. Thiết kế cầu đi bộ, đài ngắm cảnh trên cao để khai thác góc nhìn của của người dân hướng gần Mẹ Nhu. Thiết kế tạo tính liên kết chung cho cảnh quan và người sử dụng khu vực khuôn viên tượng đài Mẹ nhu và các khu vực có liên quan, đảm bảo đáp ứng nhu cầu dành cho tất cả người dân. 

  • Tên đồ án: Mẹ Lê Thị Dành (TK02)
  • Tác giả: Mai Nguyễn Thu Hà

Khối công trình chính lấy ý tưởng từ hình tượng ngôi sao vàng năm cánh gắn liền với hình ảnh cờ Tổ quốc, với chiếc mũ cối, với hình ảnh của người lính Việt Nam trong những cuộc kháng chiến. Đây là biểu tượng cao đẹp của tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam. Sử dụng bê tông làm vật liệu chính thể hiện được sự mạnh mẽ từ ý nghĩa đến hình thức cho công trình, thể hiện rõ được ý đồ của người thiết kế – nỗi đau mất mát trong chiến tranh và sự hi sinh thầm lặng của mẹ Việt Nam anh hùng vẫn mãi luôn trường tồn. 

  • Tên đồ án: Thanh Âm Kiều Thị (Tk13)
  • Nhóm tác giả: Khoa Kiến trúc Trường Đại học Duy Tân: Lê Bình An, Nguyễn Thị Diễm Quyên, Nguyễn Hoàng Diệu Hiền, Nguyễn Thị Tuyết Nhi; Khoa Mỹ thuật Ứng dụng Trường Đại học Duy Tân: Lê Văn Tuấn, Nguyễn Phi Tiến Dũng, Trương Quang Đăng Dương; Khoa Kiến trúc Quốc tế Trường Đại học Duy Tân: Lê Phú Quang
  • Tên đồ án: Xuôi dòng Xuân Xanh (TK09)
  • Nhóm tác giả: Nguyễn Thành Tấn, Nguyễn Ngọc Hiếu, Huỳnh Ngọc Hiếu (Khoa Kiến trúc Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng)

Đồ án là một dự án thiết kế cải tạo và nâng cấp cảnh quan với ý niệm mang đến cho người dân địa phương và du khách đến tham quan một không gian hòa nhập cộng đồng chất lượng và thân thiện. Công trình được tạo ra trên mục đích tạo ra sự tương tác xã hội giữa con người với con người, con người với các đối tượng tinh thần khác len lỏi trong tâm hồn mỗi người con quận Thanh Khê thông qua các chất liệu có sẵn từ những câu chuyện của địa phương. Khi trải nghiệm những tinh hoa văn hóa miền biển thông qua mọi miền tiềm thức và thông qua những trang lịch sử hào hùng bi tráng của quận Thanh Khê để làm sống lại một niềm tin yêu, một nét vàng son về thời đại của thế hệ cha anh đi trước. 

Giải Cộng đồng

  • Tên đồ án: Choàng (TK06)
  • Nhóm tác giả: Phạm Văn Hoàng, Nguyễn Hoàng Anh (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng)

Lấy ý tưởng từ chiếc khăn choàng cổ, một đồ dùng không thể thiếu của các người mẹ Việt Nam anh hùng. Nhóm thiết kế cách điệu và tạo đường nét cho công trình chính, vừa tạo nên sự uyển chuyển đường nét hiện đại cũng như mang đậm các giá trị lịch sử một thời kháng chiến. 

  • Tên đồ án: Cải tạo nâng cấp khu vực cảnh quan Tượng đài Mẹ Nhu, quận Thanh Khê
  • Nhóm tác giả: Nguyễn Công Dũng, Ngô Quốc Thắng, Tuấn Kiệt, Lê Thị Quý Châu (Khoa Kiến trúc Xây dựng, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng)
  • Tên đồ án: Hoa Của Đất (TK03)
  • Nhóm tác giả: Đoàn Văn Cường, Võ Thành Đạt (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng)

Hoa của Đất không chỉ là biểu tượng của vẻ đẹp tinh khôi phồn thịnh. Trong từng cánh hoa, chúng ta tìm thấy sức sống mãnh liệt và sự kỳ diệu của tự nhiên. Hoa là những nhạc điệu của mùa xuân, là bức tranh hòa mình vào sắc màu thiên nhiên tươi mới. Hoa của Đất còn là nguồn cảm hứng vô tận cho con người. Nhìn vào những những đóa hoa, chúng ta tìm thấy vẻ đẹp trong sự đơn giản, và từ đó, học được cách trân trọng những giá trị giản dị nhất của cuộc sống. 

  • Tên đồ án: Hòa Sắc (TK04)
  • Nhóm tác giả: Đoàn Văn Cường, Võ Thành Đạt (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng)

Với ý tưởng “Hòa sắc”, nhóm thiết kế mong muốn chuyển đổi không gian thành một trải nghiệm tương tác, nơi mọi người không chỉ nhận thức được vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn cảm nhận được năng lượng tích cực và sự hòa mình vào không khí sôi động của thành phố biển Đà Nẵng. 

  • Tên đồ án: Mẹ Nhu và 7 Dũng sĩ Thanh Khê (TK05)
  • Nhóm tác giả: Đặng Hữu Hòa, Trần Thái Tuấn, Văn Công Hiền, Nguyễn Đặng Uyên Nhi (Khoa Kiến trúc Xây dựng, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng)

Mẹ Nhu là một người mẹ Việt Nam, người mẹ miền Trung hiền hòa, khắc khổ nhưng lại vô cùng kiên cường vì vậy mà sự ra đi của bà đã lấy đi rất nhiều giọt nước mắt của người dân, người con lúc bấy giờ. Nhóm lấy ý tưởng đặt một hồ nước dưới chân mẹ nhằm thể hiện sự tiếc thương và những giọt nước mắt của người dân về sự ra đi của mẹ. Ngoài ra, hình ảnh làn nước mát còn nhằm mục đích xoa dịu 7000 vỏ đạn được chế tác làm nên tượng của mẹ. Xung quanh tượng Mẹ Nhu, nhóm bố trí 7 ngọn đèn tương trưng cho 7 dũng sĩ Thanh Khê đã làm nên chiến công vang dội, bảo vệ căn cứ Thanh Khê, củng cố lòng tin cho nhân dân. 

Biên tập: Ngọc Hà- Kiến Việt.vn

CÂU CHUYỆN CÓ THẬT VỀ ĐÀNG SAU CA KHÚC HAI MÙA NOEL CỦA ĐÀI PHƯƠNG TRANG.

Từ xưa đến nay, tại Việt Nam, mà đặc biệt là ở Sài Gòn, Noel không còn chỉ là lễ hội của người Công Giáo, mà trở thành mùa lễ hội chung của lương dân.
Đêm 24 của tháng 12 dương lịch mỗi năm, người dân đổ ra đường để chào đón ngày Giáng Sinh.
Cho dù ở Việt Nam không có cái lạnh lẽo thực sự của đêm đông, không có tuyết giăng trắng lối ngập đường, nhưng không khí se lạnh đặc biệt của ngay đêm Giáng Sinh cùng với đèn hoa lấp lánh làm cho lòng người rộn rã, tràn ngập những yêu thương trong không khí đón chào mùa lễ hội.
Một mùa Giáng Sinh của gần nửa thế kỷ trước ở Sài Gòn, có một nhạc sĩ đã hòa vào dòng người đó để đi dự lễ ở Nhà Thờ Đức Bà, rồi chứng kiến một cảnh tượng gây xúc cảm để ông sáng tác thành một bài hát luôn luôn góp mặt trong danh sách những bài nhạc mùa Noel được yêu thích nhất, đó là nhạc sĩ Đài Phương Trang với ca khúc Hai Mùa Noel.

Kể lại với báo giới, nhạc sĩ kể lại rằng đó là 9 giờ đêm ngày 24-12-1972, ông có mặt trước nhà thờ và chợt thấy một thanh niên trang phục lịch sự đứng bên gốc cây, có vẻ đang ngóng đợi một điều gì.
Đến giờ Thánh Lễ, mọi người đều tiến về phía giáo đường thì người thanh niên ấy vẫn chỉ đứng đó, mắt nhìn bốn phía, gương mặt lộ vẻ lo âu, thỉnh thoảng đưa tay xem đồng hồ, hình ảnh đó cứ ám ảnh trong tôi.
Rồi khi tan lễ vào lúc nửa đêm, đoàn người lũ lượt ra về, tôi để ý và rất ngạc nhiên khi thấy người thanh niên vẫn còn đứng ở chỗ cũ với vẻ bồn chồn, buồn bã.
Tôi đi ngang qua và khẽ nhìn khuôn mặt người ấy, lòng thầm cám cảnh cho một người mãi đợi chờ mà người kia không hiểu vì sao lại không đến chỗ hẹn? – nhạc sĩ Đài Phương Trang kể lại.

Đến mùa Noel năm sau (1973), khi này nhạc sĩ Đài Phương Trang làm việc trong hãng băng dĩa Continental – Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông làm giám đốc, đang thực hiện cuốn băng Sơn Ca số 3 chủ đề Giáng Sinh.
Ông giám đốc đã đề nghị nhạc sĩ Đài Phương Trang viết một ca khúc về Noel. Khi đó nhạc sĩ nhớ lại hình ảnh một năm trước đó, cảm xúc cũ lại hiện về tràn ngập trong lòng, nên chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ đã hoàn thành ca khúc Hai Mùa Noel. Bài hát này được ca sĩ Anh Khoa thu âm đầu tiên và được phát hành vào dịp Noel năm 1973 trong băng Sơn Ca 3.

Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường.
Mùa Noel đó anh dắt em vào tình yêu.
Quỳ bên hang sâu nghe lời kinh thánh vang cầu.
Nhìn nhau không nói nên câu vì biết nói nhau gì đâu.
Mùa Noel qua chúng ta chia tay giã từ.
Hẹn nhau năm tới khi Giáng Sinh về muôn nơi.
Mình trao cho nhau hoa lòng nhẫn cưới thiệp hồng.
Dìu nhau xem lễ đêm Đông.
Bên nhau muôn đời em ơi.
Nhưng nay, mùa Noel đến rồi.
Từng đêm anh vẫn nguyện cầu, cầu cho ta mãi yêu nhau.
Đêm nay giáo đường vang tiếng kinh cầu.
Nơi xưa mình anh đứng không thấy bóng em đâu.
Nửa đêm tan lễ bước chân bơ vơ trở về.
Chợt nghe nước mắt rơi ướt trên bờ môi khô.
Rồi Noel qua như mộng ước cũng xa rồi.
Gặp nhau chi để thương đau.
Yêu nhau sao đành xa nhau?

Có thể thấy với tâm hồn nhạy cảm của một nhạc sĩ, chỉ cần một khung cảnh thoáng qua trước mắt cũng đủ để Đài Phương Trang viết thành bài hát về một chuyện tình buồn thương trong mùa Noel, mà hầu hết là do nhạc sĩ tưởng tượng ra.
Tình yêu của đôi tình nhân trong bài hát được bắt đầu vào một đêm Giáng Sinh đầy lãng mạn.
Họ gặp nhau khi cùng đến nhà thờ, rồi sau đó cùng chung ước nguyện:

Hẹn nhau năm tới khi Giáng Sinh về muôn nơi.
Mình trao cho nhau hoa lòng nhẫn cưới thiệp hồng.
Dìu nhau xem lễ đêm Đông.
Bên nhau muôn đời em ơi!…

Nhưng đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất mà chàng trai được quỳ cạnh người mình yêu trong đêm Noel.
Không hiểu vì lý do gì, mối tình đẹp đó đã tan vỡ để lại bao khổ đau tiếc nuối:

Rồi Noel qua như mộng ước cũng xa rồi.
Gặp nhau chi để thương đau.
Yêu nhau sao đành xa nhau…

Dù là một câu chuyện tưởng tượng được nhạc sĩ cảm tác khi nhìn thấy một chàng trai lẻ loi chờ đợi người yêu trong đêm Noel, nhưng có lẽ bài hát đồng cảm được với hoàn cảnh của nhiều người, nên Hai Mùa Noel trở thành một trong những bài tình ca buồn được mở nhiều nhất mùa Giáng Sinh hàng năm. Câu chuyện về bài hát còn ly kỳ hơn nữa, khi mà sau này nhạc sĩ Đài Phương Trang kể lại rằng chỉ 2 tuần sau khi bài hát được phát hành và công chúng đón nhận, nhạc sĩ đã nhận được thư của người tên Thanh gửi đến.
Trong thư, ông Thanh tự nhận mình chính là người thanh niên đã đứng chờ người yêu trước Vương Cung Thanh Đường vào năm trước đó, và ngỏ lời cảm ơn nhạc sĩ đã viết lên nỗi lòng của mình. Ông cũng cho biết nhờ ca khúc này mà gặp và nối lại tình yêu với cô Duyên, là người con gái đã không đến chỗ hẹn vào đêm Giáng Sinh năm 1972 vì một sự hiểu lầm.

Tình yêu của họ ngỡ đã tan vỡ, nhưng nhờ bài hát với những ca từ và hình ảnh về chàng trai cứ đứng chờ người yêu, mãi đến lúc tan lễ mà vẫn chưa về đã gây xúc động cho Duyên. Cô cảm nhận được tình cảm chân thành của ông Thanh, bao nhiêu hờn trách, hiểu lầm vụt tan biến và họ đã nối lại mối duyên tình.
Sau đó, nhạc sĩ Đài Phương Trang có hẹn gặp ông Thanh và nhận ra đúng Thanh là người thanh niên năm trước đã để lại trong trí ông một ấn tượng khó quên.
Khoảng ba tháng sau, ông nhận được thiệp hồng và đã đến dự lễ cưới của Thanh – Duyên.

Trên báo Thanh Niên, nhạc sĩ Đài Phương Trang tâm sự:
“Tôi được thêm hai người bạn mới.
Nhưng sau 1975 Thanh và Duyên không còn ở Sài Gòn nữa mà chuyển về quê tận Cần Thơ sinh sống.
Bẵng đi một thời gian, khoảng 3 năm sau tôi nhận được tin vợ chồng họ đã ra nước ngoài.
Từ đó đến nay, đã gần 40 năm rồi, tôi không hề nhận được một tin tức nào về Thanh và Duyên. Không biết họ ở đâu?
Mỗi năm vào mùa Giáng sinh, lòng tôi lại rộn lên những cảm xúc buồn vui khó tả.

Vui vì ca khúc Hai mùa Noel qua mấy chục năm vẫn được công chúng hát lên đón mừng Giáng sinh.
Buồn vì không biết hai người bạn có liên quan đến nội dung của ca khúc này, bây giờ trôi dạt đến phương trời nào?
Nhưng dù bây giờ hai bạn ấy ở bất cứ nơi đâu tôi vẫn luôn mong họ được an lành trong mỗi mùa Noel và trong cuộc sống hằng ngày.

Qua Báo Thanh Niên, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn và tri ân đến các bạn yêu nhạc, dù qua mấy mươi năm nhưng cứ mỗi dịp đón Giáng sinh lại vẫn nhớ đến và hát lên ca khúc:
“Hai mùa Noel” đầy cảm xúc và nỗi niềm của tôi.

https://youtu.be/lftxbgN22is?si=lAcsWRPcHDqnMZm7
Đông Kha (nhacxua.vn).