HÀNH TRÌNH SƯ MINH TUỆ NGÀY 1-6

Cập nhật của Alex Alpha

Hôm nay thì đoàn của sư Minh Tuệ đã đến xứ Huế mộng mơ.

Thầy từng có mặt tại Huế từ tháng 4 năm nay

Tuy nhiên, tình trạng chen lấn xô đẩy để cúng dường sư trở nên khá nghiêm trọng.

Sư Minh Tuệ tuy là thiên hạ đệ nhất khinh công, nhưng khi bị quần hùng quây thế này thì khó tránh.

Người sư thì nhỏ nhắn, tuy có thần lực nhưng về cơ bắp lại nhỏ nhắn. Khi sư để lộ xương sườn, thì có bao nhiêu cái xương đều có thể đếm được hết. Thực sự khi nhìn bộ sườn và ngực của sư quá thuyết phục. Đúng là công phu của Thiền Tông. Xương sườn của sư khá dài và đều. Tuy nhiên tôi không biết xem tướng xương sườn do tôi không học y, mà thiên hạ bây giờ làm gì có ai lộ xương sườn mà lại nổi tiếng như sư Minh Tuệ đâu. Cho nên tôi không có cơ hội thực hành.
Đất cố đô thì thông thường ẩm thực có nét, có thể nói kinh đô luôn là nơi đệ nhất ẩm thực. Như Trung Quốc cũng vậy, người phương Tây văn minh sang Trung Quốc cũng shock vì sự cầu kỳ và trình độ của ẩm thực Trung Hoa.

Đơn giản thôi, bởi vì trong kinh thành có một người ăn những món ngon nhất, cho nên đầu bếp giỏi nhất sẽ phải ở đó. Mà đầu bếp giỏi nhất đó, cũng có lúc ra phố tán gái, thế là có lúc phải lộ bí kíp nấu ăn. Một người biết, rồi cả phố biết. Cả phố biết thì cả thành phố biết. Đó là lý do tại sao đất Kinh Thành luôn ẩn tàng những giá trị văn hóa cổ xưa và chân thực nhất. Bởi vì người ngồi trong kia ý, luôn được dâng những thứ tốt nhất. Có vậy thôi.

Tuy nhiên thì đoàn của sư ăn chay, thì khả năng như nhưng món bánh bột lọc là sư không ăn được rồi. Vì nó có tôm.

Còn cốm thì xịn nhất vẫn là cốm Hà Nội, cho nên khả năng đoàn của sư sẽ ăn cơm chay bình thường. Đất Huế có nhiều Phật tử, cho nên đồ chay cũng rất phong phú.

Hôm nay thì nỗi buồn Quảng Trị vẫn phảng phất trên nét mặt sư Minh Tuệ.

Sáng nay YouTuber hỏi sư Minh Nhuận hôm nay đoàn có bao nhiêu người, sư Minh Nhuận nói là có hơn 60 người chứ cũng chẳng biết nữa vì nhiều người mới.

Ở một diễn biến khác, sư Minh Tạng đau chân đi chậm hơn nên lại rất thảnh thơi vui vẻ, sáng sớm vẫn được đi khất thực nhà dân. Do tự xác định sẽ tụt lại phía sau nhiều nên các thầy và 3 thầy nữa đi thong thả, mệt thì nghỉ, khoẻ thì đi. Thầy bảo đã quen với mưa nắng thất thường, đau chân, mệt mỏi, về khuya rồi nên nói về việc đó với thái độ tỉnh queo lạc quan, chứ không có gì là phải chịu đựng.

Các Youtuber đi theo sư Minh Tuệ làm việc cũng vất vả hơn vì hình như có thiết bị phá sóng nên khó đến gần để lấy được hình ảnh đẹp.

Có thêm Tùng Yuki tham gia đội vệ sĩ Đất Thép bảo vệ thầy. Hai anh vệ sĩ Tường và Hạnh đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc đồng hành cùng thầy đến Huế và được công ty đổi người mới. Khi đi cùng thầy, có những trải nghiệm khó quên trên những ngày đổ lửa, các anh cũng đã để lại cho bà con theo dõi hành trình của thầy đầy ắp những kỉ niệm ấm áp.

Sáng nay dù có thêm tới 5 vệ sĩ mới cùng rất nhiều công an hộ tống nhưng khi vắng 2 anh bảo vệ cũ nên cảm giác của khán giả cũng chợt thấy không yên tâm. Các vệ sĩ mới bịt kín mặt, có vẻ như các anh không muốn lên sóng. Anh Hạnh đã cạo đầu, liệu anh có quay lại đắp y tu hành không.

Đêm qua ngồi may y xuyên đêm là 5 người, nhưng nay sư Minh Từ chưa dám xin nhập đoàn nên chắc chỉ có 4 người kia vào cộng với 58 người hôm qua là thành ít nhất 62 người.

Giờ nhóm các sư cũ từ Hà Tĩnh cứ vui vẻ tự giác đi với nhau.

Có một anh như từ cõi trời xuống, đi theo đoàn sau 1 hồi vận công thì xì xồ ngôn ngữ lạ, chưa biết theo mục đích gì.

Sư Tuệ Đức của nhóm Rừng gọi rất hồ hởi nói là muốn giúp các sư về kinh nghiệm tiết thực, sư có khả năng nhịn ăn nhiều ngày. Sư Tuệ Đức trông khá oai nghi nhưng khi cất giọng lên thì giọng nói khá gần gũi.

Nhóm Nhân Quả đã bắt đầu quấn chăn ôm nồi cơm làm xiếc. Nhưng nắng gió miền Trung đâu phải trò đùa cho những người Tu Điều Hòa.

Người dân ở Huế đón thầy

SAU KHI CHẾT ĐI VỀ ĐÂU

Tiếp chủ đề về cái chết, để hiểu rõ hơn về sự sống.

Sau khi chết đi về đâu thực sự là do chính chúng ta quyết định. Trường phái anh em vật chất sống kiểu YOLO thì ta chỉ sống một lần trên đời suy nghĩ lắm chi em ơi, trường phái này cho rằng mọi giao giảng về cõi vô hình chẳng qua là lừa người, rồi mong thu được tiền cúng dường, rồi là xoa dịu nỗi đau. Nói chung là trong mắt các bác này không có cái gì gọi là cõi vô hình.

Bên Thiên Chúa thì sau khi chết sẽ về Thiên Đàng hoặc Hỏa Ngục.

Bên Phật giáo, mà cụ thể trong bài ngày hôm nay sẽ nói về Pháp môn Tịnh Độ, tức là pháp môn niệm Phật. Chúng ta hay nghe câu cửa miệng của bà con Phật tử Việt Nam là Nam mô A di đà Phật, hoặc A Di Đà Phật, còn gọi là niệm phật 6 chữ hay niệm phật 4 chữ.

Phật giáo có ba trường phái lớn là Tịnh, Thiền, và Mật. Tịnh Độ tông là một tông phái thuộc về Đại thừa, đưa người tu về cõi Tịnh Độ của đức Phật A di đà, hay còn gọi là vãng sanh cực lạc.

Tịnh Độ là xứ sở sạch sẽ, chỗ chúng ta đang ở là cõi Ta Bà còn gọi là Uế Độ tức cõi uế.

Cõi Tịnh Độ được đức Phật A Di Đà dùng tâm tạo ra, ngài cũng phải tu nhiều a tăng tỳ kiếp mới tạo ra được chứ không phải ngày một ngày hai. Vì các cõi là do tâm tạo, cho nên có nhiều cõi Tịnh Độ trong đó có Tây phương cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Thiên đàng của bên Thiên Chúa cũng là một cõi Tịnh mà thôi, và cũng được tạo ra để đón con chiên sau khi mất về đó.

Cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà được tạo bởi 48 nguyện lực, các cõi Tịnh khác cũng có nhưng số nguyện lực ít hơn. Nôm na, chúng ta hiểu cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà là một siêu cấp thành phố đầy đủ tiện nghi nhất.

Cõi Tịnh Độ này không phải bỗng dưng mà con người biết. Cõi này được Đức Phật Thích Ca marketing thì mọi người mới biết. Phật Thích Ca nói rằng: ngay lúc này, ở phía Tây, cách đây 10 vạn ức cõi Phật có một cõi gọi là cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

Mọi người lại tò mò hỏi, ở đó có gì vậy ạ. Phật Thích Ca mới từ từ hé lộ và mô tả khung cảnh của cõi này. Phật nói có rất nhiều Khổng Tước, hót suốt ngày, mà hót ra những bài Pháp du dương, con người chỉ nghe là mê say mà ngày càng tinh tấn tiến bộ. Tất nhiên, anh em cõi Ta Bà nghe thấy ham, hỏi càng kỹ hơn như các Youtuber, càng hỏi càng mê say, và cuối cùng mới hỏi: vậy làm thế nào để đến được cõi Tịnh Độ này ạ. Đức Thích Ca mới nói: để ta chỉ cho, ha ha ha.

Tất nhiên, đó là lời kể của tôi. Chứ thực ra Kinh A Di Đà là bộ kinh ngắn, không có đối thoại. Mà trong đó chỉ có một mình Đức Phật Thích Ca thuyết mà thôi.
Nói về Đức A Di Đà, thì ngài là thầy của Phật Quán thế âm mà mọi người hay biết. Ngài còn ngự trên đầu của Đức Quán thế âm, và ngài là giáo chủ của cõi Tây phương Cực lạc. Ngài nắm giữ cửa thành phía Tây và là 1 trong 5 vị Phật trung tâm của các Mạn Đà La bên Mật Tông.

Để nói cho ai biết rằng, Đức A Di Đà là một vị rất rất vip pro trong server. Không dễ gì và không phải ai cũng đủ nguyện lực để tạo ra một cõi Tịnh Độ.

TẠO RA CÕI TỊNH ĐỘ ĐỂ LÀM GÌ

Vậy Đức A Di Đà tạo ra cõi Tịnh Độ làm gì. Ta tạm hiểu nó là một cõi, vì ở đó không thời gian không giống như thế giới 3 chiều này của chúng ta.

Ngài tạo ra cõi này để đón các chuyến bay quá cảnh của các Phật tử ngoan mà chưa giỏi.

Thế nào là ngoan, nghĩa là đã chịu khó tu hành rồi. Thế nào là chưa giỏi, là chưa đủ trình độ để đắc đạo.

Và ngài vớt những thành phần này về cõi Tịnh Độ của ngài, và không phải luân hồi nữa. Về đó để làm gì, để tu tiếp và thành Phật. Tất nhiên ở đó điều kiện rất đầy đủ, hoa sen thơm ngát, toàn cõi trang nghiêm tịnh độ, tốc độ tu hành cực cao. Một ngày ở cõi Tịnh bằng nửa chu kỳ vũ trụ. Tức là một chu kỳ vũ trụ hình thành và hủy diệt thì ở cõi Tịnh mới được 2 ngày.

Lát nữa quay lại tôi sẽ nói về điều kiện để xin được visa vĩnh trú miền cực lạc này.

Bây giờ sẽ bàn về sự ảnh hưởng của cõi Tịnh Độ.

NIỀM TIN NHƯ MỘT CỨU CÁNH

Đầu tiên, là nếu bạn tin rằng có một cõi tồn tại sau khi chết. Chết không phải là hết. Mà mọi nhân quả nghiệp báo được ghi lại vào cuốn sổ vô hình. Sau đó bạn phải luân hồi mãi mãi để trả hết nợ cũ. Mà trả chưa xong thì con bạn lại vào đại học, rồi mua nhà, mua xe, rồi khởi nghiệp, rồi phá sản, thì bạn lại nợ mới trong khi chưa trả xong nợ cũ. Lãi mẹ lại đẻ lãi con. Nghiệp nó cũng như vậy, cứ mãi xoay vần. Nếu bạn biết là có chuyện như vậy, bạn có còn muốn lặn ngụp trong biển luân hồi nữa không. Bạn có làm ác sau đó phải chịu quả báo không. Tất nhiên là không.

Nếu có một cõi sau khi chết, lại về đó nhìn mặt nhau, lại tiếp tục tính toán với nhau, bạn có thấy mỏi mệt không. Tất nhiên, ai cũng muốn chấm dứt mà thôi.
Nhưng vì sao Đức Phật nhìn ra mấy chuyện này, vì Ngài có trí tuệ. Vì sao chúng ta không nhìn ra, vì chúng ta là chúng sinh u mê bị ngũ uẩn che mờ. Khi chúng ta tin vào những chân lý này, thì bên Phật gọi là bất Nghi, và bắt đầu con được tu tập.

Tất nhiên có những người không tin, họ cho rằng chết là hết, và họ đứng ngoài bĩu môi chê bai, rằng là u mê rồi bị lừa các kiểu.

Cho nên xã hội mới hình thành tôn giáo, rồi người theo này, người theo kia, người không theo gì cả. Và các quốc gia đa phần đều cho tự do tôn giáo tín ngưỡng.

Triết lý về cái chết và sau cái chết là cực kỳ quan trọng cho các tôn giáo, và nó ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày.

Nếu một người thực sự tin nhân quả, họ sẽ hành động kiểu khác. Thành ra người tu giả rất dễ bị phát hiện bởi các hành vi đạp lên nhân quả. Họ hành động bất chấp nhân quả thì chắc chắn không thể nào là người tu được.
Vậy khi mà Bất Nghi rồi, con người tất nhiên sẽ không làm ác nữa, mà tích đức hành thiện, cho nên xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Cho nên ngàn năm nay Vua với Phật song hành là như vậy. Và đó cũng là lý do mà nhân dân lựa chọn tôn giáo nào. Chính đạo là gì, chính đạo chẳng qua là đạo được nhiều người dân chấp nhận và gìn giữ theo thời gian. Đây cũng là lý do mà vì sao ban đầu lúc truyền đạo, hành trình thực sự rất gian nan. Ngay như sư Minh Tuệ lúc này, đạo hạnh được rất nhiều người dân ủng hộ mà còn gian nan đến thế.

Cõi Tịnh Độ cũng thắp lên trong lòng Phật tử một niềm tin. Họ biết sau này họ chết sẽ đi về đâu. Họ biết phải làm gì đế đến đó. Họ vững tâm và không bị bàng môn tà đạo quấy rối. Đó là giá trị cực kỳ lớn của cõi Tịnh Độ. Tôi biết nhân quả, tôi biết cách về Tịnh Độ, tôi biết phải làm gì để về đó. Tôi biết không về đó mà ở lại chiếu bạc nay thắng mai thua. Thắng cười, thua khóc, cứ thế vô lượng kiếp, thì tôi thấy cũng chán. Tóm lại, là có niềm tin Tịnh Độ giúp tôi gạt bỏ hết những hành động không cần thiết.

Có người đến rủ cầu phúc cầu tài cầu danh, tôi ngồi quán, à cũng chả ăn thua, sau rồi cũng chả đến đâu, cũng là màn kịch khóc cười thôi.

Và tự nhiên cuộc đời tôi khi đó là làm mọi thứ để về cõi Tịnh Độ.

Cho dù thành công, hay làm vua làm tướng, cuối cùng vẫn rơi vào vòng tay của nhân quả luân hồi. Có thể trong một quãng thời gian nào đó, tôi đã nghĩ là có nhiều tiền thì cứu được cuộc đời, tôi đã nghĩ là có sức khỏe là có tất cả. Nhưng không, tất cả không giải quyết được rốt ráo vấn đề. Cũng vẫn chỉ là trong một giấc mơ, mơ vẫn là mơ mà thôi.

Và nay thì tôi đã tìm được một chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề trên, cho nên dù làm gì, giải trí hay nghỉ ngơi, thì tôi cũng ưu tiên việc gọt giũa chiếc chìa khóa này trước.

Đó là lối suy nghĩ của các hành giả đã phá bỏ nghi tình và bước vào Nhập Lưu.

Bây giờ quay lại các cháu thanh niên cầm phóng lợn phi xe ngoài đường. Các cháu đều khỏe mạnh chân tay bình thường, nhà có điều kiện ít nhất còn mua được xe máy và sắm được phóng lợn. Chỉ có mỗi cái là không có trí tuệ Bát Nhã. Bao nhiêu người tật nguyền, họ còn khát khao làm điều thiện, mà chẳng có điều kiện. Nhìn cũng thấy lãng phí xã hội.

Giả sử có một cháu ngộ ra lẽ sống vào Tịnh Độ, bạn nghĩ sao ?

Và cả xã hội này có hàng triệu người ngộ ra mục đích của cuộc đời họ, bạn nghĩ sao ?

Đây có thể nói là sự đóng góp vĩ đại nhất của Thiên Đàng bên Thiên Chúa và cõi Cực Lạc bên Phật.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ VÀO TỊNH ĐỘ

Tịnh Độ không phải cứ thích vào là vào, thân xác phàm thì chắc chắn phải bỏ lại rồi. Nhưng tâm mà bẩn và ô trọc thì không qua được cửa từ an ninh để tiến vào Tịnh Độ. Nên cơ bản, chưa cần hiểu Tịnh Độ là gì, thì chúng ta cũng hiểu rằng, tâm sạch mới vào được Tịnh Độ.

Có ba yêu cầu là tín, nguyện và hành. Tín là tin. Nguyện là mong muốn, thực ra không hẳn là mong muốn nhưng dịch thế cho dễ hiểu. Nguyện thực ra là mong muốn dựa trên hiểu biết, hay nói cách khác là mong muốn một cách có trí tuệ, nó phân biệt với Tham. Hành là hành pháp, hay nói cách khác là thực hành pháp.

Nếu chỉ tụng kinh niệm Phật, làm việc tốt, mà không có nguyện, cũng không bao giờ về được Tây phương Cực lạc.

Vì cho dù niệm Phật đến Nhất niệm thì cũng chỉ về được cõi Trời mà thôi.
Cả cuộc đời làm 100% việc tốt, cũng chỉ về được cõi Trời mà thôi. Mà đây là ví dụ không tưởng nhé.

Cõi Trời là gì, là cõi màu trắng và chỉ dành cho những người tốt và những điều tốt. Ở cõi trời vì sướng quá nên khó tu hành, hết phước lại bị đọa. Cho nên có nhiều vị ở cõi trời nhưng xin visa bay sang cõi Tịnh Độ để tu.

Nếu vũ trụ nổ, thì cõi trời tan thành mây khói, nhưng cõi Tịnh Độ thì còn nguyên.

Nhưng về niềm tin, các Phật tử lại khác nhau. Họ giống như những con người đi dự lễ cầu mưa nhưng chỉ có một người mang theo ô.

Không phải tôi nói xấu các Phật tử, nhưng thực sự cái chữ Tín này khó. Chỉ cần đạt được chữ Tín thôi, tối đa 7 lần chuyển sinh nữa sẽ thành Phật. Đa phần mọi người không đạt được chữ tín này. Tín này là Chánh Tín chứ không nói mê tín nhé.

Có Tín, có Nguyện, và thứ nữa là Hành. Không có thứ tự nào quy định trong bộ 3 này cả. Có người tin rồi mới làm, rồi mới phát nguyện. Có vị thì hành trước, tín sau, rồi mới nguyện. Có vị lại nguyện trước, tín hành sau. Nói chung, tùy.
Hành thì đương nhiên là hành thiện tích đức. Bạn thấy, cả đời muốn vào Tịnh Độ đâu có dễ. Và phải hành thiện cả đời, tránh việc tạo nghiệp xấu.

Kết hợp cả 3 tín nguyện hành, đây là lý do vì sao xã hội chào đón đạo Phật nói chung và Tịnh Độ tông nói riêng.

Các thầy cũng có vắn tắt về pháp môn niệm phật như sau: miệng tụng nên không còn nói lời xấu, thân chắp tay hoặc gõ mõ nên không còn làm xấu, ý đang tập trung vào lời tụng nên không còn nghĩ xấu. Chỉ một pháp môn niệm Phật mà thanh tịnh được cả Thân Khẩu Ý mà đắc Đạo là vì vậy.

Nói chung Tịnh Độ Tông là một pháp môn lớn và tuy đơn giản mà siêu việt.

LÀM SAO BIẾT NGƯỜI CHẾT VÃNG SANH CÕI NÀO

Nói ba cõi sáu đường. Ba cõi là Dục (tham), Sắc (sân), Vô Sắc (si). Sáu đường là lục đạo luân hồi gồm có: trời (tu thập thiện chưa thoát khỏi THAM), người (giữ 5 giới, vẫn SÂN), atula (tà tín ham phước bói toán cầu hồn, chưa thoát khỏi SI), ngạ quỷ (nghiệp THAM nặng), súc sinh (nghiệp SI nặng), địa ngục (nghiệp SÂN nặng).

Nói chung 3 cõi lành là Trời Người và Atula là Tham Sân Si nhẹ, còn 3 cõi dữ là Ngạ Quỷ Địa Ngục, Súc Sinh là Tham Sân Si nặng.

Để biết người chết sẽ đi về cõi nào, thông thường người thân sẽ xem phần cơ thể còn ấm lại sau cùng, tức là chỗ cơ thể chết sau cùng. Thần thức của người chết sẽ thoát khỏi cơ thể từ chỗ đó.

Nếu đỉnh đầu là chỗ cuối cùng còn nóng ấm, về cõi Phật. Gọi là Đảnh Thánh.
Nếu trán và mắt nóng ấm, về cõi trời. Mắt sinh Thiên.

Nếu tim còn nóng ấm, về cõi Người.
Nếu bụng nóng ấm, về đường Ngạ Quỷ.
Nếu đầu gối nóng ấm, về đường Súc Sinh.
Nếu lòng bàn chân nóng ấm, về Địa Ngục.

Nếu đỉnh đầu nóng ấm, mang người mất đó đi hỏa thiêu sẽ có xá lợi.

Việc phân ra các cửa chuyển sinh như trên, thực ra cũng có tương đối. Ví dụ như bụng nóng ấm về đường Quỷ Đói, có thể hiểu là kiếp sau vẫn làm người nhưng mà kiếm ăn vất vả khổ cực, cứ ráo mồ hôi lại hết tiền. Sống như con quỷ đói tham ăn trong cõi người.

Còn đầu gối nóng ấm, có về cõi người, thì cũng phải vất vả bôn ba đây đó, hoặc sống như súc sinh trong cõi người.

Người mất, thì nếu mỉm cười, sẽ về cõi Phật.
Người mất, nháy mắt, về cõi trời.
Người mất, đau đớn gào thét, dễ về cõi dữ.

Cho nên có những người nông dân, sống gần trăm tuổi, hôm nay gọi con cháu về, sáng hôm sau dặn dò, chiều hôm sau thõng tay ra đi, khuôn mặt nóng ấm, thân xác mềm mại. Thì bạn hiểu đó là cảnh giới tuyệt vời như thế nào. Đa phần ông bà chúng ta là nông dân, nhưng đều có một cuộc đời tuyệt đẹp như vậy. Bởi vì những người đó, chắc chắn thượng sinh vào cõi lành.

Nghĩ lại thì thực ra chết nhẹ nhàng như thế mới là hưởng hết số trời. Nhưng vì dòng đời sân si, bị tham đắm làm cho mê lầm, cho nên không phải ai cũng hưởng hết tuổi trời.

Khi mà thần thức rời khỏi thân xác thì đau như bị dội nước sôi. Khi đó bản năng trỗi dậy, bao nhiêu tu học mà không vững là đều quên sạch. Khi đó oán hận cũng tràn về, nghiệp cũ cũng tràn về. Nghĩ đến bát phở là sẽ vãng sanh vào quán phở. Nghĩ đến thù hận là vãng sang đi báo thù.

Cho nên thường bên Tịnh Độ có ban hộ niệm, họ sẽ niệm phật cho người sắp mất và mới mất. Lời niệm thì chúng ta cứ hiểu là một lời nhắc, bởi vì đa phần người dân không phải người tu hành. Bên hộ niệm đến niệm giúp để thần thức lúc thoát ra không đau đớn, không bị tam độc làm cho mê lầm, mà khi mới mất đi về được cõi sáng.

Thầy từng có mặt tại Huế từ tháng 4 năm nay

Khi người mới mất nếu thượng sinh thì sẽ mềm mại, nhưng đa phần chúng sinh bị co cứng người. Khi này thì ban Hộ niệm chỉ cần ngồi xung quang tụng: Nam mô A di Đà phật một lúc là xác đó sẽ mềm ra.

Còn những cái xác mà bị trương bụng không cho được vào quan tài, thì miền Nam họ đặt lên bụng xác chết mấy nải chuối sứ, sau đó họ cầm cành tre đi vòng quanh quan tài và gõ. Một lúc sau nải chuối sứ sẽ hút khí âm từ xác chết vào nải chuối, xác chết xẹp lại và rơi xuống quan tài. Quả chuối đã hút khí âm đó, mà ai ăn nhầm vào thì nôn mửa và thối mồm khoảng 3 tháng. Trước cau sau chuối là chỗ này. Vì cau tượng cho dương nên trồng trước nhà, chuối tượng cho âm nên trồng sau nhà.

Khi thần thức vừa rời khỏi thân xác, nếu vị nào chân tu sẽ được Đức Phật A Di Đà đến cầm bông sen đón, vị đó hòa vào bông sen và về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, coi như có visa vĩnh trú miền cực lạc.

Nếu thần thức không được đón, thì sẽ có các vùng sáng xuất hiện. Vùng ánh sáng vàng là cõi Phật, nhưng thường là chúng sinh vì u mê vô minh nên thích tối sợ sáng, thấy sáng choang là né, cho nên chính chúng ta là người trốn khi Phật đón chứ không ai khác. Còn vùng trắng là vùng trời yên bình an nhàn. Vùng đỏ là vùng của các thần, chiến đấu đánh nhau ngày đêm. Vùng xanh là vùng của phàm phu, ăn rồi lười, online nói phét suốt ngày. Vùng đen là của địa ngục.

Nói vậy chứ về vùng nào, còn do Nghiệp lực. Như Thân Trung Ấm không thể tùy ý lao vào tòa sen của Đức Phật mà ngồi, và cũng không thể lao vào bụng mẹ mà chuyển sinh tùy thích. Tất cả đều có passcode, đúng passcode thì giao diện iPhone 13 mới mở ra rực rỡ đón chào hành giả.

KHỞI NGUYÊN MẠCH THIỀN TÔNG CỦA SƯ MINH TUỆ

Tuy nhiên, sư Minh Tuệ lại khởi nguyên từ đâu.

Xin mời trở lại rừng trúc nơi có một trưởng lão cao thủ, phục hưng toàn bộ hệ thống Thiền Trúc Lâm của Việt Nam chính là Trưởng lão Thích Thanh Từ, thầy của gần như tất cả các bậc thầy ở Việt Nam ngày nay.

Mấy vị mà các bạn hay lên án cũng từng có thời là học trò của trưởng lão này (trong đó có thầy Minh và thầy Quang). Mà thầy của sư Minh Tuệ là trưởng lão Thích Thông Lạc (tất nhiên sư Minh Tuệ xuất gia được 1 năm thì trưởng lão Thích Thông Lạc qua đời rồi) cũng là học trò của vị trưởng lão này.

Vị Trúc Lâm trưởng lão này rất thích nằm võng. Đây mới là sự sâu xa của bài pháp không nằm võng gây tranh cãi.

Dòng Thiền từ Trúc Lâm đại trưởng lão, truyền qua sư Thông Lạc, rồi truyền qua sư Minh Tuệ, càng ngày càng có độ cứng như kim cương. Tính cách của sư Minh Tuệ cũng là rắn nhất so với 2 tiền bối. Trưởng lão Thích Thanh Từ hiền lành từ bi, đến trưởng lão Thích Thông Lạc là độ quyết liệt đã cao lên, còn đến sư Minh Tuệ thì còn cứng như kim cương. Cho nên thực ra, sư Minh Tuệ trông thì hiền, nhưng những phát ngôn về đường tu hành và về Hội, các bạn nghe kỹ sẽ thấy rất sắt đá. Và chưa cần xét lời nói, ngay cả lối tu của sư vào thời đại này cũng có thể nói là con đường kim cương rồi. Đi trên con đường đó, thì bàn chân cũng phải là kim cương mới đi được, chân gỗ còn nát chứ đừng nói chân thịt.

Tổ Ca Diếp người tu Hạnh Đầu Đà thời Đức Phật là Tổ thứ 1 của dòng Thiền của cả thế giới, đến tổ thứ 27 là Tổ Đạt Ma truyền sang Trung Quốc. Tổ Đạt Ma là Tổ thứ 1 của Thiền tông Trung Quốc, truyền xuống Huệ Khả là Tổ thứ 2, rồi truyền mãi đến Huệ Năng là tổ thứ 6 thì không truyền y bát nữa.

Sư Minh Tuệ ngày nay thực hành giáo pháp của Tổ Ca Diếp, cũng là đại tổ sư của Thiền tông. Sư lại cũng có xuất thân ở lưu phái của Trưởng lão Thích Thông Lạc. Tổ Ca Diếp tuy là đầu đà, nhưng cũng là trùm của các trùm về thiền. Mà bên thiền thì có thiên về giảng pháp tràng giang đại hải đâu. Có bên Tào Động hay dùng Thoại đầu để khai ngộ, còn cơ bản phải giữ giới và hành thiện. Sự hiểu như một đóa sen nở từ bên trong, chứ không phải một hồ sen nở bên ngoài.

Điều này khẳng định tông mạch của sư Minh Tuệ là cực kỳ rõ ràng, không hề đơn giản. Còn nếu nói theo tâm linh, một khi đã khai nhãn sẽ được Tổ Ca Diếp tiếp tục chỉ giáo thì không thể tưởng tượng nổi võ công của sư sẽ đến mức nào.

Liệu có phải trong rừng keo lá tràm ở giây phút sững người đó, sư đã thực sự xuất vía ?

Hôm nay, đánh trống qua cửa nhà Sấm Tịnh Độ hơi dài rồi. Hôm khác, tôi sẽ gõ cửa nhà Thiền sau. Hẹn gặp lại các bạn buổi khác.

Bài hôm trước đúng là các bạn làm tôi quá ngạc nhiên. Ban đầu tôi cũng chỉ nghĩ các bạn là dân mạng online à ơi thôi, ai ngờ trình độ hiểu biết Phật pháp của các bạn cũng hết sức ghê gớm, quả thật tôi mới là người được mở mang tầm mắt. Con rồng cháu tiên quả thực không thể xem thường.

TỔNG KẾT NGÀY

Đang update

Chúc mừng sư Minh Tuệ, đoàn nồi cơm điện, và tất cả các bạn thật vui vẻ hạnh phúc nhân ngày quốc tế thiếu nhi 1/6.

#thichminhtue #daudaminhtue #suminhtue

TU RỐT RÁO LÀ PHẢI DẤN THÂN…

30/05/2024 Bài viết đăng trên trang Hành Trình Thầy Minh Tuệ:

Có một Phật tử hỏi Thầy: “Thưa Thầy, tại sao Thầy không tu ở chùa mà lại phải đi lang thang khất thực như thế này cho khổ?”

Thầy trả lời: “Phải đi ra ngoài tiếp xúc với thế gian mới xả li được hết cái sân si của mình. Ở trong chùa thanh tịnh vắng vẻ, cũng ba y một bát nhưng tính chất nó khác, không tiếp xúc với ai, không va chạm với thế gian thì làm sao biết mình đã hết sân, hết si?

Ra ngoài nắng, mưa, người ta chửi, mắng, đánh đập, khen, chê, xin cơm người cho người không, phải chịu đắng cay tủi nhục mới rũ bỏ được hết tham, sân, si, mạn, nghi, đi tới chánh đẳng chánh giác.

Ở trong nhà mà bảo tôi đã hết sân si rồi thì làm gì có tiếp xúc với ai đâu mà nổi sân si? Làm gì có ai tới phá phách va chạm gì đâu mà sân si? Phải ra ngoài, phải biết khổ đau thì mới thoát được khỏi khổ đau. Phải đi tới tận cùng của cái khổ rồi thì sẽ không còn gì có thể làm cho mình khổ nữa…”

Nghe Thầy nói mà tự nhiên nghĩ tới mấy ngày trước Thầy ngủ ở nghĩa địa mà cũng bị đuổi. Có lẽ đây không phải là lần đầu tiên. Rồi chưa kể những lần Thầy đi xin cơm, không ai cho mà còn bị khinh rẻ, những lần Thầy bị mắng, bị đánh sưng miệng vì bị thế gian cho là giả sư lừa đảo. Nhưng Thầy vẫn chấp nhận, vẫn mỉm cười không sân hận mà còn lo người đánh mình bị đau tay và mong họ luôn được an lạc, hạnh phúc… Yêu thương và từ bi là cách để Thầy đi tới bậc thang cuối cùng của sự giác ngộ.

Chứ giờ mà Thầy ở trong chùa to tượng lớn, tài sản ngàn tỉ, đất đai bạt ngàn, tay đeo đồng hồ Rolex, hai điện thoại Vertu hai sóng, đổi xe từ Audi sang Volkswagen hay ngồi trên ngai cao điện lớn nhìn xuống nhận cúng dường, thì đâu còn gọi là tu nữa…

Với một bậc chân tu, tu là sửa, là để tự hoàn thiện mình, là phải tự trải nghiệm khổ đau để đạt tới giải thoát khổ đau cho mình và cho chúng sanh. 🙏🙏🙏

HÀNH TRÌNH SƯ MINH TUỆ NGÀY 31-5

Alex Alpha

Sáng nay thì đoàn sư Minh Tuệ đã ngồi thọ thực tại nơi nghỉ tối qua, bà con đã chuẩn bị đồ cúng dường cho các sư.

Sáng nay thì có một lúc các thầy bị fan lao vào như trong showbiz.

Khá nhiều người muốn đổi nồi cơm điện lấy may với sư Minh Tuệ.

Truyền thông giật tít đã có các sư bỏ về sau cái chết của sư Minh Thiện, và đưa hình sư mặc áo sọc xanh trắng giống tuyển Achentina làm ví dụ. Nhưng đây là thông tin sai, vì sư này bỏ đoàn từ sáng sớm hôm qua khi sư Minh Thiện còn chưa bị đột quỵ cơ. Sư này đi 10 ngày trải nghiệm, và quyết định về quê và tiến hành tu linh hoạt tại gia. Trong lòng luôn hướng về Phật pháp, nhưng vạn sự xin tùy duyên.

Còn khoảng 18 km nữa đến đất Huế, thì khả năng rất cao hôm nay là ngày cuối cùng ở đất Quảng Trị. Đây đúng là một mảnh đất thép với nhiều kỷ niệm không thể nào quên của đoàn.

Hôm nay, sau sự cố hôm qua thì số lượng sư trong đoàn không vì thế mà giảm đi. Hiện số lượng đã là 58 sư, mặc dù hôm qua có một vài sư bỏ về. Có sư Minh Từ nhỏ nhất mới 21 tuổi, được bà ngoại đưa đến, cũng đã có chút chuẩn bị về chế độ sinh hoạt, vận động, ăn uống. Các anh em Youtuber vẫn đóng vai trò Đền Trình rất hiệu quả.

Hôm nay thì đoàn không nói về sự việc sư Minh Thiện mất hôm qua. Có hỏi cũng chỉ bảo là mọi người đều đã biết rồi.

Các sư có kinh nghiệm dẫn đầu đoàn, khá vui vẻ thoải mái. Các sư mới nhập đoàn thì đi ở giữa. Các sư gần với sư Minh Tuệ hơn thì đi gần hơn. Sư Vô Sanh cũng đã có mặt. Sư Song Ngư Minh Hiếu thì chưa thấy.

Sư Kim Cang hôm nay đã tịnh khẩu. Hỏi gì cũng chỉ A Di Đà Phật. Bởi vì sư cảm nhận được bài viết của tôi chăng. Dù có nói gì cũng chỉ là vô minh mà thôi.

Trưa nay thì các thầy được chuẩn bị chỗ nghỉ trong một nghĩa trang gần QL1A xã Hải Lăng. Có dựng bạt che nắng mưa, nhưng có chỗ bất tiện so với cây xăng là không có chỗ vệ sinh.

VÔ MINH

Vô Minh đơn giản là không biết sự thật. Vậy biết sự thật là gì. Là giác ngộ. Người biết sự thật là gì. Chính là Phật. Trong Đạo Phật có nhiều kinh điển, nhưng đơn giản là chỉ cần nhìn thấy chính mình là thành Phật. Một cái máy ảnh không thể tự chụp chính nó, kể cả có soi hàng vạn cái gương. Chúng ta không thể nhìn thấy gáy của chính mình. Khi nào chúng ta tự nhìn thấy mình thì chúng ta thành Phật.

Vậy làm thế nào để nhìn thấy chính mình, có 84000 Pháp môn đang chờ bạn.
Vô Minh trong cuộc sống có nhiều biểu hiện. Ví dụ một cậu trai tán một con bé tham tiền bằng những lời khen ngợi rồi hứa hẹn hạnh phúc, tất cả đều vô nghĩa, chỉ cần 1 cái iPhone 13 là xong. Vậy vì sao cậu trai không biết điều đó, vì Vô Minh đã che mờ đôi mắt. Mà đôi khi chính con bé kia cũng không biết nó là đứa tham tiền, mà chính nó cũng lừa dối bản thân nó là nó thích trí tuệ cơ thích giải thoát cơ, nhưng bản chất là tham tiền. Nó cũng Vô Minh, mà cậu trai cũng Vô Minh. Chúng ta cũng vậy, chúng ta luôn là cậu trai kia và cô gái ở những phiên bản khác mà thôi.

Rồi Tần Thủy Hoàng đi tìm sự bất tử, cũng là dạng Vô Minh.

Rồi tất cả những bộ phim về vũ trụ Marvel rồi vũ trụ Disney rồi vũ trụ Kim Dung rồi vũ trụ Tây Du Ký, có các siêu anh hùng, nhưng chung quy cũng là ân oán tình thù. Anh đấm tôi một đấm, tôi đá lại anh một đá. Người bình thường đấm nhẹ và chậm hơn, còn kẻ có thần thông thì đấm dữ dội hơn. Thủy Hử là nói về 108 vị có thần thông. Kim Dung cũng viết về những vị có thần thông. Điện thoại di động của chúng ta cũng là thần thông. Thần thông tạo ra sự kỳ diệu và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, nhưng thần thông lại không giải quyết tận cùng gốc rễ của vấn đề.

Thần thông là một siêu xe, đi về đâu lại do trí tuệ. Cho nên đạo Phật không cổ vũ thần thông, mà đạo Phật xiển dương trí tuệ.

Vô Minh là không có trí tuệ, có trí tuệ là không Vô Minh.

Thấy người say nắng đột quỵ mới rời bỏ tăng đoàn chính là Vô Minh.

Thấy ông sư ôm bát đi hành khất bảo là ông này đang làm việc vô nghĩa, cũng là Vô Minh.

Nói chung Vô Minh là cái nhìn sai về một sự thật khách quan. Cho nên cõi Ta Bà của chúng ta chính là cõi Vô Minh, chứ chẳng đâu xa.

CÁI CHẾT

Nhưng nãy giờ nói về Vô Minh để làm gì.

Bởi vì nó liên quan đến cái chết.

Vì sao chúng ta lại chết.

Khi phóng viên hỏi người Nhật, là vì sao các ông học Nho giáo của Trung Quốc mà sau này các ông lại phát triển sớm và nhanh hơn Trung Quốc, có phải do các ông bỏ đông theo tây không ? Thì họ trả lời: thực ra chúng tôi không thể nào học hết tinh hoa của Trung Quốc, nhưng tinh hoa của Trung Quốc đa phần về nói về cái sống. Chúng tôi học về cái sống vừa đủ, nhưng về cái chết chúng tôi lại hiểu hơn người Trung Quốc. Người Trung Quốc rất giỏi nói về cuộc sống, nhưng họ sợ chết hơn chúng tôi, nên thậm chí họ không thể hiểu trọn vẹn điều họ rao giảng bằng chúng tôi. Chúng tôi là những người dám thực hành cái chết.

Vì sao chúng ta được sinh ra.

Trong kinh Phật chia ra làm hai loại. Các vị Phật sinh ra, hay còn gọi là tái sinh, hoặc chuyển sinh làm kiếp người, là do nguyện, tức là các vị ấy muốn thế, muốn sinh ra để phổ độ chúng sinh chứ không phải bị sinh ra. Còn phàm phu chúng ta bị sinh ra do Vô Minh, hay còn gọi là sinh ra do nghiệp.

Tóm lại sinh ra có 2 loại, nguyện và nghiệp.

Thế nào là tái sinh do nghiệp.

LUÂN HỒI SINH TỬ DO THAM ĐẮM

Ví dụ dễ hiểu nhất là lúc sắp chết nhớ tới bát phở, thế là chuyển sinh vào gia đình bán phở. Ăn phở thỏa thích.

Đến năm 20 tuổi, đi Châu Âu chơi, được ăn bánh pizza, thấy ngon quá. Sau này lúc chết lại nhớ tới mùi pizza nên lại chuyển sinh vào gia đình làm bánh pizza.
Đến năm 18 tuổi, đang ăn pizza thấy một cô gái đi ngang qua khung cửa, thấy quá thích liền phi qua cửa sổ đến với cô ấy. Thì ối dồi ôi, cô ấy đã có chồng rồi.
Sau này, lúc chết lại nhớ về cô ấy, bộ vi xử lý vũ trụ mới lập trình xoạch xoạch tìm một điều kiện tối ưu nhất để được gần bên cô ấy. Kết quả đưa ra, để gần cô ấy, bạn chỉ có thể làm một con chó để bầu bạn có được không, chứ tất cả các nhân vật xung quanh cô ấy đã đều có rồi.

Thế là ok, làm con chó bên người đẹp. Một ngày, người đẹp lấy chồng. Chồng người đẹp thế nào lại ghét con chó, sút một phát, con chó dính lên tường, từ từ rơi xuống để lại trên tường một vệt máu dài.

Con chó khi chết nhớ về thằng cha kia, lạ rình tái sinh để trả thù. Rồi tái sinh được, trả thù xong, lại dính vào oán thù mới, cứ oan oan tương báo trải vô lượng kiếp sống, gọi là luân hồi.

Kiểu xin tí cơm ăn nốt tí canh, lại xin tí canh ăn nốt tí cơm.

Thì có những vị thức tỉnh, một ngày họ nhận ra mãi rơi vào những tuần hoàn vô nghĩa, họ bảo thôi chơi game này chán quá, không muốn tái sinh nữa. Nhưng muốn không bị tái sinh, thì phải rũ sạch nghiệp lực, hay còn gọi là tu hành để chuyển nghiệp. Nghiệp cứ bong ra đến đâu, thì ngọn đèn trí tuệ sáng đến đó, rồi một ngày thành Phật.

Chuyện có thế thôi.

CÁI GÌ ĐI TÁI SINH

Có hai quan điểm về linh hồn. Một là có linh hồn vĩnh cửu gọi là thường kiến, linh hồn này thoát khỏi thể xác và bay khắp nơi đánh nhau như Tây Du Ký. Hai là không có linh hồn vĩnh cửu gọi là đoạn kiến, chết là hết, đây là quan điểm của nhóm YOLO, sống chỉ một lần bạn ơi, hãy làm gì mình thích, đi phượt thôi. Cả hai quan điểm trên đều bị Phật giáo bác bỏ.

Sau đó là tranh cãi về thời gian tái sinh, tái sinh lập tức sau khi chết (theo Phật giáo nguyên thủy), hay phải sau 49 ngày (theo Trung Quốc), thì quan điểm hiện đại mềm dẻo đứng ở giữa cho là tùy. Thân Trung Ấm (giai đoạn chuyển tiếp, thân trong giai đoạn bị che mờ) có thể là 49 ngày, có thể ít hơn, và có thể dài hơn, tùy từng trường hợp.

Vậy không có linh hồn thì cái gì đi tái sinh. Thì cái đi tái sinh trong Đạo Phật chính là Thức.

Nôm na là giữa tiền kiếp và hậu kiếp có một tấm màn che bằng nilon. Trong suốt, mềm mại, nhưng không xuyên thấu nên không có vật chất hay ánh sáng hay bất cứ cái gì lọt qua khỏi tấm màn này. Có nghĩa là giữa hai kiếp sống không có sự trao đổi về vật chất. Không có vật chất hay ánh sáng nào từ kiếp này xuyên màn qua được kiếp bên kia cả. Chỉ có một thứ xuyên qua được, đó chính là thông tin. Còn thể xác hay còn gọi là tấm thân tứ đại thì tan rã, cát bụi trở về với cát bụi.

Không có một linh hồn nào đi xuyên qua tấm màn đó để nhập vào một thể xác mới và sống một kiếp sống mới cả.

Khi chết, người đó đã ấn tay vào tấm màn đó, do tấm màn kín nhưng mỏng đã tạo thành khuôn. Từ cái khuôn đó mà vật chất lại tạo ra một bàn tay mới giống y cái bàn tay cũ. Bàn tay chỉ là ví dụ. Nôm na có thể hiểu là phóng chiếu là tạo ra cả một con người mới.

Cái khuôn đó chính là nghiệp, thông số kỹ thuật của khuôn chính là thức gọi là Thức Tục Sanh. Bàn tay mới chính là sinh thể trong một kiếp sống mới. Thức này đi vào bụng mẹ, cùng với tinh cha huyết mẹ tạo thành con người mới.

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Vì sao có vụ ấn bàn tay vào tấm màn này, thì đó là vì Vô Minh. Trong Kinh Tương Ưng, Đức Phật nói về thập nhị nhân duyên, Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão Tử sầu bi khổ ưu não. Duyên là dẫn duyên, là dắt dây, là gọi về, cũng là gây ra. Vì có vô minh nên tạo nghiệp, và nghiệp dẫn thức đi tái sinh. Sinh rồi Tử, rồi lại Vô Minh, rồi lại Sinh, lại Tử, cứ thế mãi mãi luân hồi.

Để thoát luân hồi thì phải thoát khỏi vòng xoáy này, hay nói cách khác là phá vỡ sự liên hoàn của vòng 12 nhân duyên này thì không còn bị tái sinh nữa. Vòng luân hồi đó có điểm dễ phá, có điểm khó phá. Thường phá ở Vô Minh. Chứ sinh ra thì phải tử, muốn phá ở chỗ tử như là muốn sinh lại không tử thì quá khó.

Hành là hành động tạo tác, nhưng lưu ý là hành động tạo tác trong Vô Minh, vì Hành do Vô Minh dẫn duyên. Còn hành động trong trí tuệ thì lại không phải Hành này, cho nên mới nói vì sao Đức Phật sau khi thành Đạo cũng ăn uống ngủ nghỉ lại không tạo Nghiệp. Vì Đức Phật đâu còn Vô Minh mà có Hành này để tạo Nghiệp. Chỗ này nhiều vị tu học lâu năm vẫn rối tinh rối mù.

Cho nên sẽ có hành thiện trong vô minh và hành thiện trí tuệ. Chính hành thiện có trí tuệ mới đem lại giải thoát, còn hành thiện mà vô minh thì vẫn cứ khổ đau chồng chất khổ đau mà thôi.

Có nghĩa là các vị A La Hán, Bồ Tát, và Phật không bao giờ ấn tay như vậy. Chỉ có chúng sinh mới làm kiểu vậy. Vì các vị đã phá bỏ Vô Minh, nên không tạo Nghiệp, và cũng không dẫn Thức đi tái sinh.

Như kiểu người trưởng thành không bao giờ họ cầm phóng lợn có chuôi dài và phóng xe máy trên phố ban đêm rồi la hét cả, chỉ có trẻ trâu mới làm vậy. Sau này trẻ trâu ngộ ra thì lại sám hối, rồi viết sách chia sẻ kinh nghiệm: các bạn ơi đừng thế nha, làm thế là xấu lắm. Cả một chuỗi dài gây lỗi rồi sửa lỗi rồi rút kinh nghiệm đó được chấm dứt ngay từ lúc chưa xảy ra, vì có trí tuệ.

Cái bàn tay đó chính là cú vươn ra vơ lấy bát phở ở kiếp trước, chính là cú vươn ra vì gái đẹp, chính là cú vươn ra để trả thù đã là nguyên nhân chúng ta tái sinh.

Nhưng không phải ai cũng vì bát phở, ai cũng vì gái đẹp, ai cũng vì oán thù, mà có người tái sinh để tu tập, để được học kinh điển, để cứu dân độ thế. Nói chung có rất nhiều kiểu nguyện và nghiệp tạo ra vũ trụ vô cùng phong phú. Kiểu tái sinh để tu học tuy là có tiến bộ hơn tái sinh vì bát phở, nhưng cũng là đang tìm ngón tay mà thôi, chứ chưa thấy mặt trăng.

Nên mới có thuyết cho rằng vị đi thứ hai sau tổ Minh Đăng Quang tái sinh thành sư Minh Tuệ, để đi tiếp hành trình còn dang dở, cứ vậy, cứ vậy, đến khi đắc đạo thành Phật.

Nhưng để lúc qua đời, Nghiệp không còn dẫn Thức đi tái sinh nữa, thì trong quá trình sống phải tu tập, giữ giới, xây dựng đạo hạnh, đó là lý do vì sao phải tu hành. Chứ có thuốc gì uống một cái mà hiệu quả thì thôi tu làm gì. Tiếc là cái cảnh giới đó, vật chất không nhập được, buộc phải tu tâm mà thôi.

Có người thì lấy ví dụ thắp nến, bắn bi-a để diễn tả về tái sinh. Viên bi cũ va vào viên bi mới và dừng lại nhưng viên bi mới vẫn bay đi phụ thuộc hướng và lực của viên bi cũ.

THỨC THÌ VẪN LÀ VÔ MINH MÀ THÔI

Thức cũng là do Hành mà có. Có nghĩa là cái Thức ấy do thân khẩu ý của chúng ta mà có, chứ Thức đó không phải chân lý. Mọi kiến thức hay nhận thức của chúng ta đều do Hành mà có. Nghĩa là học hỏi, suy ngẫm, nghiên cứu, xem TV, đều tạo ra cái Thức này. Và Thức này thì vẫn trong vòng Vô Minh mà thôi.

Đây là chỗ đạo Phật bắt nạt khoa học tí. Vì bên khoa học có làm gì để ra kiến thức thì vẫn là từ Hành, mà Hành là do Vô Minh mà có.

Có nghĩa là cả bài viết này tôi viết cho các bạn đọc thì cũng chỉ là cái Thức của tôi mà thôi. Mà cái Thức này do tôi học tập, suy nghĩ, rút kinh nghiệm thì cũng là vô minh mà ra. Các bạn không thể cho là chân lý.

Tôi ở đây cũng có thể là bất cứ vị thánh tăng nào hay bất cứ nhà khoa học nào, OK.

Người biết thì không nói, người nói lại không biết.

Không phải vì không nói, mà nói là Hành rồi. Hành là Vô Minh mà ra thôi.

SƯ MINH THIỆN QUA ĐỜI SAU 3 NGÀY BỘ HÀNH

Dẫn đến việc qua đời của sư Minh Thiện ngày hôm qua, đối với người tu đó là một sự giải thoát. Đối với con mắt thế tục, đơn giản là cái chết, là sự tiếc nuối.
Còn trên thực tế, thì sư Minh Thiện mới ở Mỹ về 4 ngày đã đi với đoàn 3 ngày. Đêm dài Quảng Trị lại bị đuổi, sư Minh Thiện đi sau với sư Minh Tạng thì không phải chờ chỗ nghỉ như sư Minh Tuệ, nhưng vẫn phải chịu quãng đường xa hơn đến 3 giờ sáng mới được nghỉ.

Rất nhiều thứ cộng dồn đã tạo thành một combo chấm dứt sinh mệnh của sư Minh Thiện. Chắc chắn rằng, thần thức của sư sẽ lại đi tìm một miền trú xứ phù hợp với tâm nguyện tu hành của sư mà thôi. Và chưa biết sư có đắc đạo ngay không, nhưng một góc nhìn nào đó đây cũng là một sự giải thoát. Sự giải thoát trên đường hành đạo thì lại càng là một sự tuyệt vời.

Còn mấy ông ôm nồi cơm điện định nhập đoàn hôm qua, nghe tin vậy thì sáng nay té luôn, lấy cớ là đoàn đông lắm nên chưa gặp được sư Minh Tuệ để xin nhập đoàn. Quay đầu cũng là cái tốt, mà ở lại cũng là cái hay. Cứ tận tâm tận lực làm điều mình thích là vui rồi.

Sư Minh Thiện đi được 3 ngày thì mất, trong khi các sư khác đã đi cả tháng, hoặc hàng chục ngày, thì cũng không thể nói là do sự vất vả của hành trình.
Khi sư Minh Thiện nhập đoàn, tôi lại không review, nhưng sau đó có lúc nhìn thoáng qua tôi mới giật mình vì thấy nét khổ hạnh bi thương ở trên hai má và trũng mắt của sư. Cũng không quá bất ngờ về sự ra đi của sư chỉ là không ngờ đến sớm như vậy.

Vị sư có râu pháp danh Lâm Tuyền hôm qua bị nhầm là qua đời. Thực ra đúng là cộng đồng mạng có nhầm thông tin, nhưng không bỗng dưng nhầm. Về sắc tướng thì đúng là sư Lâm Tuyền cũng nên cẩn thận bảo vệ sức khỏe của mình trong những ngày tới.

Hai ngày vừa rồi, sư Minh Tuệ cũng khoác y màu đen. Khả năng đây là màu không hợp phong thủy với sư. Tuy sư không tin bói toán, nhưng chắc vụ này sư nghe con sư ạ.

Còn đa phần các vị sư khác tuy đau chân nọ kia, nhưng trông mặt khí sắc vẫn đầy chắc và kín, không bị vỡ bị hở và tản mác như hai vị sư vừa nói trên.

Tôi cũng không bàn quá sâu về phản ứng của xã hội và những người chống đối sư Minh Tuệ, tuy nhiên đây là cơ hội để họ dấy lên làn sóng đổ thừa cho sư Minh Tuệ. Một số người bi quan đã quay xe và cho rằng sư Minh Tuệ sẽ sớm phải ẩn tu.

Nhưng tôi thì cho rằng sự việc sẽ không kết thúc đơn giản như vậy. Người tham gia sẽ có dè chừng hơn, nhưng hiện tượng sư Minh Tuệ còn tiếp diễn.
Các sư vẫn đang Hành Pháp, Hành này trong Vô Minh hay trí tuệ là tùy tâm các sư. Còn Hành của người ăn mày bình thường thì chuẩn Hành Vô minh, cho nên hành khất bình thường không thành Phật là vậy.

Trâu bò ăn chay không thành Phật cũng là do Hành trong Vô Minh. Cho nên mới có combo ăn chay niệm Phật. Ăn chay rồi nhưng phải có nội hàm là niệm Phật thì mới đắc chánh quả. Còn cứ ăn chay mà vẫn Hành nghiệp trong Vô Minh thì chịu.

Cho nên các thầy cứ hay nói là bước chân Chánh niệm, rồi ăn trong Chánh niệm. Cái chữ Chánh chính là quản sự Vô Minh này.

Cái Hành (thân khẩu ý) của chúng ta bình thường là theo bản năng. Khi tu thì bản năng đó được sửa dần bằng trí tuệ. Bát chánh đạo là sửa cái Hành này. Có Chánh thì mất Hành, mặc dù không có cái gì gọi là Chánh Hành.

TỔNG KẾT NGÀY

Đang update

#thichminhtue #daudaminhtue #suminhtue

TU SĨ MINH TUỆ… GIỌT NƯỚC TRÀN LY


Trần Kiêm Đoàn.


Phật Đản mở đầu cho mùa An Cư Kiết Hạ năm nay (Phật Lịch 2568 – Tây Lịch 2024), đạo Phật Việt Nam trong cũng như ngoài nước có hiện tượng xao động bất thường với sự xuất hiện của “Sư Thích Minh Tuệ”.

Hành giả Thích Minh Tuệ

Nếu gọi một cách thân thiện và gần gũi với hệ thống giáo lý Phật môn thì người xuất gia, bất kỳ tuổi nào chưa thọ Đại giới (Cụ Túc giới) để thành Tỳ kheo, Khất sĩ thì ở hàng Sa Di và được gọi với danh vị là “Chú”; nhưng ở đây xin gọi danh vị công bằng cho một người tin và tu theo con đường Phật lý là “Tu sĩ Minh Tuệ – Ts MT”. Đây là một nhân vật chỉ nhận mình là người tín tu theo đạo Phật theo chí hướng và hạnh nguyện riêng của mình, không theo môn phái, chùa viện hay đạo tràng, tăng đoàn, giáo hội nào cả. Tuy nhiên, qua hành trạng tương tự với hình ảnh các nhà tu truyền thống, cổ điển nên dư luận và định kiến của đại chúng đã rầm rộ khoác lên TsMT những nhãn hiệu đã có sẵn từ truyền thống và định kiến như Hạnh Đầu Đà, Du Phương Tăng… Xin dành khuynh hướng “chính danh” cho đại chúng và thời gian.

Đạo Phật là một tôn giáo hay hiện thực hơn nữa là một hệ thống giáo dục, triết lý, giới luật “siêu tôn giáo” giúp con người giải khổ tìm vui. Để tiến tới tâm thế an lạc hé cửa vào cho khả năng giác ngộ và giải thoát sau cùng, mọi động thái hỗ trợ cho mục đích cứu khổ đều là pháp môn phương tiện. Đạo Phật thường nói đến tám vạn bốn ngàn – mà thật ra là vô lượng – pháp môn như Đức Phật đã truyền ngôn từ giây phút đầu hiện thế ở vườn Lâm Tỳ Ni rằng, mỗi người là một cá thể duy nhất tự cầm ngọn đuốc chân tâm, bản lai của chính mình mà lên đường tìm phương giải thoát.

Do vậy, đạo Phật là con đường độc lập tự do đích thực từ bản chất uyên nguyên đến 2568 năm sau như hôm nay. Thế nên, những sự rao giảng, ban phát, chấp trước để giới hạn tinh thần tự quyết, tự do, tự mình thắp đuốc lên mà đi của bất cứ đối tượng hay thế lực nào đều là phi Phật pháp.

Tu sĩ Minh Tuệ (TsMT) là ai?

Hoàn cảnh xuất thân của TsMT xuất hiện quá nhiều trên các trang mạng xã hội. Từ những ý tưởng cường điệu, đại ngôn ví von TsMT với hình ảnh của Phật, của Chúa đến những phản biện phủ nhận tính chính danh và thiện lành trong sáng của TsMT xuất hiện ồ ạt theo cảm tính nóng bỏng tức thời như một phản ứng có điều kiện của khối đại chúng đang bị dồn nén, bức xúc giữa hai bờ đạo và đời, thánh và phàm, tịnh và động, tự tại và bon chen, tu và tục, thanh quy và phóng dật… của hàng tu sĩ trong các tôn giáo thời hiện đại. TsMT, vô hình chung, trở thành một “nguyên cớ”, chứ không phải là nguyên nhân, của tâm lý phản kháng đại chúng trước những biểu hiện tiêu cực cũng như tệ nạn tôn giáo đang trên đà tăng tốc!

Phóng viên Tiền Lê báo Tiền Phong đã trực tiếp gặp ông Lê Xuân, 84 tuổi, thân phụ của TsMT và đã tường thuật trên số phát hành ngày Chủ Nhật (19/05/2024, 19:16:09 GMT+7) với nội dung xin được tóm lược những nét chính như sau:

Cách thành phố Pleiku (Gia Lai) chừng 40 cây số, ông Lê Xuân, 84 tuổi, thân sinh ra TsMT cùng vợ sống trong căn nhà hai tầng khang trang ở một xã của huyện Ia Grai (Gia Lai). Dù lớn tuổi nhưng ông Xuân vẫn rất khoẻ mạnh, minh mẫn.

Ông Xuân kể, cách đây hơn 30 năm, ông cùng gia đình từ huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vào huyện Ia Grai (Gia Lai) lập nghiệp. Ông Xuân cùng vợ có 3 người con trai và 1 người con gái. Trong đó anh Lê Anh Tú (TsMT) là người con thứ hai, hiện đã 43 tuổi.

Ông Xuân chia sẻ, ngay từ nhỏ, Tú là người con trai hiền lành, hiếu thảo, học lực khá nên được mọi người quý mến. Học xong phổ thông, theo nghiệp bố, anh Tú đi bộ đội chừng 3 năm, sau đó theo học Trường Trung cấp Lâm nghiệp Tây Nguyên (Gia Lai).

Ra trường, anh Tú làm đo đạc cho một công ty tư nhân ở Đắk Lắk. Thời điểm này anh Tú đọc những sách về Phật nên đã ăn chay, tu tại gia. Gia đình hồi ấy cũng khá lo lắng vì không thấy anh có bạn gái, tâm tư cũng không muốn lập gia đình.

“Gần 10 năm về trước Tú có đọc sách về Phật pháp nên phát nguyện đi tu. Lúc ấy tôi nói đi tu rất khó khăn nhưng đã quyết thì phải tu trọn vẹn, không được phá giới, phải chân cứng đá mềm, không tham lam sân si. Lúc đi Tú để lại cho tôi một cái đồng hồ, điện thoại, tủ lạnh, 8 mét vải màu vàng.”

“Từ nhỏ Tú đã có lòng từ bi với mọi người, không bao giờ muốn làm ai buồn lòng. Ai em nó cũng xem là cha mẹ, phải học hỏi.”

Trong các lần trả lời trực tiếp với đại chúng các “phóng viên đường phố”, TsMT đã xuất hiện trên các trang mạng với hình tướng và ngôn ngữ ái hòa, chơn chất qua lời chia sẻ trước sau như một rằng: Mình tự tìm hiểu đạo Phật qua kinh sách như Nikaya và nuôi chí tu theo Phật từ lâu nhưng mãi đến vào chặng đời 34 tuổi mới xuất gia. Tuy đầu tiên cũng có vào chùa (với Tu sĩ Phật giáo Thích Chân Quang ?) nhưng chỉ sau năm bảy tháng, thấy không hợp với môi trường tu học nên rời chùa ra đi và chỉ tin hành theo Phật. Vì nhận thấy hạnh tu một mình, tự chế tối đa, du phương khất thực… thích hợp với mình nên quyết chí tu hành theo hướng “du sĩ khổ hạnh”. Từ đó “nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du – một bát cơm nghìn nhà, một mình đi vạn dặm” sống bằng thực phẩm hành và khất mỗi ngày một bữa từ mọi người mọi nhà không phân biệt trên đường thiên lý độc hành. Và, TsMT cũng chỉ vào y phục của mình để tự xác định rằng, đó là màu sắc “Cái Bang”, chắp vá từ những mảnh vải phế bỏ, không chạm đến màu vàng của thế giới tu hành Phật giáo thời hiện đại hay của bất cứ phương phái nào để giữ hướng tu hành tự nguyện của riêng mình.

Kết hợp lời thuật của ông Lê Xuân và lời xác quyết về khuynh hướng xuất gia theo đạo Phật của TsMT, cả hai đều có sự nhất quán về hoàn cảnh, bản chất và hành trạng từ khi sinh ra cho đến thời xuất gia trong non 10 năm qua. Sự nhất quán đó xác định đôi nét tiêu biểu gồm cả hai mặt đời và đạo trong một con người của TsMT rằng:

Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn ở chốn đất nghèo miền Trung (Hà Tĩnh), TsMT là một người con bình thường, hiền hòa và nhân hậu (lo học, hiền lành, hiếu thảo và thương người); là một công dân tốt (học ra trường, đi bộ đội theo nghĩa vụ, có công ăn việc làm ổn định). Với ý hướng tìm hiểu đạo Phật từ thuở thiếu thời, càng lớn lên càng có tâm nguyện xuất gia tu Phật và tới độ tuổi 30+ chín chắn, TsMT đã xuất ly gia đình tu theo đạo Phật.

Trong dòng sinh mệnh và truyền thừa của đạo Phật, khi nói đến Tăng đoàn và những bậc tôn túc, thường nói đến các bậc hữu học và các bậc vô học. Bậc hữu học là những vị được “sư phụ” bổn sư truyền dạy thông qua quá trình học tập và giáo dưỡng bình thường. Các bậc vô học cao hơn một bậc là “vô sư tự ngộ” với sở học và sở chứng tự mình tìm hiểu, học hỏi, chiêm nghiệm, quán niệm, thực chứng mà hiểu đạo và hành đạo. Đạt Ma Tổ sư suốt 9 năm ngồi im lặng tọa thiền nhìn vách tường chùa Thiếu Lâm với thần khí sáng ngời (cửu niên diện bích). Lục tổ Huệ Năng không hề biết chữ nhưng thần trí quán thế vì chữ chỉ là ký hiệu giới hạn không đủ làm phương tiện truyền tâm. Đức Phật là bậc Giác ngộ tự tu, tự chứng tới đỉnh Thiên Nhân sư là những biểu tượng đường tu tự độ như thế.

Tính phương tiện trong đạo Phật quả nhiên là một vũ trụ diệu kỳ nên những người học Phật, theo Phật và hành đạo Phật trong 26 thế kỷ qua không ai giống ai trên hành tinh này nhưng điểm đích sau cùng không sai khác: Đấy là con đường tìm cầu an lạc và giác ngộ, là Nẻo Đạo của riêng mình. TsMT có phương tiện thiện xảo riêng trên con đường đã chọn. Trong những nghìn năm qua, khắp cái thế giới Ta Bà hưng vong chìm nổi nầy, đạo Phật đã trở thành một thực thể… trùng lai, bởi đạo Phật đến với con người vừa là vấn nạn, vừa là đáp án. Vấn nạn của Khổ (Dukkha) và cứu khổ. Cứu khổ thì có vô lượng pháp môn làm phương tiện. Vạn pháp bình đẳng. Mỗi sinh linh đều tùy theo căn cơ và ngã tướng, ngã sở để tìm cầu con đường cứu khổ cho mình, không có ai hay bất cứ một sinh thể nào có uy quyền hay năng lực nắm độc quyền phương tiện. TsMT có phương tiện tu hành (mà mục đích cuối cùng cũng là tìm cầu sự cứu khổ cho mình) và bậc thượng thủ, thượng tôn, thượng sư, thượng đức… nào, nếu chưa chứng quả, giác ngộ thành Phật thì cũng là một Phật tử “tùy duyên” đang lang thang “vĩnh vi lãng đãng phong trần khách” tìm đường cứu khổ giữa dòng đời gió bụi nầy mà thôi.

Bởi vậy, đức Phật đã để lại Tam Pháp Ấn. Đó là cái khuôn dấu Chánh Pháp bao gồm cả nhân sinh quan, vũ trụ quan, bản thể luận của nhà Phật với 3 dấu ấn chân pháp: Khổ, Vô Thường, Vô Ngã. Sống và ứng xử khế hợp với nguyên lý Tam Pháp Ấn thì cho dẫu bất cứ dưới hình thức, danh nghĩa cá nhân hay bộ phái nào cũng đều là đệ tử, là người theo Phật. Đức Phật dạy trong kinh Nikaya Trung Bộ rằng: Ai nguyện nương tựa Phật lý và nương theo Phật pháp để tu hành tự độ cứu khổ, kẻ ấy là người theo Phật. Đấy là một thái độ tự giác khi nhận ra chân lý và nương theo chân lý để cải thiện cuộc sống của mình, hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không cần phải thông qua một hình thức lễ nghi nào.

Trường hợp cụ thể của TsMT đã dụng công học hỏi, tìm hiểu về đạo Phật từ thuở thiếu thời và lớn lên tự xuất gia hành trì theo con đường khổ hạnh của nhà Phật với cả thân và tâm qua hơn 6 năm không hề thối chuyển là một hình ảnh điển hình của khuynh hướng tự giác và tự phát theo Phật.

Bởi vậy, trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam hiện nay, sự xuất hiện của một tu sĩ “ngoài luồng” như TsMT đã gây nên những phản ứng trái chiều giữa đại chúng cũng như hàng tu sĩ “trong luồng” mà TsMT đã nói về mình rằng: “Con không liên quan gì tới tu sĩ Cung đình, Quý tộc…” Phản ứng quần chúng trong thời gian qua đã nóng lên một cách bất ngờ! Kể cả tứ chúng Phật tử, đại chúng trí thức và bình dân, những nhà lãnh đạo có thẩm quyền đương đại của Phật giáo trong nước và kể cả các linh mục đạo Công Giáo quan tâm.

Đạo Phật là Trung Đạo, hai bờ phải trái cực đoan: Một là ca tụng TsMT như một bậc chân tu sáng ngời cao khiết đầy phạm hạnh — hay ngược lại 180 độ — thóa mạ TsMT là kẻ điên khùng, bất trí, bất thường, thoái đạo… đều rơi vào hai vọng nghiệp thái quá hoặc bất cập, ra ngoài nẻo đạo từ bi, trí tuệ Phật Đà.

Những điều trông thấy

Mười ngày sau Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn 2024, chúng tôi về thăm Việt Nam sau hơn 7 năm chưa về lại. Với lớp tuổi ta, thiếu 1 tuổi đầy 80, tôi không còn ảo tưởng về lại quê hương, làng cũ để làm một việc gì “nên nỗi” hay tìm một cái gì to tát về bất cứ phương diện nào như những giấc mơ của thời trung niên đầy phong độ. Tuổi già như cỗ xe tứ mã với ngựa già xe cũ: Trong chính trị thường bám chấp và níu kéo; trong văn học nghệ thuật thường lẩn thẩn núp bóng ngày xưa; trong tôn giáo, tâm linh thường bị quá đà thấy mình như đang trên đường… gặp đạo! Bởi tự biết rõ mình hơn, tôi chỉ còn tự chọn cho mình một thái độ đối với các chùa viện, nhà thờ, am cốc và những chốn tâm linh ở quê nhà là “hành hương cầu thị”; trải rộng lòng mình để tìm về nguồn cội mà chiêm ngắm, tự trầm trồ khen thầm, tâm phục nhiều hơn là phê phán.

Vốn tuổi già ít ngủ, tôi thường thức dậy sớm khoảng 3, 4 giờ sáng. Nếu lục đục pha trà hay loay hoay làm gì đó thì sợ phá giấc ngủ người khác nên tôi thường tìm đến những ngôi chùa gần nhất. Tôi thật vui vì hầu hết chùa ở Việt Nam thức giấc mở cửa rất sớm và có những thời công phu đều đặn hàng ngày lúc trời chưa sáng, nhất là ở miền Nam và miền Trung. Thật không ngờ người đi chùa, nhất là thế hệ cao tuổi, lại đến sinh hoạt với chùa đông đảo và thường xuyên như thế. So với thế hệ Chiến tranh Việt Nam bảy, tám, chín chục chúng tôi thường đi chùa Rằm, mồng Một hay sinh hoạt GĐPT và khuôn hội thì vào dịp cuối tuần; nhưng ở đây sinh hoạt hàng ngày với tinh thần “ngoan đạo” cao độ.

Trong sáu tuần lễ ở quê nhà đi từ Nam, lên Cao nguyên, ghé Trung và ra Bắc, tôi đã trực tiếp đến các chùa lễ Phật và vấn an quý Thầy, Sư Ni quen và lạ. Thật sự tôi hơi “lóa mắt” về hình ảnh các chùa viện đã biết và mới biết; đa đều được xây dựng, trùng tu hay chỉnh trang nếu không ở mức độ nguy nga, tráng lệ thì cũng công phu và mỹ thuật. Đời sống của chư Tăng Ni và nếp sinh hoạt của các chùa viện mà tôi được đến viếng đã khác xa thời cây đa, cổ tự của những năm xưa. Từ thể thức trà nước tiếp khách đến những bữa cơm chay tập thể hay đãi khách đều tươm tất và phong phú hơn nhiều so với nếp tu hành kham nhẫn “tương chao, rau muối” một thời. Tăng Ni chúng xuất gia, hầu hết bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại chứ ít còn hiện tượng “xa lánh hồng trần” như một thời quá khứ. Hình ảnh công khai mà tôi thấy được là hầu hết tu sĩ các cấp đều có điện thoại cầm tay và phần đông có phương tiện giao thông và giao lưu riêng. Các bậc phương trượng, trụ trì, quản lý, hộ tự thì có mức sống cao hơn với phòng riêng có máy điều hòa không khí, điện thoại và xe ô tô tự lái hay đưa đón.

Có duyên may được tiếp xúc với quý Tăng – Ni, từ sa di… đuổi quạ đến trụ trì, phương trượng và hàng chức sắc Giáo Hội đương thời, tôi có được niềm vui là tâm nguyện tu học vươn lên của đa số chư vị. Nhờ mạng lưới truyền thông nhanh nhạy bao trùm khắp từ thành thị đến nông thôn nên các nguồn thông tin rất cập nhật. Khách hành hương từ phương xa trở về như tôi nếu không theo dõi tin tức thời sự, rất có thể trở thành lạc hậu về những chuyện đang xảy ra nóng bỏng trong cũng như ngoài nước so với tứ chúng ở chùa.

Càng được tiếp xúc nhiều với chùa chiền và tăng ni, nỗi xao xuyến trong tâm tôi càng tăng bởi khuynh hướng thực dụng trong các chùa viện ở quê nhà cũng không thua gì ở Âu Mỹ. Những hình thức cúng dường, gây quỹ… đầy hình thái và màu sắc đời thường trở thành khá phổ biến. Sự hiện diện và sức mạnh của vật chất, tiền bạc không còn là “ngoại đạo” như đa số chư vị tu sĩ có thẩm quyền hộ pháp và hoằng pháp mà tôi được gặp đều có kế hoạch xây dựng và phát triển tương lai chùa to tượng lớn với nguồn tài chính tỷ nầy tỷ nọ… Tôi không có lý do mà cũng chẳng có nhu cầu đi xa hơn trong vấn đề nầy. Tuy nhiên, qua thực tế trải nghiệm của mình trong 70 năm sinh hoạt với chùa ở Việt Nam cũng như ở Mỹ tôi không thể “hoan hỷ” giả vờ như không thấy rằng:

Hệ lụy tất nhiên của phương tiện vật chất và tiền bạc vào cửa thiền thường biến chốn thiền môn thanh tịnh thành cửa chùa xung động. Hàng tu sĩ giáo phẩm tiếp cận và hành hoạt với quyền lực thường bị “tục hóa” qua khuynh hướng đo lường tầm cao của công hạnh tu trì với thành quả xây dựng được cơ sở hình tướng chùa to tượng lớn!

Trong lúc đó, giới tu sĩ trẻ đương thời phần đông thông minh và nhạy bén trước mãnh lực cuốn hút của các phương tiện truyền thông như điện thoại, xe máy và các trang mạng xã hội thông dụng nhất ở Việt Nam là Facebook, TikTok, Zalo, Viber, Instagram, Quora… nhưng đây cũng chính là thách thức thời đại quyết liệt và gay gắt nhất giữa sức mạnh thực dụng thực tế và thế giới tâm linh giới hạnh tu hành.

Trong một thế giới cửa thiền đang ngày càng bị khuấy động trước cám dỗ thực dụng, một thực tế khiến tôi trăn trở là có khá đông chư Tăng Ni đạo cao, đức trọng, nghiêm trì giới luật, công hạnh vuông tròn, có viễn kiến chấn hưng Phật giáo trước những thử thách nghiêm trọng của thời đại đang dần rút vào im lặng. Số tứ chúng có bản tâm thanh tịnh tu hành hầu hết bó tay trước những hiện tượng thoái trào đang tiếp diễn bởi mức độ nhạy bén quá cao của bối cảnh tôn giáo, xã hội và quyền lực chính trị…

Có thể nói Đạo Phật Việt Nam (xin phân biệt với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam) trong cũng như ngoài nước, vô hình chung, hiện nay có 3 phân phái (đúng hơn là 3 khuynh hướng):

  1. Phái hàn lâm: Thiểu số quần chúng Phật tử gồm những học giả, trí thức, luận giả… xuất gia cũng như tại gia tương tác với nhau qua những lý thuyết và khái niệm cao siêu ở tầm “tàng kinh các”. Họ chia sẻ, trao đổi, viết lách toàn những điều trừu tượng về đạo Phật; đam mê sưu tầm, luận bàn, suy diễn, chẻ những cụm từ Hán Phạn làm tư ở mức độ “vô thượng, thậm thâm” quá nhiêu khê, trừu tượng mà quần chúng Phật tử trung bình và sơ cơ nếu được nghe và đọc thì như nghe và đọc tiếng nước ngoài.
  2. Phái tứ chúng: Gồm Tăng, Ni, Phật tử nam, Phật tử nữ chiếm đại đa số quần chúng Phật tử tại các giáo hội, tự viện và tăng đoàn. Đây là khối nhân sự xương sống của mạng mạch Phật giáo xưa nay.
  3. Phái cầu vọng: Gồm những Phật tử lâu năm hay mới theo có khuynh hướng hành hoạt với đạo Phật như một tín lý dân gian qua những hình thức cúng bái, cầu xin. Khuynh hướng tâm linh có khi đi xa hơn trong sinh hoạt lễ hội, trộn lẫn kinh kệ đạo Phật với nhạc lễ chầu văn; kết hợp Tam Bảo đạo Phật với Thánh Thần đạo Mẫu, đạo Thiên tiên Thánh giáo và đi xa hơn với những hình thức đốt vàng mã, bói toán, chiêu hồn…

Ba “phái” nầy không nhất thiết phải có sự sinh hoạt độc lập theo dòng mà thường khi vẫn có sự tương tác qua lại với nhau nhiều hay ít tùy trường hợp và mức độ.

Nôi dung bài viết này không nhằm mục đích ca ngợi hay phê phán một đối tượng tôn giáo, xã hội, chính trị nào cả mà chỉ mong được lý giải “hiện tượng Minh Tuệ” đang gây “bão mạng online – internet” ở quê nhà.”

Qua chặng đường ba, bốn chục năm trở lại, đạo Phật Việt Nam đã chuyển biến trước những thử thách của hoàn cảnh và phương tiện. Một đạo Phật thanh tịnh mái chùa rêu phong nấp bóng cây đa, thâm nghiêm giữ hồn dân tộc đã bị lay động bởi hình tướng phóng thể và phương tiện đời thường. Khi tâm động thì cảnh động và tất nhiên cuốn theo pháp chênh, người động. Các bậc xuất gia là linh hồn của đạo Phật. Linh hồn bị tục hóa thì tâm cũng bị vẩn đục theo là hệ lụy vừa trực tiếp vừa gián tiếp khó lòng tránh được. Nếu không có một sự chấn chỉnh đúng thời, đúng hạn thì tính thậm thâm vi diệu của pháp Phật sẽ từ tĩnh sang động, từ đạo vị sang trần thế, từ thánh sang phàm, từ siêu thoát sang nhuốm mùi tục lụy vì danh, vì lợi, vì ngã mạn, ngã sở… bụi trần!

Trường hợp Tu sĩ Minh Tuệ là một giọt nước tràn ly. Đại chúng không cần biết TsMT là ai, tu theo hạnh nguyện nào, nghiêm cẩn với giới luật và hành đạo có tương hợp với nguyên lý và đạo lý Phật môn truyền thống hay không. Quần chúng không suy diễn, phân tích, lý luận quanh co mà rất đơn giản, cụ thể và đi thẳng vào vấn đề, rằng: Các bậc xuất gia hành đạo Tăng Ni là hình ảnh tiêu biểu trong ba ngôi Tam Bảo – Phật-Pháp-Tăng – tuân theo giới luật nhà Phật mà cơ bản nhất là nếp đời phạm hạnh, từ phàm tới thánh thì hà cớ gì lại phải mộng tưởng điên đảo với hình tướng giả ảo như dòng chảy tâm linh ngày càng thiếu nước, ngược dòng đến thế?!

Sự tương phản quá rõ nét giữa các tu sĩ Phật giáo có chùa to tượng lớn, đi đâu cũng có tiền hô hậu ủng, xe pháo sang trọng, ăn uống tinh tươm đầy bổ dưỡng, tiền bạc rủng rỉnh, cà sa gấm đoạn, thị giả và đệ tử đầy đàn, du lịch thường xuyên khắp thế giới. Trong lúc đó hạnh tu trong sáng của nhân vật TsMT thì hoàn toàn ngược lại.

Cho dẫu đây chỉ là hiện tượng cá biệt xuất hiện đột ngột và nhất thời nhưng do bởi động cơ nào mà quần chúng khắp nước đủ mọi thành phần xã hội lại dậy lên luồng phản ứng mạnh mẽ (kể cả hai chiều thuận và nghịch) lên tới một mức độ sâu rộng khắp cả trong và ngoài nước như đang tiếp diễn.

Trường hợp tu sĩ Minh Tuệ cũng được xem là một hiện tượng. Hiện tượng thường xuất hiện ở các dạng chính là vật lý, tâm lý, đạo lý, tín lý và… kể cả vô lý! Hiện tượng Minh Tuệ có thể nằm ở dạng tâm lý và tín lý. hiện tượng con người cũng như hiện tượng thiên nhiên sấm sét. Trong một tia chớp khoảnh khắc nào đó gây sự náo loạn long trời lở đất, nhưng nhưng tác dụng còn lưu lại nhanh hay chậm, tức thời hay lâu dài còn tùy thuộc vào sức mạnh của tia chớp và đối tượng bị đánh trúng. Tia chớp Minh Tuệ đã đánh động tâm lý quần chúng nhìn về đạo Phật và nhánh thứ ba trong ba nhánh cơ bản nhất của tôn giáo này là Tăng Bảo. Quần chúng bắt gặp một hình ảnh đẹp tiêu biểu trong pháp tu của Phật giáo: buông xả mọi tham ái và hoàn toàn phủi sạch mọi bám chấp theo giới luật của Đầu Đà Thập tam Công hạnh.

Theo thông tin chính thức của Giáo hội PGVN trong nước cho biết là cả nước có 18.491 tự viện (chùa, tu viện, thiền viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường…), 54.773 Tăng Ni, Phật tử chiếm 60% dân số; so với Hải ngoại có khoảng 300 ngôi chùa Phật giáo (kể cả chùa tư nhân, chùa Hội, chùa Thầy) và 2.200 Tăng Ni Sư theo ước định 2021 (PGVNTN) thì tuy khác nhau về nhiều mặt tổ chức và sinh hoạt nhưng cùng có chung những vấn đề trước mắt. Đó là nhu cầu thời đại cần có một sự chấn chỉnh hay chấn hưng Phật giáo (như thời kỳ 1950) liên quan đến hàng giáo phẩm lãnh đạo, giới luật và phương tiện cũng như pháp khí hoằng pháp, hộ pháp và chấp pháp.

Ngưỡng nguyện Hồng ân Tam Bảo độ trì cho mạng mạch Đạo Phật Việt Nam vẫn luân lưu cùng Đạo pháp, Dân tộc và Thế giới. Hiện tượng nhất thời Tu sĩ Minh Tuệ như giọt nước tràn ly, tiếng khánh báo thức để hàng Phật Tử quan tâm rằng: Đạo Phật cần hiện đại hóa để bắt kịp bước đi thời đại, tịnh hóa thiền môn.

Tạm kết

Có một trang Facebook đăng hình “thân Phật chảy máu” với lưỡi dao sắc lẻm cắt ngang mình Phật máu chảy đỏ lòm với lời bình luận đại ý nhấn mạnh rằng: rồi đây manh áo Cái Bang và nồi cơm điện phế thải sẽ bị quăng đi và ném vào sọt rác. Tôi chưa rõ là thân Phật chảy máu vì các trưởng tử Như Lai buông lơi giới luật hay bởi kẻ tin Phật lạc loài đang bị thóa mạ hoặc đang bị đàn áp bởi dư luận và quyền lực? Thế nhưng, tôi rất tâm đắc với lời comment đầy tâm đạo và trách nhiệm bên dưới rằng: “Thân Phật chảy máu theo dòng tưởng tượng lãng mạn của người con Phật hay hình tướng của Tu sĩ Minh Tuệ bị ném vào giỏ rác… điều đó chẳng hề gì. Điều quan trọng nhất là những vết son hay vết chàm đó là GIỌT NƯỚC TRÀN LY để đạo Phật Việt Nam có động cơ CHẤN CHỈNH hay CHẤN HƯNG kịp thời trước khi quá muộn.” California, Mùa An Cư 2568 (2024) Nguyên Thọ

Trần Kiêm Đoàn Ph.D; MSW

THẦY THÍCH MINH TUỆ VÀ MÔ HÌNH TU CHÙA – KHÔNG – CHÙA

Tôi dự đoán, thời gian tới, số người theo Thầy Thích Minh Tuệ sẽ nhiều không đếm xuể, và, số người rời khỏi đoàn vân du cũng sẽ nhiều tương đương với người vào. Con số có thể lên hàng trăm hàng ngàn ra/vào. Lúc đó, sẽ có những biến chuyển về quan niệm tu một cách mới mẽ, độc đáo, mô hình Chùa – Không – Chùa sẽ ra đời.

Ngoại trừ những người thuộc cơ quan an ninh đóng giả nhà tu (điều này bắt buộc có của một nền an ninh – tư pháp quốc gia, ở bất kì quốc gia nào trước hiện tượng như Thầy) thì số người ngoài xã hội và người đi tu từ các chùa theo thầy Minh Tuệ sẽ ngày càng nhiều. Vào đoàn rồi ra đoàn sẽ nhiều lắm. Vì hai lý do:

  • Niềm hi vọng và ánh sáng chân như trong vết dấu tăng đoàn nguyên thủy.
  • Mục đích tu tối thượng và hằng cửu.

Ở lý do thứ nhất, trước đây, ngài Minh Đăng Quang từng vân du và từng có những đám đông theo ngài. Nhưng thời của ngài Minh Đăng Quang không suông sẻ, bởi thời đó, vấn đề an ninh còn hết sức nhạy cảm, hơn nữa, quốc độ mà ngài chọn quá gần vùng “rừng lá thấp” nên sẽ khó bề yên tu.

Còn với Thầy Thích Minh Tuệ, không hiểu ngay từ đầu Thầy có nhìn ra căn cốt vấn đề người xưa hay không, nhưng Thầy đã chọn vân du ra hướng Bắc, một hướng đi ít nhạy cảm hơn, không gần vùng “rừng lá thấp” nhưng lại gần vùng “nôi cách mạng”.

Chỉ việc chọn lựa quốc độ để vân du, đã thấy việc chọn lựa của thầy Thích Minh Tuệ khá đắc địa và hợp lý, cơ may hanh thông cao hơn nhiều so với ngài Minh Đăng Quang. Và việc vân du của thầy Minh Tuệ ngay trong lúc này tạo ra hiệu ứng Tăng Đoàn Nguyên Thủy rất cao, bởi hình ảnh Thầy Minh Tuệ gợi nhắc hình ảnh của Đức Tổ và các bậc Bồ Tát một thuở.

Điều này vô hình trung đánh thức suy tư của các nhà tu, vốn dĩ đã sống quá lâu trong Tăng Đoàn chính thống, tức sống ở chùa, hoặc là trụ trì, hoặc là sư sãi và luôn phải va chạm vật dục với đời sống xã hội. Với một số thầy có cơ may thủ đắc vật dục với chức sắc thì họ nghiễm nhiên trở thành ông hoàng trong chùa, với những người còn lại, đời sống trở nên “một ngày như mọi ngày”, ê chề, mệt mỏi, chán chường và gắng gượng…

Tình cờ, hình ảnh một người chân đạp đất đầu đội trời xuất hiện trong cõi tu làm đánh thức.

Sự đánh thức lớn nhất và đầu tiên ở đây có lẽ là thú vui được tự do vân du khắp nẻo đường trong sự đồng cảm của Phật tử. Thứ đến, là một sự lột xác, giải trừ vật dục trong sâu xa tiềm thức, mà ngay cả lúc chưa đi tu, người ta đã nghĩ đến, nhưng khi vào tu, sự thể lại cuốn vào một cơn vật dục khác. Nên khả năng bỏ chùa đi vân du vài tháng, thậm chí vân du cả đời sẽ rất cao. Nhưng, trong nhóm sư này, cũng sẽ xảy ra hai tình trạng: Muốn vân du nhưng sợ rời Giáo Hội; Rời bỏ Giáo Hội để vân du.

Nhóm rời bỏ Giáo Hội để vân du có lẽ sẽ ít ỏi so với nhóm mong mỏi được vân du nhưng không rời bỏ Giáo Hội. Bởi đây là căn bệnh trầm kha của con người, một con người trong hay ngoài giáo hội, tu hay không tu, nếu còn va chạm, tương tác vật dục thì sự trì trệ và tính thực dụng sẽ tăng theo thời gian.

Và trong bất kì hoàn cảnh nào, mục đích ban đầu lựa chọn vẫn là một thứ công án nội tâm, thúc giục cho đến khi thời tiết, sinh quyển phù hợp. Hình ảnh Đức Cồ Đàm cùng Tăng Đoàn vân du của mấy nghìn năm trước luôn là điều gì đó màu nhiệm, huyền bí và đẹp, đủ để thúc giục con người lên đường với đôi bàn chân trần, chẳng cần toan tính gì thêm.

Và, đời sống vốn đông cứng, cô đặc trong các giáo hội đã chôn mất hứng thú ban đầu khi người ta quyết định xuất gia, đó là hình ảnh Đức Cồ Đàm cùng tăng đoàn nguyên thủy. Thế rồi theo thời gian, hạt mầm từ tâm bị nén, thay vào đó là những cỏ dại của điêu trá và tham sân si. Đến một ngày, hình ảnh Thầy Minh Tuệ như một giọt mưa đánh thức hạt mầm từ tâm đã ngủ khô trong tâm thức, nó cựa mình thức giấc, và đòi sự sống của một hạt mầm. Thế nên mới có chuyện có nhiều người trong và ngoài Giáo Hội liên tục theo Thầy.

Tuy nhiên, không phải cứ hạt mầm gieo xuống đất là mọc thành cây rồi lại đơm hoa, kết trái và tiếp tục nảy mầm, phải nói là tùy số phận của hạt mầm nữa. Tôi là nông dân, tôi trồng cây và quan sát, không phải bạn gieo một triệu hạt cải thì có một triệu cây cải, có khi bạn gieo một triệu hạt cải, nảy mầm hết rồi đó, nhưng khi thu hoạch chỉ còn vài cây, thậm chí chỉ độc nhứt một cây, may sao, cây ấy lại trổ bông và kết trái, thế mới có hi vọng mùa sau.

Và, khi việc vào – ra Tăng đoàn trở nên thường xuyên, không chừng xã hội sẽ phát triển thêm mô hình tu Chùa – Không – Chùa, tức Phật Tử, Tăng Ni phát nguyện cùng vân du với Thầy trong vòng mười ngày, hai mươi ngày, một tháng, một năm rồi lại trở về đời thường.

Mọi đám đông cũng sẽ lắng xuống và thay vào đó là trào lưu Chùa – Không – Chùa, vân du cùng Thích Minh Tuệ, tùy căn duyên mà chọn ngắn dài, tùy cơ địa mà chọn xa gần. Rất có thể ngày ấy, chuyện ấy sẽ đến.

Và sẽ có một điệu sống mới trên dải đất hình chữ S này. Bởi cơ duyên và tín hiệu đầu tiên nhận thấy được là Thầy gặp rất nhiều trở ngại từ Giáo Hội và một ít người vô đạo, nhưng Thầy lại gặp thuận lợi trong Nhân Tâm (gồm cả chính quyền và nhân dân). Tin là vậy!

Ps’: Nguồn hình internet.