GS Hoàng Tụy quê ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc nhỏ ông học tiểu học ở trường làng, sau đó học trung học phổ thông ở Huế. Khi đang học, ông bị ốm nặng, phải về nhà chữa bệnh và tự học tiếp. Trở lại trường, ông “nhảy cóc” 2 lớp và thi đỗ đầu tú tài ban toán năm 1946.
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông dạy học ở trường Lê Khiết tại Quảng Ngãi, ngôi trường dành cho học sinh trung học ở Khu 5. Nghe tin GS Lê Văn Thiêm từ châu Âu về nước tham gia kháng chiến, xây dựng trường Khoa học Cơ bản tại chiến khu Việt Bắc, GS Hoàng Tuỵ xin thi vào học. Đề thi được gửi từ Việt Bắc vào theo đường giao liên mất cả tháng mà ở Khu 5 chỉ có một thí sinh dự thi duy nhất là GS Hoàng Tuỵ. Sau đó bài thi lại được gửi ra Việt Bắc để chấm. GS Hoàng Tuỵ thi đỗ, nhưng khi đến Việt Bắc, người ta thấy trình độ ông đã vượt quá chương trình học nên phân công ông dạy trung cấp sư phạm. Có lẽ ông đã tự học thêm kiến thức đại học khi dạy học ở Quảng Ngãi.
Hoà bình lập lại, ông dạy toán ở Trường Đại học Tổng hợp mà chưa có bằng tốt nghiệp đại học. Năm 1959, ông là một trong vài người được cử sang Liên Xô thực tập với mục đích bồi dưỡng thêm kiến thức. Ông đã chọn làm việc với một trong những giáo sư đầu ngành Giải tích của Nga lúc bấy giờ. Chỉ sau một năm ông đã đạt được nhiều kết quả nghiên cứu xuất sắc và được đề nghị ở lại thêm một thời gian để bảo vệ luận án tiến sĩ.
Nhiều người có thể tự hỏi một người chỉ có bằng tốt nghiệp trung học mà lại ở trong “rừng” lâu như vậy thì làm thế nào có thể biết tiếng Nga và những kiến thức toán học tân tiến. Những ai biết con người ông sẽ thấy những chuyện ấy không có gì là lạ vì cuộc đời khoa học của ông toàn những chuyện “nhảy cóc” như vậy.
Trở về nước, GS Hoàng Tuỵ làm chủ nhiệm khoa Toán của trường Đại học tổng hợp. Ông tham gia giảng dạy rất nhiều chuyên ngành Toán không đúng chuyên môn và bài giảng của ông luôn thu hút sinh viên vì vốn kiến thức uyên bác của mình. Chắc là ông đã đọc rất nhiều và sự đọc của ông không chỉ để biết mà phải suy ngẫm rất nhiều để có thể hiểu được cái “hồn” của những chuyên ngành khác.
Đầu những năm 60 cũng là những năm ra đời chuyên ngành tối ưu. Nhận thấy rằng đây là một chuyên ngành có nhiều ứng dụng trong thực tiễn, ông quyết định tự mình tìm hiểu chuyên ngành này. Nhờ thói quen tự học nên chỉ sau một thời gian ngắn ông đã giải quyết được một bài toán khó và cơ bản của chuyên ngành tối ưu, đánh dấu sự ra đời của lý tuyết tối ưu toàn cục. Phương pháp ông đưa ra được giới chuyên môn quốc tế sau này gọi là “nhát cắt Tuỵ”. Đây có lẽ là khái niệm khoa học đầu tiên mang tên một người Việt Nam. Sự nghiệp khoa học của GS Hoàng Tuỵ từ đó trở đi gắn liền với chuyên ngành tối ưu. Đã có hai trường đại học quốc tế phong ông bằng tiến sĩ danh dự vì những đóng góp của ông cho ngành tối ưu toàn cục.
Đầu những năm 80 GS Hoàng Tuỵ quan tâm nghiên cứu lý thuyết hệ thống cũng là một lý thuyết toán học mới lúc bấy giờ. Ông thuyết phục chính phủ cần phải đưa lý thuyết hệ thống vào trong việc điều hành đất nước. Nhà nước đã thành lập Trung tâm phân tích hệ thống tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương do ông kiêm nhiệm điều hành. Tuy Trung tâm đã không thúc đẩy được việc đưa lý thuyết hệ thống vào trong thực tiễn do nền kinh tế bao cấp nhưng nó đã góp phần cho xã hội thấy tầm quan trọng của toán học trong đời sống.
Cuộc đời của ông là một sự phấn đấu không ngừng nghỉ đi tìm những hướng phát triển mới. Cho đến nay, ông đã viết 4 cuốn sách chuyên khảo đều do các nhà xuất bản hàng đầu thế giới phát hành. Ông thường xuyên là một trong những người có số công bố khoa học nhiều nhất hàng năm ở Viện Toán học, kể cả khi đang làm Viện trưởng và ngay cả khi đã trên 80 tuổi. Bài báo cuối cùng của ông công bố năm 2018, lúc ông 91 tuổi.
Bài viết – GS Ngô Việt Trung – 2019 (nguyên Viện trưởng Viện Toán học
☆
Hoàng Tụy (7 tháng 12 năm 1927 – 14 tháng 7 năm 2019) là một giáo sư, nhà toán học tiêu biểu của Việt Nam. Cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm, ông là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam. Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục (Global Optimization) trong Toán học ứng dụng.
(*) Ảnh – Giáo sư Hoàng Tụy trên giảng đường năm 1964.
Mẹ đẻ của nền tảng công nghệ tiền thân của Wifi, GPS và Bluetooth – Hedy Lamarr là một phụ nữ đi trước thời đại.
Bà là một nữ diễn viên xinh đẹp của Hollywood, thu hút khán giả bằng tài năng.
Không chỉ vậy Lamarr cũng là một nhà phát minh phát triển công nghệ truyền thông không dây hiện đại. Tuy nhiên, cuộc đời của bà tràn ngập cả danh vọng và bi kịch.
Sự nghiệp điện ảnh lẫy lừng:
Lamarr sinh vào năm 1914 tại thủ đô Viên, Áo. Bà là con gái của gia đình gốc Do Thái và cha là một giám đốc ngân hàng thành đạt.
Lamarr sớm thể hiện niềm yêu thích với diễn xuất và xuất hiện trong bộ phim đầu tiên “Geld auf der Strasse”, ở tuổi 16. Bà tiếp tục học diễn xuất tại Trường Sân khấu Max Reinhardt ở Berlin (Đức), nơi bà gặp và kết hôn với người chồng đầu tiên, một doanh nhân giàu có tên Friedrich Mandl.
Mandl là một tay buôn vũ khí và tham gia các thương vụ mua bán vũ khí cho Đức quốc xã và các chính phủ phát xít ở châu Âu, theo The US National Archives. Lamarr đã tháp tùng ông trong nhiều chuyến công tác và biết rõ những cuộc trò chuyện của ông với các nhà lãnh đạo quân sự và nhà khoa học. Việc tiếp xúc với giới công nghệ quân sự sau này đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Lamarr với tư cách là một nhà phát minh.
Cuộc hôn nhân của Lamarr và Mandl gặp nhiều sóng gió và cuối cùng Lamarr phải trốn đến Paris, Pháp để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Bà đã xuất hiện trong một số bộ phim của Pháp trước khi thu hút sự chú ý của nhà sản xuất Hollywood Louis B. Mayer, người đã đề nghị bà ký hợp đồng với hãng phim MGM vào năm 1937. Lamarr đến Mỹ mà không biết tiếng Anh và phải học ngôn ngữ này một cách nhanh chóng để thành công ở Hollywood.
Những bộ phim đầu tiên của Lamarr đều thành công và bà nhanh chóng nổi tiếng với vẻ đẹp và tài năng của mình. Bà đóng vai chính trong nhiều bộ phim trong suốt những năm 1940, bao gồm “Algiers” (1938), “Ziegfeld Girl” (1941) và “Samson and Delilah” (1949).
Sự nghiệp diễn xuất của Lamarr ghi dấu ấn sâu sắc, nhưng niềm đam mê thực sự của Lamarr là dành cho khoa học và công nghệ.
“Mẹ đẻ” của nền tảng công nghệ Wifi, Bluetooth, GPS:
Không ưa thích những buổi tiệc tùng và giao du với giới Hollywood hào nhoáng, Hedy Lamarr đã dành hàng đêm để mày mò, xây dựng và thử nghiệm trong nhà xưởng.
Là một người gốc Do Thái, Lamarr luôn mang trong mình mong muốn giúp Lực lượng Đồng Minh đánh bại Đức quốc xã.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Lamarr đã đồng phát triển một hệ thống dẫn đường vô tuyến cho ngư lôi của quân Đồng minh sử dụng công nghệ trải phổ và nhảy tần để tránh gây nhiễu tín hiệu dẫn đường của ngư lôi, theo The Guardian. Đáng tiếc, phát minh của Lamarr đã không được Hải quân Mỹ sử dụng trong Thế chiến thứ II, nhưng đã được dùng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (1962).
Quan trọng hơn, phương pháp chuyển đổi tần số này đã đặt nền móng cho các công nghệ liên lạc không dây hiện đại sau này như Bluetooth, Wi-Fi và GPS.
Bi kịch bị ngó lơ:
Trên thực tế, những đóng góp cho khoa học của Lamarr phần lớn bị ngó lơ vào thời điểm đó và bà ít được công nhận cho công việc của mình. Cái bóng của vai diễn quá lớn khiến nhiều người bỏ qua những đóng góp của bà cho công nghệ hiện đại.
Sau chiến tranh, Lamarr phải vật lộn để tìm kiếm chỗ đứng với tư cách là một nhà phát minh. Bà tiếp tục nghiên cứu những phát minh mới, nhưng những ý tưởng thường bị coi là lời nói “gió thoảng” của một nữ diễn viên xinh đẹp.
Phát minh công nghệ vô tuyến của Lamarr không được biết đến rộng rãi cho đến khi bà gần cuối đời, vào cuối những năm 1990 và đặc biệt thu hút sự chú ý hơn khi cáo phó của bà được công bố vào năm 2000. Kể từ đó, tin tức đã lan rộng và Lamarr đã trở thành một biểu tượng của phụ nữ trong khoa học.
Lamarr cũng phải đối mặt với một chuỗi bi kịch đời sống cá nhân. Bà đã kết hôn 6 lần và luôn kết thúc bằng ly hôn. Bà có 3 đứa con, trong đó có 1 người có chẩn đoán mắc chứng tự kỷ.
Mặc dù thành công với tư cách là một nữ diễn viên và nhà phát minh, Lamarr đã thực hiện một số khoản đầu tư và thường xuyên mắc nợ. Bà buộc phải bán nhiều tài sản để trả nợ. Bà cũng đã bị bắt nhiều lần vì các tội liên quan đến ma túy.
Năm 2000, Hedy Lamarr qua đời cô đơn trong một căn hộ nhỏ ở bang Florida (Mỹ). Di sản của Lamarr với tư cách là một biểu tượng Hollywood và nhà phát minh đột phá vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho những người theo đuổi kiến thức và đạt thành tựu bên ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.Cuộc đời bi kịch của ‘người phụ nữ đẹp nhất thế giới’ phát minh ra Wifi
Nhờ vào quyết định tha mạng cho con vật từng là tử thù của mình, một Tướng lĩnh của Đức quốc đã may mắn sống sót sau khi đế quốc Đức thua cuộc trong Thế chiến. ✪ Năm 1941, quân Đức đánh vào lãnh thổ nước Bỉ, khu chăm sóc sức khỏe Visuri là một trong những địa điểm bị chiếm cứ đầu tiên. Bấy giờ, tư lệnh quân trú đóng của Đức là Thiếu tá Krupp vừa mới lên nhậm chức, liền được tham mưu trưởng là Tướng quân Liszt giao cho một nhiệm vụ hết sức kỳ lạ: Đến khu bệnh viện quân sự, bắn chết một con bò đực có tên là Kỵ Sĩ.
Nghe xong mệnh lệnh ấy, Thiếu tá Krupp hoài nghi không hiểu vì sao Tướng quân lại phải làm khó dễ một con vật như vậy. Khi ấy, sĩ quan phụ tá liền tiết lộ nguyên nhân cho anh: Tướng quân Liszt và con bò này từng có thù oán. Đó là một trận đụng độ xảy ra trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi tướng Liszt vẫn còn là một viên Thiếu uý.
Trong trận chiến ở sông Thornton năm đó, người Bỉ đã cho 60 con bò mở đường để vượt qua bãi mìn của quân Đức. Con bò đầu đàn trong số chúng đã húc mù mắt phải của Tướng quân List. Bản thân nó cũng vì vậy mà đạp trúng mìn và bị thương một chân sau.
Cũng bởi biến cố xảy ra trong trận chiến nói trên, Tướng quân Liszt từ một quân nhân anh tuấn đã phải sống chung với một bên mắt mù cả đời. Đây chính là lý do khiến ông đem lòng căm thù với con bò đầu đàn năm ấy.
Sau đó, ông nhận được tin tức rằng kẻ thù của mình vì là con vật may mắn còn sống duy nhất trong chiến dịch năm nào nên đã được đưa tới Wesley sau chiến tranh.
Khi Thiếu tá Krupp đem người tới bệnh viện quân sự, nơi này đang chăm sóc cho các tù binh bị thương và nhốt 400 quân nhân Bỉ. Con bò Kỵ Sĩ cũng nằm trong số đó. Không lâu sau, con vật ấy đã bị đưa tới trước mắt Thiếu tá. Đó là một con bò đực màu đen, thần thái điềm tĩnh, chân sau bên phải đã què. Nó chính là Kỵ Sĩ – một con bò già đã phải trải qua sự tang thương của chiến tranh và chứng kiến nhiều biến cố trong buổi thế thời loạn lạc. Vào khoảnh khắc Thiếu tá Krupp rút súng lục chĩa về phía con vật ấy, toàn bộ quân nhân Bỉ đang có mặt ở đó bỗng đồng loạt la lên một cách đầy giận dữ. Một người đàn ông gầy yếu từ trong đám tù binh bước ra, kính cẩn đi tới trước mặt Krupp và nói: “Thưa thiếu tá, tôi là Jovak – Trung sĩ lục quân của quân đội Bỉ, cũng là người hầu của Kỵ Sĩ. Theo ‘Công ước Geneve’, ngài không thể giết con bò này, ngài phải coi nó như một tù binh chiến tranh”. Krupp nghe xong liền không khỏi sửng sốt: “Phải coi một con bò là tù binh chiến tranh? Ông đang đùa với tôi hay sao?”. Jovak trịnh trọng lấy ra một tờ giấy, đưa cho Krupp: “Mời ngài xem, đây chính là sắc lệnh chứng minh vua Leopold đã dành cho Kỵ sĩ một vinh dự”. Thiếu tá Krupp nhận lấy tờ giấy, trên đó có viết rất rõ ràng: “Trao tặng Kỵ Sĩ cấp bậc Thượng tá lục quân Vương quốc Bỉ, ban huy chương danh dự hạng hai, ngày 11 tháng 12 năm 1917”. Đọc xong những dòng chữ ấy, Krupp lại càng ngỡ ngàng khi nhận ra rằng: Kỵ Sĩ là một con bò có quân tịch, hơn nữa quân hàm của nó còn cao hơn cả cấp bậc Thiếu tá mà anh đang mang. Chiếu theo “Công ước Geneve”, anh chẳng những không có quyền bắn chết nó mà còn phải đưa nó vào trại tập trung và đối xử công bằng như với những tù binh chiến tranh khác.
Sau đó, Krupp không còn cách nào khác, buộc phải gọi điện cho Tướng quân Liszt để báo cáo về tình huống xảy ra ngoài ý muốn này. Vị tướng ấy nghe xong, liền tức giận mà nói lớn: “Vậy thì hãy xử lý nó một cách hợp pháp ngay trong trại tù binh. Ta không tin con bò ấy có thể an ổn ở đó mà không phạm phải bất kỳ một lỗi gì”.
● Những âm mưu chết chóc trong trại tập trung Theo quy định quản lý của trại tù binh thuộc căn cứ Đức, nếu tù binh kháng lại mệnh lệnh một cách nghiêm trọng hoặc tìm cách chạy trốn thì có thể tiêu diệt ngay tại chỗ. Điều này đã khiến Thiếu tá Krupp nảy ra một chủ ý.
Ngày hôm đó, anh lệnh cho binh lính đưa Kỵ Sĩ và các tù binh khác tới một nhà máy sản xuất gỗ, ở đó đã có sẵn 5 xe chở gỗ da. Krupp muốn để Kỵ Sĩ kéo xe bò và chở những đống gỗ chất như núi ở trên đó.
Đối với một con bò già có cả người hầu và từng sống trong nhung lụa mà nói, chuyện khổ cực như vậy ắt sẽ khiến nó khó có thể nhẫn nhịn nổi. Chỉ cần Kỵ Sĩ có bất kỳ hành động bất hợp tác nào, các binh lính Đức sẽ sẵn sàng chọc giận nó, chờ tới khi nó phản kháng mạnh hơn thì họ có thể danh chính ngôn thuận giết chết.
Thế nhưng điều mà không ai có thể dự liệu được đã thực sự xảy ra: Kỵ Sĩ chẳng những không hề phản kháng mà còn điềm nhiên kéo từng chiếc xe gỗ nặng nề, lặng lẽ đi về phía trước.
Một chuyến, hai chuyến rồi ba chuyến… Cơ thể của nó bắt đầu đổ mồ hôi, đôi chân tập tễnh vẫn cố hết sức lết từng bước. Dù cả người lảo đảo, lắc lư, Kỵ Sĩ vẫn không hề dừng lại hay làm ra bất kỳ hành động phản kháng nào.
Khi con bò già ấy kéo đến chuyến xe thứ 50, các tù binh nước Bỉ đã không thể nhẫn nhịn, bắt đầu xôn xao bàn tán. Bấy giờ, Jovak tiếp tục đứng ra kháng nghị: “Thưa thiếu tá, Kỵ Sĩ đã 26 tuổi, dựa theo tuổi thọ của giống loài này mà nói thì nó đã già. Ngài nhẫn tâm để một quân nhân già cả làm công việc nặng nề đến thế hay sao? Nếu cứ như vậy, nó sẽ kiệt sức mà chết. Ngài làm thế chính là đang phạm tội”.
Krupp nhíu mày một cái, sau một hồi suy nghĩ liền nảy ra chủ ý mới. Anh tiếp nhận kháng nghị của Jovak, thoải mái nói: “Đúng vậy, hôm nay nó đã làm được khá nhiều rồi. Ngày mai hãy để cho nó nghỉ phép một hôm”. Sang ngày hôm sau, Thiếu tá cho người dẫn Kỵ Sĩ ra cửa khu tập trung để hóng gió, lại dặn binh lính ở đó để cửa mở, cho nó tự do hoạt động. Bên ngoài cửa khu tập trung là một bãi cỏ rộng thênh thang. Thế nhưng đường dẫn đi tới bãi cỏ ấy lại giăng đầy mìn. Cỏ xanh đối với trâu bò mà nói chính là cám dỗ chí mạng. Chỉ cần Kỵ Sĩ dám chạy đến bãi cỏ, nó không chỉ vi phạm vào quy định cấm chạy trốn mà cũng sẽ bị mìn nổ đến tan xương nát thịt.
Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán của Krupp, Kỵ Sĩ nhanh chóng bị đám cỏ xanh mơn mởn ở bên ngoài hấp dẫn. Nó chậm rãi tiến ra phía ngoài, thế nhưng khi đi tới một tẩm biển hiệu có hình đầu lâu cảnh báo về bãi mìn ở đây, nó liền dừng chân, một bước cũng không tiến thêm. Sau một hồi do dự, Kỵ Sĩ liền quay lại, bình thản trở về doanh khu.
Điều này càng khiến Thiếu tá Krupp thêm sửng sốt. Anh không nghĩ rằng con bò ấy lại có khả năng nhận biết cả ranh giới nguy hiểm.
Sau khi được Jovak kể lại về lịch sử chinh chiến của con vật ấy, vị Thiếu tá trẻ lại tiếp tục đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Kể từ sau khi bị thương trong chiến dịch ở sông Thornton, Kỵ Sĩ bị quân Đức bắt làm tù binh, phải sống cuộc sống nô dịch như súc vật trong trại tập trung suốt 3 tháng ròng rã.
3 tháng sau, nước Đức thua trận, con bò này một lần nữa trở về với người Bỉ và được quốc vương sắc phong. Nghe xong câu chuyện ấy, Thiếu tá Krupp không khỏi xúc động khi nhận ra rằng: Hóa ra đây là lần thứ hai mà Kỵ Sĩ bị đưa vào trại tập trung của quân Đức. Cũng kể từ đó, anh thầm đem lòng kính nể với con bò già ấy. Trong mắt Krupp, dường như Kỵ Sĩ không chỉ là một con vật đơn thuần mà đã trở thành một người lính già với những kinh nghiệm chiến đấu lão làng.
Vì vậy, anh quyết định làm trái với mệnh lệnh của Tướng quân, cho Kỵ Sĩ được hưởng đãi ngộ của một tù binh bình thường. Krupp luôn tâm niệm, chiến tranh loài người không nên trở thành lý do khiến con vật ấy bị ngược đãi hay bị sát hại…
● Người canh giữ đặc thù của Kỵ Sĩ Một tháng trôi qua, Kỵ Sĩ vẫn đang an toàn sống trong trại tù binh. Điều này khiến cho Tướng quân Liszt vô cùng tức giận. Ông cho gọi Thiếu tá Krupp tới Bộ Tư lệnh rồi mắng cho một trận xối xả. Trước cơn thịnh nộ của cấp trên, Thiếu tá trẻ giãi bày nói: “Thưa Tướng quân, tôi và binh lính Đức đều có danh dự của một quân nhân. Mọi người quả thực không thể xuống tay với một con vật có chiến công như vậy. Nó dễ bảo, ôn hòa, giống như một người lính già hiền lành, đáng kính. Chúng tôi không thể tìm ra lý do để giết chết nó”. Nghe xong những lời ấy, ánh mắt của Liszt càng đỏ lên vì tức giận. “Tốt lắm! Nếu đây là một tù binh đặc thù, vậy thì phải có một người canh phòng đặc thù tới để trông chừng nó”. Nói xong, Tướng quân Liszt vẫy tay ra hiệu, sĩ quan phụ tá liền dắt tới một con chó thuộc giống Béc-giê đặc trưng của Đức. Liszt nói: “Đây là chú chó hậu vệ của ta, nó tên là Chó Sói. Ta đã ký sắc lệnh trao tặng cho nó cấp bậc Thiếu tá lục quân. Từ ngày mai trở đi, nó sẽ phụ trách việc trông coi con bò ngu ngốc kia. Bất kể nó làm ra việc gì với con bò ấy, các cậu cũng không nên can thiệp. Đây là chuyện của động vật, hãy để cho động vật tự giải quyết”.
Thiếu tá Krupp không thể làm gì hơn ngoài việc mang Chó Sói về trại tập trung, nhốt nó chung một chỗ với Kỵ Sĩ. Vừa nhìn thấy con bò già, Chó Sói liền hung hăng nhào tới cắn xé. Kỵ Sĩ bị nó cắn vào chân sau, dù giãy giụa thế nào cũng không thoát khỏi hàm răng sắc bén của con chó.
Máu từ chân sau của nó chảy ra xối xả. Kỵ Sĩ liền nổi giận, trợn to hai mắt, miệng phát ra tiếng gầm trầm thấp rồi đột ngột lao tới xông vào tấm lưới sắt bên cạnh. Những thanh sắc bén nhọn đâm vào thân thể nó, cũng ghim vào cơ thể của Chó Sói. Con chó đau đớn tới mức rên rỉ, buông lỏng hàm răng đang cắn vào chân sau của đối thủ. Kỵ Sĩ nhân đà này húc mạnh vào Chó Sói, khiến nó ngã lăn xuống đất, thống khổ kêu gào. Con bò già nâng lên hai chân trước, chuẩn bị cho đối phương một cú chí mạng.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, Thiếu tá Krupp không khỏi hốt hoảng. Nếu chú chó yêu của Tướng quân Liszt bị Kỵ Sĩ húc chết, anh sẽ chẳng biết ăn nói thế nào, mà con bò kia ắt cũng không thoát khỏi án tử.
Ngay lúc ấy thì một cảnh tượng không ai có thể ngờ được đã xảy ra: Kỵ Sĩ nhìn chằm chằm vào Chó Sói, hai chân trước vốn đang thủ thế cũng từ từ hạ xuống. Nó thở hổn hển một hồi, lặng lẽ sang góc bên cạnh và nằm xuống.
Chó Sói khi ấy mới từ từ bò dậy, sợ hãi trốn vào một góc xa nhất có thể, không dám mon men tới gần Kỵ Sĩ thêm một lần nào nữa. Khí thế hung hăng ban đầu của nó cũng đã biến mất từ lúc nào không hay.
Sau khi biết được tin này, Jovak cùng các tù binh Bỉ rối rít trách móc Krupp. Vị Thiếu tá trẻ cũng không khỏi tức giận, lớn tiếng răn đe: “Đây là lệnh của Tướng quân Liszt. Chó Sói cũng là Thiếu tá của Đế quốc, cho nó đến quản lý Kỵ Sĩ vốn là điều hợp tình hợp lý. Các người nếu còn dám ăn nói linh tinh thì đừng trách ta không khách khí. Nên nhớ nơi này là trại tù binh chứ không phải quảng trường tự do”. Các tù binh không thể nói gì, nhưng ai ai cũng rất mực lo lắng cho Kỵ Sĩ. Thế nhưng vào sáng sớm ngày thứ hai, khi mọi người tới thăm khu chuồng của nó, họ đã bắt gặp một cảnh tượng khó ai có thể tin nổi. Trong chiếc chuồng rộng rãi ấy. Chó Sói và Kỵ Sĩ đang rúc vào sưởi ấm cho nhau. Hai con vật nằm cùng một chỗ với dáng vẻ hết sức bình thản, thoải mái. Không ai có thể nhìn ra được chúng đã từng là hai kẻ địch liều chết vật lộn với nhau chỉ một ngày trước đó. Điều khiến tất cả những người ở trại tập trung ấy còn kinh ngạc hơn chính là, kể từ đó trở đi, hai con vật ấy đã trở thành những người bạn tốt.
Bất kể Kỵ Sĩ đi tới nơi đâu, Chó Sói đều sẽ vui vẻ theo sau lưng nó. Khi bắt gặp bất cứ ai la mắng người bạn của mình, chú chó ấy đều sẽ tức giận mà sủa lớn để cảnh cáo đối phương. Thế nhưng chiến tranh và hết thảy những hiềm khích giữa các thế lực có lẽ cũng mới chỉ kết thúc giữa hai con vật ấy mà thôi…
● Màn đối đầu trong im lặng và cái kết Khi nhận được thông báo về tình hình ở trại tập trung, Tướng quân Liszt dường như không thể tin vào tai mình. Bởi con chó mà ông từng tự tay huấn luyện giờ đây lại dễ dàng kết bạn với tử thù của chủ nhân nó. Liszt vội vàng chạy tới trại tập trung, bản thân lại càng thêm giận dữ khi chính mắt nhìn thấy cảnh hòa thuận giữa hai con vật. Ông lập tức hạ lệnh bắt giữ Chó Sói, đưa nó tới khu quảng trường và chuẩn bị xử tử nó bằng cách treo cổ trước mắt các tù binh. Khi sợi dây thừng càng lúc càng siết chặt vào cổ, Chó Sói rên rỉ lên từng hồi đau đớn. Tiếng kêu của nó khiến cho Kỵ Sĩ đang trong chuồng cũng vô cùng bất an.
Đột nhiên, con bò già liều chết lao ra khỏi nơi canh giữ, trực tiếp húc ngã mấy vệ binh rồi bỏ chạy như điên về phía quảng trường. Khi tới nơi, chứng kiến Chó Sói đang giãy giụa vì bị xiết cổ, Kỵ Sĩ liền đồng loạt húc ngã cả hàng binh lính tại đó, nhanh chóng xông lên cắn nát dây thừng trên, cứu thoát bạn mình trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc.
Chứng kiến một màn kinh động này, Tướng quân Liszt càng thêm điên cuồng. Dưới cơn thịnh nộ, ông nhanh chóng rút súng lúc ra, muốn đích thân bắn chết con bò già từng gây cho mình vết thương vĩnh viễn không thể lành lại. Thế nhưng bản thân vị tướng ấy có lẽ cũng không thể ngờ rằng, vào thời khắc mà tiếng súng vang lên, Chó Sói đã nhanh chóng nhảy lên một cái, dùng thân mình che chở cho Kỵ Sĩ. Sau khi lãnh trọn phát đạn từ Liszt, thân thể của nó bị bao phủ bởi màu máu. Chú chó ấy chẳng hề kêu lấy một tiếng, ngã xuống đất và nhanh chóng tắt thở.
Tất cả mọi người có mặt ở quảng trường lúc bấy giờ đều bị cảnh tượng này làm cho kinh sợ, bốn phía huyên náo bỗng chốc trở nên yên lặng như tờ. Trong không gian tĩnh lặng ấy, chỉ có Kỵ Sĩ khẽ kêu lên những tiếng bi thương. Nó từ từ tiến về phía trước, quỳ xuống bên cạnh Chó Sói, dùng lưỡi khẽ liếm thi thể của bạn mình. Tướng quân Liszt lại giơ nòng súng lên, ngắm thẳng vào đầu Kỵ Sĩ. Con bò già cũng không hề sợ hãi, bình tĩnh ngẩng đầu, lặng lẽ nhìn ông.
Hai bên đối đầu trong khung cảnh không một tiếng động, tựa như trở về trận chiến cách đó 23 năm về trước, mặt đối mặt, mắt hướng mắt. Hơn 2 thập kỷ đã trôi qua, ánh mắt của tướng Liszt vẫn tràn đầy thống hận và sát ý. Vậy nhưng trong đối mắt của Kỵ Sĩ giờ đây đã không còn dã tính và sự hung hăng của năm ấy mà chỉ ánh lên sự bình thản, điềm tĩnh.
Tất cả những người có mặt ở quảng trường khi đó dường như nín thở chờ đợi tiếng súng vang lên. Thế nhưng tới 5 phút sau, cánh tay cầm súng của Liszt từ từ rũ xuống.
Vị tướng quân ấy lẳng lặng cất khẩu súng lục vào bên hông, nói với Thiếu tá Krupp đang hốt hoảng đứng bên cạnh: “Hãy an táng cho chú chó của ta theo nghi lễ dành cho một quân nhân, và hãy đối xử tử tế với con bò này”. Nói xong câu ấy, ông xoay người rời khỏi quảng trường trong sự im lặng và trầm tư. Mãi tới sau này, người ta mới biết được những dòng chữ mà Liszt đã ghi lại trong nhật ký của mình về ngày hôm đó: “Thông qua ánh mắt của con vật ấy, ta đã thấy được ánh sáng từ Thượng đế…”
3 ngày sau, tất cả các trại tù binh ở biên giới nước Bỉ nhận đều nhận được mệnh lệnh từ Tướng quân Liszt: “Nghiêm chỉnh chấp hành ‘Công ước Geneve’ trong việc đối đãi với tù binh, tuyệt đối nghiêm cấm tất cả những hành động ngược đãi và sát hại tù binh”.
Sau khi chiến tranh kết thúc, rất nhiều tướng lĩnh cấp cao của Đức đều bị hành hình trong lúc dẫn độ, chỉ có Liszt nhờ vào mệnh lệnh bảo vệ tù binh năm xưa mà được nhân dân Bỉ thông cảm.
Ông chẳng những giữ được mạng sống ngay cả khi Đế quốc đã thất thế mà còn không bị truy tố và được an hưởng những năm tháng tuổi già trong yên bình.
Khi hòa bình được lập lại, Kỵ Sĩ một lần nữa nhận được huy chương danh dự của quân đội. 3 năm sau khi chiến tranh kết thúc, nó qua đời một cách thầm lặng ở thành phố Vasili.
Vào ngày tổ chức tang lễ, những người lính từng đứng trên các chiến tuyến đối địch như Tướng quân Liszt, Thiếu tá Krupp, Trung sĩ Jovak đều tới tham dự lễ tang để tiễn đưa người quân nhân già mà họ đều từng tôn trọng và cảm phục năm xưa…
Tôi nghe tin thầy viên tịch lúc cuối giờ chiều qua khi đang ở Cần Thơ giữa cơn mưa lạnh. Thầy Tuệ Sỹ, bậc chân tu, đại lão hòa thượng, thầy đã thành mây trời lang thang khắp cõi hư không rồi, (tôi đâu dám nói là nghe tin thầy đi, tôi buồn, mà sao tôi thảng thốt thấy lòng mình buồn thế?). Chợt nhớ rõ mồn một 4 câu thơ thuộc lòng đã chép trong tập, mấy chục năm trước, mở đầu bài Khung trời cũ. Và còn nhớ rõ hơn dáng thầy gầy nhom, áo xám thong dong đi lại trên sân trường Vạn Hạnh, nhẹ như gió như mây mà đôi mắt tinh anh, sâu thẳm, hiền, đẹp, đẹp lạ lùng khó tả…
Đám sinh viên nữ chúng tôi hồi ấy thua thầy chừng 5, 7 tuổi vẫn lén gọi thầy với một biệt danh “thầy Tuệ Sỹ mắt đẹp”. Giờ nói ra đây chắc bị mắng là lũ “thứ ba học trò” quỷ ma khùng điên bất kính mạo phạm. Nhưng hồi đó, thầy trẻ lắm, nụ cười dịu dàng, xa vắng, hơi ngượng nghịu khi bị lũ nữ sinh viên tinh quái cứ đi theo bạch thầy, bạch thầy. Tôi vào trường Vạn Hạnh năm 1969. Năm sau đã nghe tin thầy Viện trưởng Thích Minh Châu vừa bổ nhiệm một giáo sư uyên bác, cực giỏi mới 27 tuổi. Nghe lại thì đúng là “thầy hiền mắt đẹp” Tuệ Sỹ. Mà hồi đó, Vạn Hạnh qui tụ những ngôi sao trí lực siêu phàm, ngoài thầy Viện trưởng có nụ cười hiền như Phật Di Lặc còn có thầy cô như thầy Tuệ Sỹ, thầy Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, ni sư Trí Hải… Nhiều hôm học bài trên thư viện về khuya, tôi đứng trên lầu cao, nhìn dáng thầy Tuệ Sỹ, bấy giờ đã là Tổng thư ký tạp chí Tư Tưởng, gầy yếu mong manh in trên nền trời đêm trăng mờ như một bậc tiên hiền, lẩm nhẩm trong đầu các bài thơ của thầy, nhớ những bài thầy giãng (tôi học phân khoa Khoa học Xã hội, nhưng cũng thường lén đi nghe thầy nói Pháp) mà kính phục vô song.
Đêm qua tôi thức đọc hầu hết các bài viết trên FB về thầy. Kinh ngạc, mỗi người một góc nhìn đều biết ơn thầy dạy dưỡng dù chưa lần gặp. Nhiều người là con Chúa sao hiểu và kính quí thầy Tuệ Sỹ sâu sắc đến vậy. Tôi cũng nhận được một tin nhắn thiết tha của một bạn trẻ là con Chúa, cô ơi, con muốn đến lễ tang để tưởng nhớ thầy mà con không quen ai hết, nếu cô có đi cho con đi theo với….
Đã có địa chỉ một trang web rất quí để mọi người vào đọc về thầy. Đã có bài rất cảm động và giàu thông tin của anh Mạnh Kim, một SV Vạn Hanh . Có bài về Bùi Giáng bình bài thơ “Khung trời cũ” của thầy. Tôi nghĩ có viết một trăm trang ở đây cũng không nói hết tấm lòng kính nhớ tiếc thương bậc chân tu trong cuộc quốc tang thực chất trong tâm tưởng của người Việt đang diễn ra. Viết bao nhiêu cũng không đủ. Tôi tạm ghi lại đây mấy điều …
-Điều 5 trong di chúc của thầy: “Nhục thân đưa đi hỏa táng. Tro bụi nhục thân đem rải ra Thái Bình Dương để được tan theo biển, bốc thành mây trời , lang thang khắp cõi hư không Hư không hữu tận. Ngã nguyện vô cùng.…
-Nỗi buồn của bạn thân – nhà văn Đoàn Minh Phượng, như nói giùm tôi:…”Những người mà thế hệ chúng tôi yêu thương nương tựa đang dần từng người qua đời. Buồn bao nhiêu vẫn phải học quen với chuyện này. Mà sao lần này thảng thốt quá. Tôi như đứa nhỏ chưa học xong làm người ra làm sao đã chợt thấy mình mồ côi.”
… Lòng biết ơn thầy của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình. Anh Bình là người tôi rất biết ơn vì đã tặng tôi món quà quí vô biên là bộ sách của thầy Tuệ Sỹ. Anh viết khi nghe tin thầy viên tịch: Với nỗi buồn khôn tả … Có lẽ, thay đổi quan trọng nhất trong đời một người là “thay đổi nhận thức” ! Có nhiều nguyên nhân, nhiều lý do để nhận thức thay đổi … và sự thay đổi cũng có nhiều mức độ khác nhau… Giáo lý nhà Phật dạy rằng : chúng sinh, có người suốt đời ở ngoài sáng, có kẻ suốt đời ở trong tối, có người từ trong tối bước ra sáng, cũng có kẻ từ sáng bước vào tối. …Từ sự hiểu hiện tượng một cách nông cạn, biến thành nhận thức sâu sắc là một quá trình dẫn đến thiện duyên : được gặp trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Có thể nói không ngoa rằng : Ôn Tuệ Sỹ là người khai sinh ra tôi lần thứ hai. Ôn Tuệ Sỹ dạy : “… Một xã hội mà không có nơi nào để cho tín tâm an trụ, xã hội ấy dễ dàng rơi vào tà kiến điên đảo. Trong một xã hội mà phẩm giá con người không được tôn trọng, trong một xã hội mà quyền lực được dựng lên không còn mục đích hòa giải những mâu thuẫn tranh chấp giữa các thành viên, từ thuở loài người khởi đầu lịch sử đấu tranh vì lợi dưỡng, vì quyền lực. Mỗi con người chỉ là một cọng cỏ yếu ớt gấp mình trước những thế lực tham tàn hung bạo. Không còn nơi nương tựa vững chắc, ngoài những bóng ma chập chờn để bám víu …” Ngày 25 tháng 9 năm 2015, (ngày mà anh Nguyễn Thanh Bình được thầy Tuệ Sỹ truyền giới (tức qui y- KH ghi) thầy Tuệ Sỹ đã dạy: ”vì mình vẫn đang đi giữa thế tục, vẫn còn bươn chải với đời, nên khó tránh khỏi gặp chuyện này chuyện kia, nhưng đừng bao giờ quên mình là Phật tử …!”
-Và cuối cùng, xin trích lời bình của nhà thơ Bùi Giáng về bài thơ mênh mông “khung trời cũ” của thầy. Bài thơ tôi nhắc ở trên là bài “không đề” hay là “Khung trời cũ” hay là “Khung trời hội cũ” mà Bùi Giáng phân tích và bình quá tuyệt. Xin cho phép tôi dài dòng môt chút vì bài thơ trác tuyệt này của thầy và xin trích một số đoạn của Bùi Giáng.
Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u… Có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia,lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ: Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ. Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan Cười với nắng một ngày sao chóng thế Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ Bụi đường dài gót mỏi đi quanh Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn. Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho. Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
…Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ… Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh… Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại. Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều “phải nói” với mọi người “muốn nghe”, với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”. Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người.
Đôi mắt ướt tuổi vàng Cung trời hội cũ Áo màu xanh Không xanh mãi Trên đồi hoang Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ? Mình là thân bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn? Phải có nhìn thấy gương mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
…Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan Cười với nắng một ngày sao chóng thế Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng. Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche. Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải? Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ Suối nguồn xa Ngược nước Xuôi ngàn… Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhoà ủ rũ ngục tù. Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ ly hôn trong xã hội hiện đại đã tăng lên nhanh chóng. 10 dấu hiệu ly hôn thường gặp dưới đây thực ra cũng là 10 điểm mấu chốt không thể chạm tới. Nếu có hãy nhanh chóng thay đổi, chớ phạm phải.
Già néo đứt dây, 10 điều cấm kỵ khi vợ chồng cãi nhau, chớ phạm phải. (Ảnh: CalypsoArt/ Shutterstock)
1. Tranh cãi trước mặt người ngoài
Trong cuộc sống hôn nhân, xích mích là điều không thể tránh khỏi. Nhưng phải chú ý không cãi nhau ở nơi công cộng, nếu không, không những sẽ không giải quyết được vấn đề, mà còn đổ thêm dầu vào lửa. Dù sao thì ai cũng coi trọng thể diện, tranh cãi trước mặt mọi người chắc chắn sẽ không chịu thua kém nhau, và dẫn đến tình thế khó xử lý.
2. Tranh cãi trước mặt con cái
Ở nước ngoài, trước khi cãi nhau, các cặp vợ chồng thường gọi con vào phòng để chúng không nhìn thấy. Nhưng ở Việt Nam, cha mẹ thường cãi nhau trước mặt con cái.
Con cái vô tội, vợ chồng tranh cãi là việc của hai người. Nếu để con cái chứng kiến cảnh cha mẹ cãi vã, ít nhất sẽ để lại bóng tối trong tâm trí trẻ, tệ hơn sẽ ảnh hưởng đến thái độ của chúng đối với hôn nhân khi lớn lên.
3. Tranh cãi khi người bạn đời đang ốm hoặc đau buồn
Khi tranh cãi, tốt nhất cũng nên chú ý đến thời điểm vui buồn của người bạn đời. Nếu vợ hoặc chồng của bạn đang bị ốm, chán nản hoặc gặp khó khăn trong công việc, nhưng bạn lại nhất quyết đòi gây gổ vào thời điểm này, sẽ khiến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trở nên sâu sắc hơn.Khi tranh cãi, tốt nhất cũng nên chú ý đến thời điểm vui buồn của người bạn đời.
4. Bới lại chuyện cũ của nhau
Khi một số cặp vợ chồng cãi vã thường thích bới lại chuyện cũ và chỉ trích nhau. Họ không biết rằng hành vi này sẽ chỉ làm tăng độ cãi vã và dẫn đến mâu thuẫn ngày càng sâu sắc hơn. Đây cũng là hành vi dại dột nhất của các cặp đôi hay cãi nhau. Hãy để quá khứ ngủ yên và đừng nhắc đến nó.
5. Xúc phạm gia đình bạn đời khi cãi vã
Khi các cặp vợ chồng cãi nhau, hiện tượng phổ biến là cha mẹ và người nhà của bên kia bị ảnh hưởng. Kiểu xúc phạm gia đình người khác này là một việc làm rất nghiêm trọng và phải chấm dứt. Nếu không, sau này cha mẹ, người thân của bạn đời biết chuyện, việc chung sống hòa thuận sẽ trở nên khó khăn hơn.
6. Nói những lời khiến người khác tổn thương
Mọi người thường nói chuyện một cách thô lỗ khi cãi nhau, và việc so sánh người bạn đời của mình với người khác là điều thường thấy. Có người nói đùa rằng vợ người khác luôn tốt hơn vợ mình, nhưng mỗi gia đình đều có những khó khăn riêng. Những điều tốt đẹp của người khác chỉ là phiến diện, chúng ta thường vô hình hoặc cố tình bỏ qua những điểm xấu của họ.
7. Đập vỡ đồ đạc khi cãi vã
Tiếng cãi nhau vốn dĩ đã ồn ào, nếu đập phá đồ đạc, không chỉ quấy rầy hàng xóm, mà còn khiến con cái sợ hãi. Hơn nữa, những thứ bị hỏng đều là của bạn, không chỉ lãng phí tiền bạc, sau đó còn phải tốn thời gian dọn dẹp chúng. Thậm chí có thể bị thương nếu không cẩn thận, điều này sẽ làm sâu sắc thêm sự oán giận trong lòng.Đập phá đồ đạc khi tranh cãi có thể dễ dàng làm sâu sắc thêm sự oán giận trong lòng.
8. Dùng tính mạng để de dọa
Một số cặp vợ chồng khi cãi vã, thường dùng tính mạng để đe dọa nhau, nói những câu như “Tôi không muốn sống nữa”, “Tôi chết cho anh xem”. Đây là một việc làm hết sức ngu ngốc, đừng bao giờ nói những lời giận dữ như vậy.
9. Động thủ đánh người
Việc đánh ai đó khi đang cãi vã cũng là điều rất cấm kỵ. Ngay cả khi tức giận, bạn cũng cần kiềm chế bản thân. Bởi vì chỉ một cái tát cũng có thể xóa sạch ân tình bao năm. Những vết thương trên xác thịt và nỗi đau trong tâm hồn sẽ chỉ làm sâu sắc thêm sự rạn nứt giữa đôi bên.
10. Thường xuyên nhắc tới chuyện ly hôn
Hai người cùng nhau xây dựng một gia đình không phải là điều dễ dàng, đừng dễ dàng nói lời ly hôn. Bởi chỉ cần bạn nhắc một lần trong lúc cãi vã, điều này sẽ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Một ngày nào đó đôi bên có thể sẽ chia tay trong sự giận dữ.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.