Lý giải vì sao người Bắc Âu không màng”nhà lầu, xe hơi'” nhưng vẫn hạnh phúc!

Người Việt cần đọc
19/5/2024

“Thực phẩm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.
Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.
Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp
Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6h/ngày,
Hoặc
Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…
Điểm chung của các quốc gia này là gì?
Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.
Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking.Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

  • Tăng trưởng kinh tế cao,
  • Chỉ số phát triển con người cao,
  • Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?
Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.
Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc.
Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:
Không hề có nhà cao tầng,
Người dân ăn mặc rất mộc mạc,
Đi những chiếc xe cũ kỹ
Và ăn những món ăn đơn giản.
Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực con người.
Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là:
“Chất lượng cuộc sống”.
Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn:
“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.
Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn:
Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng.
So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai.
Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm Chất”,
chứ không phải là “Vật Chất” trong cuộc sống.
“Nhanh một chút”,
“nhanh một chút!”.
Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống:
“Chậm Một Chút!”,
nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.
Những con người
“Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự:
“Đơn Giản”
Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới.
Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.
“Thực phẩm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.
Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”
Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút.
Ví dụ
Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70-80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu.
Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.
Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng.
Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.
•Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng
Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triền khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.
•Không cần phải khoe của
Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.
Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.
Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây!
Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’ .
Về thời gian làm việc.
Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy.
Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách.
Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.
Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do chính thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.
“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu.
Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự:
“đau khổ, giày vò”.
Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.
Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc.
Nghe giống như đặc điểm của những kẻ:
‘lười nhưng thiên tài’
mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.
Đúng!
Và đây là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.
Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho cho gia đình.
Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ:
“Gia Đình”
Trong cuộc sống của người Bắc Âu,
gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa,
cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…
Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.
Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình.
Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông ba có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.
Điều cuối cùng, đối với người đàn ông Bắc Âu, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công nữa, mà chính là phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ. Với họ, khoảnh khắc có lẽ là hạnh phúc nhất trong ngày chính là khi đứa trẻ của mình leo lên đầu, ôm lấy cổ ba chúng, hôn một cái và thủ thỉ nói:
“Chúc cha ngủ ngon nhé”.
Đây mới là cách đầu tư thông minh nhất nếu bạn muốn có cuộc sống hạnh phúc!

  • Cang Huỳnh lược dịch từ Le Saviez-Vous .

Vì sao bàn chân trắng hơn tay và mặt?

Tào Tháo đi chân đất trên đường và hỏi Tư Mã Ý : “Ngươi nói vì sao bàn chân ngươi trắng hơn tay và mặt?”. Tư Mã Ý trả lời rằng ông không biết, và Tào Tháo nói tiếp: “Bởi vì bàn chân luôn được che đậy!”.

Câu hỏi của Tào Tháo đương nhiên chứa đựng ẩn ý sâu xa.

÷ Chúng ta đều biết lòng bàn chân luôn lõm vào và có thể giấu giếm một cái gì đó.

Thế sự vô thường, lòng người phức tạp, nhìn vậy mà không phải vậy, mỗi người đều có phần tối và bí mật riêng.

Ở đây, Tào Tháo đang ám chỉ Tư Mã Ý có dã tâm và tham vọng riêng.

÷ Đồng thời, bàn chân trắng hơn mặt và tay là vì thường xuyên mang giày, che khỏi ánh nắng.

Tào Tháo hỏi câu này với dụng ý cảnh cáo lòng trung thành của Tư Mã Ý.

Tư Mã Ý làm việc dưới trướng của Tào Tháo; Tư Mã Ý là bàn chân, còn Tào Tháo chính là đôi giày cho bàn chân xỏ vào.

Nếu Tào Tháo không cho đôi chân ấy mang giày nữa thì xem như Tư Mã Ý không còn được che chở, bảo hộ.

Tào Tháo muốn cảnh báo cho Tư Mã Ý rằng sống dưới quyền của ai thì phải biết thân biết phận, từ bỏ dã tâm, nếu không hậu họa ập đến trở tay không kịp.

Nhận ra được ý nghĩa phía sau câu hỏi của Tào Tháo, Tư Mã Ý mới hạ mình phủi bụi trên nền đất, dọn đường cho Tào Tháo bước đi.

Hành động này thể hiện việc Tư Mã Ý đã thấu hiểu dụng ý của chủ nhân, Tào Tháo thấy thế thì hài lòng bước về xe ngựa.

CafeF

BA ĐIỀU TRONG MỘT ĐỜI NGƯỜI…..

Trần Cung phò tá Tào Tháo hết lòng nhưng bất mãn rồi từ bỏ theo Lã Bố, cuối cùng lúc chết mới thấy mình lại nhầm,

Nễ Hành, Dương Tu thích thể hiện, nói hay hơn làm, sau cùng về làm bạn với Diêm Vương,

Khả năng Bắc Phạt lớn nhất cho Thục Hán là chiến dịch lần thứ nhất, tuy nhiên thất bại của Mã Tốc tại Nhai Đình đã kéo theo hệ lụy quá lớn, làm các chiến dịch ngày sau chỉ còn là sức cùng lực kiệt,

Do đó, 3 điều trong đời một khi đã đi qua sẽ không thể lấy lại được đó là lựa chọn, lời nói và cơ hội.

Khi giấc mộng Hưng Hán với nền tảng Long Trung đối sách của Khổng Minh vẫn mãi không hồi kết cùng Thục Hán.

Tào Tháo nỗ lực xây dựng cơ đồ cho Tào Thị mấy đời nhưng tất cả lại vụn vỡ trong tay Tào Sảng.

Tôn, Lưu, Tào đều thành công với bước đường của chính mình nhưng sau cùng nó không thể đảm bảo thiên hạ không thể tận quy Tư Mã.

Thế nên, 3 thứ trong đời không bao giờ bền vững được, đó là giấc mơ, tài sản và thành công.

Sự tận tụy tới chết không thôi của Gia Cát Lượng được coi là tấm gương về cái gọi là chí hiếu,

Chu Du gặp Tôn sách trở thành tri kỉ, người dốc lòng phò tá, kẻ kia tới chết cũng tin tưởng, đó là bài sống về lòng người,

Tư Mã Ý có thể liều mạng, có thể là đê hèn vì chữ nhẫn song thắng lợi cuối cùng lại khiến nhiều kẻ phải cứng họng,

Vậy nên, 3 điều làm nên giá trị một con người đó là tận trung, chân thực và thành đạt.

Và quả thực kinh nghiệm tới hôm nay ta có thể nói được đúng là người thầy tàn ác vì nó luôn bắt người ta phải trả giá trước khi nhận lại được bài học, phải không?

Anh Hùng Tam Quốc

Ai bảo làm vua sướng?


Nếu có bộ sử nào của triều đình mô tả về vua, thì hầu hết là ca tụng công đức của vua, và có lẽ không một người Việt nào lúc đó dám viết chân thật và khách quan về tính cách của vua, cuộc sống sinh hoạt của vua, là những điều thú vị mà hầu như ai cũng muốn tìm hiểu.


Bài viết sau đây là của một người Pháp tên là Michel Đức Chaigneau, từng nhiều lần được tiếp kiến vua Gia Long, Minh Mạng, và cả Hoàng hậu từ khi còn nhỏ, trong các lần theo cha vào cung cấm. Cha của Michel Đức là một viên quan người Pháp tên là J.B. Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, một trong số những người Pháp đã phục vụ cho vua Gia Long), lấy vợ là một phụ nữ Huế tên Hồ Thị Huề.


Những năm cuối đời, ông Michel Đức Chaigneau về sống tại Pháp và viết hồi ký về những câu chuyện mà ông đã được tận mắt thấy tai nghe khi còn ở kinh thành Huế thuở nhỏ. Lúc đó ông không còn ràng buộc gì với triều đình Huế, không sợ tội khi quân phạm thượng, nên có thể viết ra những câu chuyện chân thật nhất về các vị vua triều đình Huế. Ông mô tả đầy đủ những tính cách cả tốt lẫn xấu của vua Gia Long và Minh Mạng mà không một người Việt nào thời đó dám viết.


Theo lời kể của Michel Đức, có một câu chuyện thú vị về cách mà vua Gia Long đối mặt với chốn tam cung lục viện, giải quyết những cuộc cãi vã và ganh ghét giữa vô số các cung tần của mình. Trong những lần trao đổi thân tình với vị quan người Pháp, vua Gia Long thường nói việc trị quốc đối với ông dễ hơn và ít tốn công hơn là việc cai quản chốn cung cấm. Có một hôm trong một lần tiếp kiến riêng sau buổi ngự triều, vua nói: “Khanh nghĩ là ta đã hết việc khi giải quyết xong những gì đang đợi ta đàng kia (ngài chỉ tay về phía cung cấm), trong cung cấm khi ta rời khỏi đây. Ở đây bây giờ, ta cảm thấy thích thú khi trao đổi với những người hiểu biết, họ lắng nghe ta, hiểu ta, và nếu cần, thì nghe lời ta. Đàng kia (trong cung cấm), ta phải đối mặt với lũ đàn bà yêu quái, cãi cọ với nhau, đối xử tệ bạc, xâu xé nhau, rồi tất cả tới đòi ta phân xử công minh. Nếu ta mà xử đúng người đúng tội thì bọn họ không ai thoát tội hết, trong khi ta không biết chắc được ai trong bọn họ thua kém người kia về sự tàn độc”.
Sau một hồi im lặng, vua Gia Long nói tiếp: “Này, lát nữa đây, ta sẽ bị vây quanh bởi một đám yêu nữ sẽ hét vào tai ta đến điếc cả tai (nói đến đây, vua giả giọng và cử chỉ của người phụ nữ đang điên tiết lên): “Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ xét xử công minh cho, con mụ kia đã chửi thần thiếp…” hoặc là: “người ta đã đối xử tệ với hạ thần, muôn tâu bệ hạ, xin phân minh cho hạ thần”, rồi một tá yêu nữ khác lại đến kêu than: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ không còn sủng ái thần thiếp, bệ hạ đã chiếu cố kẻ khác, muôn tâu bệ hạ… xin đến lượt thần thiếp”.


Vị quan Pháp nghe vua kể đã không nhịn được cười, và gợi ý: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ có thể giảm lo âu phiền muộn bằng cách giảm đi số cung tần mỹ nữ…”


Nhà vua liền nói: “Suỵt, nói khẽ thôi, nói khẽ thôi”. Vua cho đám hầu cận lui ra rồi nỏi nhỏ: “Này ông, nếu như các quan lại đồng nghiệp của ông mà nghe được những lời ông vừa thốt ra thì ông sẽ là kẻ thù không đội trời chung với bọn họ. Nói nghe nè, gần như tất cả cung phi cung tần đều là con gái của các quan. Chẳng hạn mới đây có một vị đã đề nghị đưa con gái vào cung, ta đã lớn tuổi nhưng không thể từ chối được. Nếu từ chối thì ta sẽ làm ông ta không vui, vì ở xứ này đưa được con gái vào cung là một vinh dự, vừa tăng vị thế cho quan, còn ta thì đảm bảo được về sự trung thành của vị quan đó. Ta phải xử sự sao cho vừa lòng tất cả mọi người, nhất là các bà, vì các bà còn đáng sợ hơn cả phía các ông. Nếu như ta bỏ bê một trong các quý phi, thì ngay lập tức cô ấy sẽ than thở với cha của mình, rồi lão ta sẽ khéo léo đồn thổi cái gì đó để làm ta xấu mặt trước muôn dân”.


Việt Nam Trước 75

CUỘC ĐỐI THOẠI KỲ LẠGIỮA PHI HÀNH GIA NỔI TIẾNG VÀ HOÀ THƯỢNG THÁNH NGHIÊM


Nguồn: https://thuvienhoasen.org/
🪐💫🪐

Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào ngày 31 tháng 1 năm 1971.
Ông đã đến Đài Loan năm 2008 tham dự một hội thảo Khoa học và có dịp gặp gỡ và đối thoại cùng Hoà thượng Thánh Nghiêm. Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh của tác giả Nguyên Phong.
—🪐💫🪐—

Ảnh: Phi hành gia Edgar Mitchell – Hoà thượng Thánh Nghiêm

Sau bữa ăn, ông Mitchell hỏi tôi:

  • Ngày mai chúng tôi sẽ đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm, anh có muốn đi cùng với chúng tôi không?
  • Dĩ nhiên tôi không thể từ chối một cơ hội hiếm có như vậy.

Buổi gặp gỡ được sắp đặt trước này diễn ra tại giảng đường Đại học Đài Bắc cho một số sinh viên và giáo sư tham dự. Giáo sư Yeh là người chủ trì buổi nói chuyện.
Giáo sư Yeh bắt đầu cuộc gặp mặt:

  • Mitchell, ông hãy kể về trải nghiệm lạ lùng khi bay trên không gian vũ trụ cho Hòa thượng Thánh Nghiêm nghe và hỏi ngài về những thắc mắc của ông đi.

Phi hành gia Mitchell lên tiếng:

  • Thưa Hòa thượng, sau khi hoàn tất sứ mệnh trên mặt trăng, chúng tôi bắt đầu bay trở về trái đất. Khi bay trong không gian, phi thuyền của chúng tôi phải liên tiếp xoay tròn theo trục di chuyển 360 độ để giảm sức nóng phát ra từ ánh sáng mặt trời. Do đó, cứ mỗi hai phút thì tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng và mặt trời qua cửa kính của phi thuyền. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian, vì không có bầu khí quyển nên chúng tôi nhìn thấy các hành tinh rất rõ. Khi ở trên trái đất, chúng ta nhìn lên bầu trời và thấy các vì sao lấp lánh vì ảnh hưởng của bầu khí quyển; nhưng trong không gian, tất cả đều sáng rõ như một mạng lưới khổng lồ với hàng ngàn hàng vạn vì sao trông như những hạt kim cương tỏa sáng. Đó là một hình ảnh tuyệt vời đối với các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay, mọi người đều có thể nhìn thấy hình ảnh này qua kính viễn vọng Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ chụp được và đưa lên mạng. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy vũ trụ đẹp vô cùng, không lời nào có thể diễn tả được.

Là một nhà khoa học, tôi biết rằng tất cả những tế bào, những nguyên tử trong cơ thể tôi, hay cơ thể của những người bạn tôi trong phi thuyền, và ngay cả những nguyên tử cấu tạo nên phi thuyền, đều phát xuất từ hành tinh của chúng ta hay chính là khởi nguồn trong vũ trụ. Mọi hiện tượng vật chất đều phát xuất từ vũ trụ này. Từ đó, tôi ý thức rằng thân thể của tôi và tất cả mọi vật trong vũ trụ không có gì sai biệt. Thay vì là một cá thể độc lập, một thành phần riêng rẽ, tôi ý thức rằng tất cả cùng chung một nguồn gốc. Ngay khi đó, toàn thân tôi bỗng nhiên rung động mãnh liệt. Tôi thấy mình chìm đắm trong một cảm giác bình an lạ lùng không thể diễn tả. Trải nghiệm này tiếp tục diễn ra mỗi khi tôi không bận rộn. Là phi hành gia, dĩ nhiên chúng tôi rất bận vì vừa phải điều khiển phi thuyền, vừa phải hoàn thành những thí nghiệm khoa học trong phi thuyền, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diệu kỳ của vũ trụ và cảm nhận cảm giác bình an lạ lùng này.

Với mỗi vòng quay của phi thuyền, tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng, mặt trời, cùng các vì tinh tú lấp lánh. Tôi thấy vũ trụ giống như một tấm lưới với hàng triệu vì sao toát ra thứ ánh sáng rực rỡ, và tôi ý thức rõ ý niệm “vạn vật đồng nhất thể”. Tôi hiểu rằng nếu đã đồng nhất với tất cả thì vạn vật đều liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời được. Đây là một quan niệm mới lạ mà từ trước đến nay, các nhà khoa học chúng tôi không ai nghĩ đến.
Trong trải nghiệm bình yên đặc biệt đó, tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là ai? Tôi từ đâu tới đây? Rồi tôi sẽ đi về đâu? Vũ trụ được hình thành và có mối liên hệ như thế nào với trái đất cùng những con người sống ở đó? Có phải chúng tôi, những người đầu tiên du hành ra ngoài không gian, đã cảm nhận được sự tương quan rõ rệt giữa con người và vũ trụ, khác hẳn với ý niệm của những người chưa từng rời trái đất?”.

Từ ý niệm này, tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc phải tìm cách thay đổi các quan niệm định kiến chật hẹp đã giam cầm bao nhiêu thế hệ từ trước đến nay bằng một quan niệm mới về sự tương quan giữa con người và vũ trụ. Có lẽ các định luật khoa học, các kiến thức được xây dựng từ ngàn xưa sẽ phải thay đổi khi chúng ta nhìn lại tất cả những gì chúng ta đã làm trên trái đất này, sau khi chứng kiến sự nhỏ bé của chúng ta so với vũ trụ bao la. Ngay như nền khoa học hiện đại bắt đầu khoảng bốn trăm năm trước với Isaac Newton cũng sẽ phải thay đổi khi con người bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của sức hút trái đất.

Khi lan man nghĩ đến đó, tôi chợt nghĩ đến những bậc tiên phong như Copernicus, Galileo và những nhà khoa học lỗi lạc khác đã đưa ra ý kiến về sự tương quan giữa trái đất và vũ trụ nhưng phải chịu đựng sự chống đối, kỳ thị của những quan niệm thiển cận, hẹp hòi lúc bấy giờ. Người thì bị thiêu sống, người thì bị giam cầm cho đến chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật, không thể chối cãi. Tất cả khuynh hướng bảo thủ, hẹp hòi trước sau cũng phải thay đổi khi người ta biết hướng tầm mắt lên cao, xóa bỏ thành kiến cũ và mở rộng tâm hồn để nhìn ra vũ trụ bao la.

Phi hành gia Mitchell ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp tục:

  • Khi trở về trái đất, tôi luôn thắc mắc về cái cảm giác bình an lạ lùng này. Tôi tìm đọc rất nhiều sách vở khoa học nhưng không tìm thấy gì có thể giải thích hiện tượng trên. Tôi chuyển qua nghiên cứu các sách vở tôn giáo của phương Tây nhưng cũng không tìm được gì. Tôi tìm đến những học giả thông thái nhưng không ai có thể trả lời được thắc mắc của tôi. Một người bạn khuyên tôi nên tìm đọc các tài liệu về tôn giáo phương Đông, và tôi bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, nhất là các sách nói về đại định (Samadhi). Tôi thấy có sự trùng hợp giữa trải nghiệm mà tôi đã trải qua trên không gian với trải nghiệm của các hiền triết phương Đông, khi họ diễn tả về trạng thái thiền định.

Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh 1 của tác giả Nguyên Phong.

Giáo sư Yeh chợt hỏi:

  • Phải chăng cảm giác đó là thấy mình hợp nhất với vạn vật?

Phi hành gia Mitchell trả lời:

  • Đúng thế, lúc đó tôi không thấy có sự khác biệt giữa mình và vạn vật nữa. Cái cảm giác hòa hợp, rung động cùng với sự chuyển động của vũ trụ, là một trải nghiệm kỳ lạ không thể diễn tả được bằng lời.

Giáo sư Yeh quay sang hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:

  • Bạch Hòa thượng, theo quan niệm của Phật giáo, trải nghiệm không còn thấy sự phân biệt giữa mình và vạn vật của phi hành gia Mitchell có phải là một sự chứng ngộ không?
    Hòa thượng Thánh Nghiêm mỉm cười nhìn ông Mitchell:
  • Trước hết tôi rất mừng cho phi hành gia Mitchell đã có một trải nghiệm đặc biệt. Trong hàng ngàn, hàng vạn người, không mấy ai có được trải nghiệm như thế. Trong cuộc sống, khi người ta trải nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, có thể thay đổi hẳn các trải nghiệm cá nhân từ trước, ta có thể coi đó như là một sự chứng ngộ. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một cảm giác nhất thời.

Thí dụ như, cách đây không lâu, một đệ tử của tôi cũng có một trải nghiệm đặc biệt. Sau một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, anh ta trở về nhà. Trên đường về, anh ta thấy tất cả cây cối, hoa lá, từ những con côn trùng nhỏ bé cho đến những chiếc lá cây, ngọn cỏ đều vui mừng chào đón anh. Anh cảm nhận được một niềm an lạc tuyệt vời như hòa nhập với ngoại cảnh và tin rằng mình đã chứng ngộ. Anh vội vã trở lại kể cho tôi nghe về trải nghiệm đó. Tôi nói với anh rằng tuy đó là một khoảnh khắc trải nghiệm tuyệt vời nhưng cũng có thể biến đi ngay trong chốc lát. Đừng coi cảm giác đó là một sự chứng ngộ. Nếu không tin, anh hãy thử trở lại khu vườn đó để xem những cây cỏ, hoa lá, muông thú có chào đón anh như trước không.

Khi quay trở lại, anh không cảm nhận được trải nghiệm như trước nên đã hỏi: “Làm thế nào để con có thể lấy lại cái cảm giác tuyệt vời đó?”. Tôi trả lời: “Không ai có thể sở hữu mãi mãi trải nghiệm đã qua đó. Nếu muốn nắm giữ nó mãi thì anh thật tham lam. Có được trải nghiệm này chỉ là một kết quả của quá trình tu tập mà thôi. Đó không phải là sự chứng ngộ như anh kỳ vọng. Mục đích của tu tập Thiền định là để phát triển trí tuệ và xóa bỏ bản ngã. Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Vô ngã thì thế giới này còn tồn tại nữa không? Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Tâm vô phân biệt thì làm gì còn có chúng ta hay thế giới này nữa? Đối với đa số mọi người, thế giới này thật sự hiện hữu, nhưng đối với những người đã chứng ngộ thì thế giới này chỉ là huyễn ảo, không có thật, do đó tất cả trải nghiệm dù là trải nghiệm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là huyễn ảo chốc lát mà thôi. Chúng ta không nên để ý đến nó hay muốn nắm giữ nó mãi làm gì”.

Giáo sư Yeh hỏi thêm:

  • Bạch Hòa thượng, như thế thì dù chúng ta có được những trải nghiệm gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao?

Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:

  • Cho dù trải nghiệm đó diễn ra thế nào đi nữa, hãy để cho nó đến và đi một cách tự nhiên. Có thể nó chỉ là điều xuất phát từ tâm thức, sẽ thay đổi, vì tất cả mọi sự đều sẽ đổi thay. Dù nó hiện hữu như thật, vẫn hãy coi nó chỉ là những hiện tượng của tâm thức mà thôi.
    Tuy nhiên, đối với những người đã trải nghiệm, rồi hoàn toàn thay đổi nhận thức của họ và luôn luôn sống với tâm thức đó, thì chúng ta có thể kết luận rằng người đó đã chứng ngộ. Theo quan niệm của Phật giáo, người này đã có một “nhân” lành từ trước và đến nay nó bắt đầu trổ “quả”.

Tứ đại dưới con mắt của Phật học và khoa học

Hòa thượng Thánh Nghiêm chia sẻ tiếp:

  • Phi hành gia Mitchell là một nhà khoa học, nhưng không thể giải thích trải nghiệm đó bằng lý luận của khoa học, không thể chứng minh nó qua các cuộc thí nghiệm, hay tạo ra lý thuyết bằng phương pháp luận lý. Ông tin rằng đây là một kiến thức mới, mà khoa học cần khám phá, nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ông nên biết rằng cảm giác đó là một trải nghiệm tâm linh nằm trong phạm trù của tôn giáo mà khoa học không thể giải thích. Triết học hay luận lý học cũng không thể giải thích được, vì nó là một trải nghiệm tinh thần xảy ra cho một người duy nhất – là ông mà thôi. Trải nghiệm ấy đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của ông. Từ đó, ông cảm thấy nó trở thành một phần của ông, không thể tách rời ra được nữa. Trải nghiệm này vượt khỏi phạm trù của khoa học bởi vì những người trải nghiệm được việc này không thể diễn tả, giải thích được, không thể chứng minh được, và cũng không ai có cùng một trải nghiệm tương tự như thế, nó là một trải nghiệm có tính chất duyên căn cá nhân. Ai uống nước thì tự mình biết nóng hay lạnh. Trong trường hợp của ông, chỉ mình ông cảm nhận được sự an lạc hòa hợp cá nhân vào vũ trụ, nhập với tất cả, không còn phân biệt giữa mình và vũ trụ nữa. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác ở trong phi thuyền. Tại sao họ không có được trải nghiệm giống như ông? Tại sao chỉ mình ông có được cảm nhận đó? Nếu nói theo khoa học thì một khi ông cảm nhận được điều gì, tất cả những người khác cũng đều phải thấy như thế. Tóm lại, đây là điều mà khoa học không thể giải thích hay chứng minh, vì nó nằm ngoài phạm trù của khoa học.
    🪐💫🪐