Nhạc sĩ Đặng Thế Phong: Một tài năng đoản mệnh

Chỉ với ba bài hát “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”, Đặng Thế Phong đã là nhạc sĩ có một không hai gắn liền tên tuổi bất hủ của mình với mùa thu. Xem thế đủ biết không phải cứ đẻ sòn sòn đã là hay. Vấn đề là ở chỗ ít mà tinh, mà để đời.

Văn đàn Việt Nam những năm 1930-1945 đã phải chứng kiến nhà văn Vũ Trọng Phụng ra đi ở tuổi 27 (1939) vì bệnh lao để lại sự tiếc thương vô hạn cho những người yêu thích văn học nước nhà. Năm 1940, chúng ta mất nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử khi ông mới 28 tuổi vì bệnh phong.

Trong lĩnh vực âm nhạc, một tài năng khác cũng ra đi ở độ tuổi rất trẻ (24) cũng bởi căn bệnh thuộc hàng tứ chứng nan y như Vũ Trọng Phụng. Đó là Đặng Thế Phong.

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong

Cũng như Vũ Trọng Phụng, phải mãi sau này khi làn gió đổi mới đến với đất nước ta thì các nhạc phẩm nổi đình đám một thời của Đặng Thế Phong và các nhạc sĩ tiền chiến khác mới được đánh giá một cách đúng mức trong kho tàng lịch sử âm nhạc Việt Nam mặc dầu từ rất lâu rồi nó đã có chỗ đứng vững chắc trong lòng người hâm mộ.

Cũng giống như Nguyễn Đình Thi, chỉ với hai bài hát cách mạng “Diệt phát xít” và “Người Hà Nội”, ông đã là một nhạc sĩ nổi tiếng bậc cao thủ trong giới nhạc sĩ Việt Nam đương đại.

Đặng Thế Phong cũng vậy. Chỉ với ba bài hát “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”, ông đã là nhạc sĩ có một không hai gắn liền tên tuổi bất hủ của mình với mùa thu. Xem thế đủ biết không phải cứ đẻ sòn sòn đã là hay. Vấn đề là ở chỗ ít mà tinh, mà để đời.

Đặng Thế Phong là vậy đó.

Sinh ra trong một gia đình công chức ở thành Nam nhưng không may mắn. Cha mất sớm buộc Đặng Thế Phong phải sớm tìm con đường mưu sinh: vừa đi học, vừa vẽ thuê kiếm sống.

Mới hơn hai mươi tuổi đầu đã lang thang nơi đất khách quê người tận xứ Nam Vang làm đủ thứ nghề vẽ thuê, dạy nhạc để sống, để học và để sáng tác. Năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc cho phép Đặng Thế Phong có thể vừa ôm đàn, vừa sáng tác, vừa biểu diễn tác phẩm của mình với chất giọng tenor rất đặc biệt.

Theo các bạn bè và bà Đặng Thanh Kim, em út của Đặng Thế Phong thì ông là một thanh niên rất điển trai, hoạt bát, thích ăn diện, ăn nói rất có duyên lại giỏi đàn hát nên được rất nhiều cô gái thành Nam yêu mến. Đặc biệt Đặng Thế Phong có biệt tài sắm các vai nữ, y như thật. Nhiều cô gái mê ông vì thế.

Trong số đó có ba cô lọt vào mắt xanh chàng trai trẻ đa tình. Đó là cô Hà Tiên, học sinh Trường Sarcree coeur Nam Định; cô Nguyễn Thị Na, tức Lê ở khu Ga Hải Phòng; và cô Bạch Yến ở Hàng Bông, Hà Nội.

Trong ba cô thì Bạch Yến xem ra nặng tình hơn cả bởi cô là người chăm sóc và tiễn đưa Đặng Thế Phong đến nơi an nghỉ cuối cùng và buồn thay cuộc đời của cả ba người đều lỡ dở.

Đặng Thế Phong viết “Đêm thu” năm 1940. Ca khúc này ông viết và biểu diễn ở những đêm lửa trại, lời ca được nhiều bạn bè đóng góp chỉnh sửa nên rất trong trẻo hồn nhiên, thể hiện nỗi đam mê của con người trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngay lập tức bài hát được giới trẻ hưởng ứng nhiệt liệt. Song phải đến “Con thuyền không bến” viết vào tháng 9/1941 sau khi nhạc sĩ đi Phnom Penh trở về thì tên tuổi Đặng Thế Phong mới nổi như cồn.

Hôm đó tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ca sĩ Vũ Thị Hiển lần đầu tiên hát ca khúc này đã làm xôn xao dư luận. Sau đó chính tác giả đã trình bày bài hát này tại rạp Olimpia ở phố Hàng Da thì công chúng Hà Nội càng thêm mến mộ một tài năng. Không chỉ bởi chất giọng của người nhạc sĩ kiêm ca sĩ mà bởi chất thơ nhuần nhuyễn trong từng giai điệu và lời ca thẫm đẫm chất thu:

Đêm nay thu sang cùng heo may

Đêm nay sương lam mờ chân mây

Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng

Như nhớ thương ai chùng tơ lòng.

Có một điều rất khó lý giải là tại sao ở cái tuổi mới hơn hai mươi mà Đặng Thế Phong lại nhuần nhuyễn từ ca từ đến làn điệu thấm đẫm chất dân ca đồng bằng Bắc Bộ như vậy.

Lướt theo chiều gió. Một con thuyền theo trăng trong.

Giai điệu này lặp đi lặp lại nhiều lần như một điểm nhấn, nó nghe như một làn điệu dân ca mơ hồ, chầu văn hay chèo nào đó.

Cũng lạ, trong lúc âm nhạc Pháp đang tràn ngập Việt Nam, tâm lý hướng ngoại đang là “mốt” trong giới trí thức, những đĩa hát tango chinoise 78 vòng/phút đầy chất lính kèn lê dương, phong trào tân nhạc chủ yếu là đặt lời cho các bài hát tây thì nhạc phẩm của Đặng Thế Phong lại thấm đẫm tâm hồn Việt…

Năm 1942, Đặng Thế Phong viết “Vạn cổ sầu”, sau Bùi Công Kỳ sửa lời và đặt tên mới là “Giọt mưa thu”. Đây là giai phẩm thứ ba của Đặng Thế Phong và lại có chủ đề là mùa thu:

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi

Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi.

Giọt mưa thu rơi thánh thót. Thật không có hình ảnh nào sống động chính xác hơn. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn ví những khúc ca lộng lẫy đó như là “hoa hậu” của ca từ âm nhạc hiện đại Việt Nam.

“Giọt mưa thu” là một nhạc phẩm song cũng là một mảng tâm hồn của con người. Nó như một lời ru kỳ diệu đưa hồn người hòa đồng vào các cung bậc cảm xúc đầy sắc màu của thiên nhiên, nó như giãi bày hộ nỗi buồn nhân thế đang mong được giải tỏa.

Một tiếng tơ lòng cất lên mỏng manh như tâm hồn người nghệ sĩ.

Đã bao năm rồi, đã có biết bao thế hệ người Việt Nam cất tiếng hát:

Ai nức nở thương đời

Châu buông mau, dương thế bao la sầu.

Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ chia xa, mỗi năm được gặp nhau một lần ngắn ngủi, nước mắt của tình yêu và nỗi nhớ giội từ trên trời cao xuống hiu hắt lắng đọng từ cõi vô biên, phải chăng đó là chất xúc tác để chàng nghệ sĩ họ Đặng cảm xúc cất lên những âm thanh siêu ảo vượt lên nỗi buồn thế tục, phải chăng giọt mưa thu chính là thiên sứ của tình yêu đã được nhân cách hóa một cách tài tình.

Hãy thử tưởng tượng trong một ngày mưa thu rơi thánh thót ngoài hiên, tiếng vĩ cầm cất lên réo rắt những giai điệu như nức nở của giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, người ta có cảm nhận như đâu đây tiếng lòng thổn thúc của thơ Verlain, hay tiếng nhạc buồn của Chopin, hay những cánh lá vàng trong bức tranh “Mùa thu vàng” của Levitan. Thiên nhiên và lòng người hòa quyện một cách tài tình trong bàn tay sáng tạo của người nghệ sĩ.

Chỉ với ba nhạc phẩm thôi, Đặng Thế Phong đã là một hiện tượng trong lịch sử nền âm nhạc Việt Nam. Từ “Đêm thu” với những kỷ niệm tươi trẻ hồi thơ bé cùng Tết Trung thu:

Qua lá cành ánh trăng lan dịu dàng

Ru hồn bao nhớ nhung.

đến “Con thuyền không bến” mộng mơ:

Ánh trăng mờ chiếu.

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la thuyền mơ bến nơi đâu?

đã là một bước chuyển rất lớn trong tâm hồn người nghệ sĩ.

Đến “Giọt mưa thu”: Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ.

Có thể thấy Đặng Thế Phong đã hóa thân vào tiếng thu lòng thổn thức một cách tài tình như thế nào.

Trong số những người bạn học thân của Đặng Thế Phong hồi thiếu thời ở Nam Định có Vũ Đức Oong. Ông này sau tham gia cách mạng bị Pháp bắt giam ở nhà ngục Sơn La. Từ trong tù, nghe tin bạn bị lao mà chết, năm 1943, ông cảm thán viết bài thơ “Nhớ Thế Phong”, trong đó có đoạn:

Đã mấy thu rồi xa cách lắm

Mấy lần thu tới mấy thu đi

Bạn ơi! Có biết thu này khác

Trăng úa bên rừng khóc biệt ly!

Cũng lại ý tứ mùa thu. Phải chăng hai người bạn nối khố này rất đồng cảm với nhau. Năm 1945 ra tù tham gia cướp chính quyền ở Nam Định, ông Oong đã đến ngay gia đình Đặng Thế Phong và còn giữ nhiều tấm ảnh quý về gia đình họ Đặng này. Ông nói: “Nếu tôi không bị đi tù thì tôi không để cho Phong đi Campuchia và ốm đau bệnh tật như thế!”.

Thoắt đấy mà đã chín chục năm ngày sinh của một nhạc sĩ tài hoa nhưng đoản mệnh. Hôm qua chúng ta đã hát những ca khúc buồn của ông, hôm nay chúng ta tiếp tục hát những ca khúc của ông nhưng với một tâm thế khác. Ngày mai cũng vậy. Bởi lẽ đó là những ca khúc bất hủ của một tài năng đích thực

AN THANH LƯƠNG / Văn học Saigon

Đàn bà và nhan sắc

Đàn bà đứng tuổi hỏi đàn bà trẻ :

  • Em đã ngủ với chồng chị chưa?

Đàn bà trẻ sa sầm nét mặt, đôi mắt ghì chặt vào đáy ly sóng sánh ánh cam. Vài phút lặng lẽ trôi qua, đàn bà trẻ phát ra thứ âm thanh nghèn nghẹn mà nội dung chẳng liên quan gì đến câu hỏi :

  • Anh ấy nói với em, chị không chăm lo và không thể chia sẻ cùng anh ấy….

Đàn bà đứng tuổi tiếp nhận bằng nét mặt thản nhiên. Giống như cô đã quen với tiếng báo thức lúc 6h30 mỗi ngày, để tất bật chuẩn bị bữa sáng cho chồng, đánh hộ anh đôi giày để anh có thể an tâm rời khỏi nhà đi làm. Đàn bà đứng tuổi chậm rãi tuông từng lời :

  • Đây không phải là lần đầu tiên chị nghe câu nói ấy từ cửa miệng một phụ nữ trẻ. Có điều chị tự hỏi “Tại sao trong cuộc đời, hầu hết đàn bà chỉ cần duy nhất một người đàn ông hiểu mình, chăm lo cho mình. Trong khi đa số đàn ông lại cần nhiều người đàn bà hiểu mình, chăm lo cho mình đến thế?”

Đàn bà trẻ cúi xuống, nước mắt khi không mà chảy. Tiếng đàn bà đứng tuổi vẫn vang lên đều đặn :

  • Trong mối quan hệ lằng nhằng này, chúng ta chỉ có hai cách giải thích. Hoặc là cả ba cùng có lỗi, hoặc là không ai có lỗi, lỗi tại “Nhan sắc” mà ra…Thôi, chị về đây, còn phải đi đón cháu. Em từ từ suy nghĩ và chọn cho mình một kết cục mà em muốn. Chỉ có điều “Nhan sắc” là thứ phù du nhất cuộc đời này em ạ…!

Đàn bà đứng tuổi đi rồi, để lại trong gió ánh mắt đen láy và mùi hương thoang thoảng. Đàn bà trẻ nhìn theo dáng dấp ấy và thầm nghĩ “Chị ta từng được gọi là nhan sắc…”. Chuông điện thoại reo vang, đàn bà trẻ giật mình. Đầu dây bên kia, tiếng người đàn ông – như đa số đàn ông khác – cần nhiều đàn bà trong cuộc đời, nói hối hả “Em à, cẩn thận nhé. Mụ nhà anh phát hiện ra em rồi. Mụ để cả xấp hình chụp chúng ta đi vào nhà nghỉ, rồi cả căn nhà nơi em đang trọ học. Tạm thời đừng liên lạc nhiều nhé. Anh sẽ tranh thủ giải quyết để gặp em sớm…”.

Đàn bà trẻ không đáp trả. Tiếng tít tít vang lên vồn vã và bất ngờ. Bất ngờ như cơn mưa ngoài khuôn quán kia. Lúc này cô mới nhận ra sự tinh xảo của đàn bà đứng tuổi khi chọn quán cà phê cô và người đàn ông ấy thường hò hẹn làm nơi gặp nhau hôm nay. Đàn bà trẻ nhìn ảnh mình trong tấm gương phản chiếu loang loáng màn nước, nghĩ mãi đến điều đàn bà đứng tuổi gửi lại trước khi đi “Nhan sắc…”

Đàn bà đứng tuổi để toàn bộ tập ảnh giấy tờ liên quan đến người tình mới nhất của chồng lên bàn làm việc cho anh rồi lẳng lặng trở về phòng. Nhìn lại mình trong gương, đàn bà đứng tuổi biết mình đã sai khi chiều qua đổ lỗi mọi điều cho “Nhan sắc”. Đàn bà nhớ lại lời một người đàn bà lớn tuổi hơn “Đàn ông nào vốn mang tính trăng hoa thì họa may khi chết đi mới bỏ được. Chấp nhận lấy anh ta là chấp nhận cảnh chồng chung cả đời…” . Đàn bà đứng tuổi thở dài, tắt đèn trong tiếng nhạc da diết buồn “Bàn tay làm sao níu, một thời vừa đi qua…”

Đàn ông trở về sau cơn mưa giông bất ngờ. Phong bì hình ảnh vợ để trên bàn đêm qua vẫn còn làm anh chới với. Hai lần trước vợ chỉ nói “Anh dừng lại đi, đừng để em biết quá nhiều…”. Đàn ông ngoan ngoãn nghe theo vì thiết nghĩ “Còn nhiều thời gian khác mà!”. Lần này, đàn bà làm điều gay cấn hơn. Đàn ông nằm vật nơi phòng khách, chẳng dám vào phòng ngủ . Anh sợ những câu chất vấn không lối thoát dành cho mình, sợ mình trở thành thằng hèn như kẻ trộm bị bắt gặp. Đàn ông ngủ quên lúc nào không hay. Đàn ông muôn đời là thế. Họ không như đàn bà, điển hình là đàn bà trong phòng ngủ kia, ngổn ngang cả đêm không chợp mắt.

6h30, đàn bà choàng dậy như một loại phản xạ vô điều kiện. Nhưng rồi nghĩ lại, đàn bà cho phép mình lao vào phòng tắm chà rửa bản thân sạch sẽ, bóng loáng trước khi lao vào bếp. Đàn bà cho phép mình thoa chút phấn son trước khi đánh giày cho chồng. Và gọi chồng dậy với ánh mắt vô tư như chưa từng xảy ra chuyện gì. Đàn ông hớn hở như thoát được nạn, thay đồ, ăn sáng, và huýt sáo rời khỏi nhà đi làm, không quên hôn vợ.

Đến cơ quan, đàn ông hí hửng rút điện thoại định gọi cho đàn bà trẻ, bất ngờ đọc được tin nhắn gửi sẵn từ đêm qua “Em tha thứ cho anh, chúng ta tha thứ cho nhau. Em cố gắng và em biết anh cũng sẽ cố gắng. Chỉ có điều : nhất quá tam. Chúng ta cùng ghi nhớ điều đó. Em yêu anh!”

Đàn ông run tay vì biết đàn bà đứng tuổi không nói đùa. Đàn ông đang nghĩ, liệu những nhan sắc đang phới phới ngoài kia, rồi có mang đến cho anh những điều anh đang sở hữu? Liệu khi những nhan sắc ấy tàn phai, anh còn lại gì?

Đàn ông bóp trán, buông điện thoại. Ngồi thừ một lúc, anh mở email làm việc. Tên đàn bà trẻ đứng đầu trong inbox với lá thư “Nhan sắc”. Đàn ông hồi hộp mở ra. Đàn bà trẻ viết :

“Em và nhan sắc cũ của anh đã gặp nhau cách đây vài ngày. Chị ấy không còn mới như em. Nhưng chị ấy có thứ nhan sắc khác. Tùy vào sự lựa chọn của anh. Em mong tin anh!”

Đàn ông nghe tim đập liên hồi. Ngã vật ra ghế, nốc cạn ly cà phê. Ly cà phê có thể đã làm đàn ông tỉnh táo hơn hoặc đã làm anh ta say. Đàn ông đem mọi thứ lên bàn cân, như vốn phải thế trong đầu óc một gã kinh doanh thành đạt. Đàn ông khôn ngoan, bản lĩnh nhìn thấy rõ ràng ngày hôm qua có sức mạnh lớn lao thế nào trong việc tạo ra hôm nay. Đàn ông cũng không còn đủ trẻ để liều lĩnh đem chưa – đến – nửa – cuộc – đời còn lại ra cá cược.

Đàn ôm im lặng rời khỏi inbox. Chiều hôm ấy, đàn ông về sớm, đón con cùng vợ dưới cơn mưa tầm tã. Đàn bà đứng tuổi không quên chiếc khăn tay trong ví, lau vội nước mưa trên mặt, trên tóc chồng. Đàn ông nhìn vợ, nhớ lời đàn bà trẻ trong lá thư rồi nghĩ “Đàn bà đứng tuổi của mình có một thứ nhan sắc mà không phải bất kì nhan sắc nào cũng có được…”

Vấn đề là, suy nghĩ ấy rồi sẽ tồn tại trong cuộc đời còn lại của đàn ông được bao lâu? Khi hàng ngày đàn ông vẫn phải tiếp xúc và nhìn thấy hàng nghìn nhan sắc mới đang hừng hực ngoài kia ?

(Viết dựa trên tâm sự của một người bạn cũ sau hơn 20 năm gặp lại…🤪🤪🤪)

Quỳnh Lê

Những bí ẩn về Thành nhà Hồ, hơn 620 năm vẫn sừng sững

Những bí ẩn về Thành nhà Hồ, hơn 620 năm vẫn sừng sững
Trải qua hơn 620 năm tồn tại, Thành nhà Hồ – di sản văn hóa thế giới ở Thanh Hóa luôn ẩn chứa nhiều điều kỳ bí. Giờ đây, nhiều bí ẩn trong quá trình xây tòa thành đá đồ sộ đã dần được phát lộ.

Nhắc đến vùng đất Thanh Hóa, người ta nhớ ngay đến cái nôi của những vị anh hùng dân tộc, những câu chuyện lịch sử hùng tráng với những chiến tích vẻ vang. Trước biến cố thăng trầm của lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đến ngày nay nhiều di tích vẫn còn sừng sững với thời gian. Nổi bật trong số đó là thành nhà Hồ với những nét đẹp cổ kính, rêu phong, là chứng tích cho một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam.

Thành nhà Hồ được xem là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới.

Thành được xây dựng trong thời gian ngắn, chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397) và cho đến nay, dù đã tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Chọn đất Thanh Hóa để dựng kinh đô mới có lẽ gắn với nhiều suy tính, nhưng chắc chắn nằm trong tầm nhìn chiến lược phòng thủ đất nước của Hồ Quý Ly trước ý đồ xâm lược của quân Minh lúc bấy giờ đã lộ rõ.

Thành Nhà Hồ tọa lạc ở một khu đất bằng phẳng, được che chắn kỹ càng một cách tự nhiên bởi dãy núi trùng điệp ở phía Bắc, hai dòng sông Mã và sông Bưởi bao bọc hai mặt Đông, Tây. Thành lại nằm bên cạnh đường thượng đạo ở miền Tây Thanh Hóa. Địa thế này tránh được thế trống trải khó phòng thủ, lại thuận tiện giao thông thủy bộ ngược – xuôi và ra Bắc, vào Nam.

Những bí ẩn về Thành nhà Hồ, hơn 620 năm vẫn sừng sững - Ảnh 1.

Cổng Nam Thành Nhà Hồ

Năm 1400, với sự đăng quang của Hồ Quý Ly, lập ra triều đại Hồ, Thành Nhà Hồ trở thành quốc đô, nước Đại Việt được đổi tên thành Đại Ngu. Tuy nhiên đến năm 1407, cùng với sự thất bại trong việc chống lại cuộc xâm lược của nhà Minh, Thành Nhà Hồ thất thủ, cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng triều đình Đại Ngu bị quân nhà Minh bắt. Kể từ đó, Thành Nhà Hồ không còn vai trò là kinh đô nữa.

Truyền thuyết xây dựng Thành nhà Hồ

Người xưa đã làm thế nào để xây dựng được một thành trì kiên cố, kỳ vĩ như Thành nhà Hồ? Câu hỏi ấy cho tới nay không ai có thể trả lời chính xác. Nhưng có thể thấy một điều, để xây dựng được một kinh đô như Thành nhà Hồ, ngày ấy phải sử dụng một khối lượng khổng lồ các loại vật liệu xây dựng.

Nhiều chuyên gia nghiên cứu nghiêng về nhận định sau khi khai thác đá thô trên núi xuống chỉ qua sơ chế chuyển ngay về các bãi đá trong thành rồi mới tiếp tục gia công đẽo gọt. Hiện nay còn thấy cả bên trong và bên ngoài thành đá nát chất thành từng đám khá dày, do phải chế tác đẽo gọt các phiến đá hình thang ghép thành vòm cuốn.

Các bức tường thành vẫn tồn tại bền vững hơn 620 năm

Điều thán phục là bằng cách nào mà các nghệ nhân và thợ đã tách được các phiến đá khổng lồ nặng vài chục tấn từ trên núi xuống. Cách đây đã 600 năm, chắc chắn thuốc mìn chưa có. Các loại thuốc nổ vô cùng quý hiếm, chỉ đủ chế ra đạn súng Thần công, lấy đâu nổ đá?

Có nhà nghiên cứu đã khẳng định toàn bộ đá xây dựng thành đều được khai thác bằng phương pháp thủ công. Nếu dùng chất nổ dù ít đến đâu thì đá cũng bị rạn nứt. Việc khai thác đá xây dựng thành trì cho đến ngày nay vẫn là một điều khó hiểu.

Điều bí ẩn nhất chính là ngôi thành, “trơ gan cùng tuế nguyệt” suốt hơn 600 năm mà vẫn sừng sững. Các khối đá nặng hàng chục tấn cứ xếp đè lên nhau, không cần mạch vữa gì cả mà vẫn khít. Đá lấy ở đâu và người xưa xếp chúng lên nhau để làm tường thành bằng cách nào?

Theo ông Nguyễn Bá Linh – Giám đốc trung tâm bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ cho biết “Ngày nay thì các nhà khảo cổ đã tìm được mỏ đá ở ngay chân núi An Tôn (làng Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc), cách Thành nhà Hồ khoảng 3km. Và Một công trường khai thác đá cổ khác được phát hiện trên dãy núi Xuân Đài thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Ninh Khang), cách Thành Nhà Hồ khoảng 5 km về phía Nam.”

Nơi này còn nhiều tảng đá có dấu đục đẽo, nhiều mảnh dăm đá văng ra tạo thành lớp dày. Vấn đề cần đặt ra là, các tảng đá này được chuyển đến xây thành bằng cách nào? Có ý kiến cho rằng, người xưa chuyển đá đi đường vòng qua một đoạn sông Mã, chở đá bằng bè.

Nhưng còn đoạn đường từ bờ sông vào thành rất có thể phải dùng sức voi, vì thời đó, voi khá nhiều, vừa dùng làm sức kéo, vừa để tham gia đánh trận. Cũng có thể dùng hệ thống con lăn làm bằng gỗ, nhưng đến nay không còn dấu tích? Lại còn chồng tảng đá nọ lên tảng đá kia, có đến 11 hàng đá tảng chồng nhau làm nên cổng thành cửa Nam.

Có giả thiết cho rằng, chắc là họ phải dùng đất đắp nghiêng để vần từng tảng đá xếp chồng lên nhau, sau đó phá các ụ đất đi chỉ còn lớp thành như kinh nghiệm nhiều nơi trên thế giới trong thời cổ đại đã làm. Dẫu sao đó chỉ là giả thiết. Thực tế nói trên phản ánh một điều chắc chắn là, người xưa rất kỳ công và khá thông minh trong điều kiện chưa có máy móc hiện đại. Mà kỳ tích này diễn ra chỉ trong vài ba tháng, phải huy động khá nhiều người.

Giải mã những bí ẩn xây dựng thành nhà Hồ

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành. Trong đó, công trình đồ sộ nhất và còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay là Hoàng thành. Toàn bộ mặt ngoài tường thành và bốn cổng chính được xây bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau.

Các bức tường thành được ghép từ những khối đá lớn, có phiến dài tới hơn 6 m, ước nặng 20 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu.

Các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá, kiến trúc của Thành nhà Hồ rất khoa học, với các phiến đá được đục đẽo vuông vức, công phu xếp đan xen theo hình múi bưởi để tránh rung chấn lớn như động đất. Giữa các phiến đá xây thành không có bất kỳ chất kết dính nào nhưng tòa thành vẫn đứng vững hơn 600 năm qua dù chịu rất nhiều tác động của địa chấn và bom đạn tàn phá.

Câu trả lời được hé lộ phần nào khi người ta tìm thấy hàng trăm viên bi đá lớn (bằng quả bóng đá), nhỏ (bằng quả cầu mây) trong nhiều lần khai quật khảo cổ. Việc tìm thấy những viên bi đá này giúp củng cố giả thiết người thợ khi xưa đã dùng chúng như con lăn để tời đá từ vùng khai thác (cách vị trí xây thành hàng chục km). Kết hợp với tời và đắp đất, người ta đã đưa những phiến đá lên cao để xây thành.

Những bí ẩn về Thành nhà Hồ, hơn 620 năm vẫn sừng sững - Ảnh 2.

Các viên bi đá được phát hiện

Theo truyền khẩu của nhân dân quanh vùng, chỉ trong vài năm thành đã xây dựng gần xong, chỉ còn lại có 4 cổng thành cứ lắp gần xong lại sập… nhà vua vô cùng lo lắng, phải treo thưởng hậu cho người hiến kế. Có người đã hiến kế rằng: Phải đắp đất cát bên trong làm cốt để xếp đá lên dựng thành vòm cuốn, xong rồi moi đất cát ra.

Về phần móng tường thành, các nhà khoa học phát hiện phần móng cũng được gia cố bằng lớp đất sét màu xám xanh và khá đều. Tiếp đến là lớp sỏi cuội, đá dăm (kích thước đá dăm 1,2×5 cm) và lớp đất sét màu vàng. Tổng cộng, riêng phần móng thành có 7 lớp gia cố bằng sỏi cuội và lớp gia cố bằng đất sét màu đỏ (có độ dày 1,7-1,8 m).

PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam cho biết trong 2 năm từ 2019 đến 2021, các nhà khoa học đã tiến hành 6 hố khai quật với tổng diện tích 25.000 m2. Đây là cuộc khai quật lớn nhất lịch sử Khảo cổ học Việt Nam tính về tổng số diện tích trong một lần khai quật.

“Nét độc đáo làm nên giá trị toàn cầu của Di sản Thành Nhà Hồ chính là tòa Hoàng thành bằng đá kỳ vĩ được xây dựng bằng kỹ thuật xây dựng đá lớn với các khối đá nặng từ trên 10 tấn đến 26 tấn, gia công phẳng phiu, mạch đá xếp xít xao, được chồng xếp đạt trình độ cao cả về công năng quân sự lẫn yêu cầu thẩm mỹ. Ở Việt Nam, Đông Nam á và Đông á trước và sau Thành Nhà Hồ chưa có một tòa Hoàng thành bằng đá nào tương tự.”

Công trình Thành Nhà Hồ kỳ vĩ đã được tạo nên bởi khối óc sáng tạo của những người thiết kế và bàn tay tài hoa của những người thợ hồi đó. Từ nửa thế kỷ trước, L.Bezacier, một kiến trúc sư người Pháp đã viết: “Tòa thành này là một ví dụ độc đáo về việc sử dụng những khối đá vôi khổng lồ được đẽo gọt và lắp ghép một cách cực kỳ hoàn hảo” và “…Việc sử dụng đá để xây dựng lên một công trình đồ sộ như Thành Nhà Hồ là một hiện tượng đột khởi “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử kiến trúc Việt Nam”.

Với những kết quả khai quật được, các nhà khoa học nhận định quy mô kết cấu tường thành di sản thế giới này vô cùng phức tạp, kiên cố, phần nào rõ thêm được việc xây thành thời xưa như thế nào. Và góp phần lý giải vì sao sau hơn 620 năm tồn tại, toà thành vẫn đứng sừng sững trước sự tàn phá của thiên nhiên, chiến tranh.

Theo Nhật Vũ / Trí Thức Trẻ

Hàn Mặc Tử: Thiên thần bị đầy đọa

Kỷ niệm 90 năm phong trào Thơ mới, 1932-2022)

Quê Đồng Hới – Quảng Bình nhưng thi tài Hàn Mặc Tử chói sáng đỉnh điểm khi về sống ở Quy Nhơn – Bình Định những năm cuối cuộc đời ngắn ngủi. Có một thiên cơ giữa đất và người…

1.Từ tuổi học trò ở Quy Nhơn những năm sáu mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã rất ngưỡng mộ thơ Hàn Mặc Tử và xem vết tích của ông để lại ở đất này là niềm tự hào và quyến rũ: Ngôi nhà tuổi thơ số 20 đường Khải Định (nay là ngã tư Lê Lợi – Nguyễn Du); mái trường College ông dệt mộng đèn sách; thư viện nơi ông bươn bả với kiến thức kim cổ đông tây; bãi biển trăng và cát vàng mộng mị; những con đường rụt rè, những tình yêu; căn phòng thơ và bạn bè; xóm Tấn nơi lánh bệnh; nhà thương phong điều trị bệnh và ngôi mộ trên đồi Ghềnh Ráng…

Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940)

Lời bài hát “đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà…” đã ru chúng tôi vào một Quy Nhơn hoang sơ đẹp và buồn của mối tình thi sĩ và cái dốc Mộng Cầm đã trở thành địa danh nôn nao bổi hổi. Tôi có duyên may được gặp gỡ và trò chuyện với ba trong bốn nhà thơ lớn của nhóm “Bàn Thành tứ hữu” là Quách Tấn, Yến Lan và Chế Lan Viên. Thông qua họ, tôi hiểu thêm về Hàn Mặc Tử trong lòng những người bạn của ông. Bây giờ trong cõi xa kia, bốn người bạn thân ở thành Đồ Bàn đã gặp lại nhau nơi cõi khác, chẳng chỉ “nửa đêm trăng tà” mà còn bất cứ lúc nào, như ngày xưa trẻ trung ở Quy Nhơn, trong những lần tìm đến nhau, thăng hoa trong thơ ca và tình bạn. Hàn Mặc Tử sinh ngày 12 tháng 8(âm, nhằm ngày 22/9/1912, mùa trăng, Chúa nhật, ngày của Chúa,…).

2. Hàn Mặc Tử không phải một tông đồ truyền giáo mà là “loài thi sĩ” đã xác lập định mệnh thơ với nguồn mạch của một thế giới tân kỳ, không phải đi rao giảng đức tin tôn giáo mà quán chiếu trời thơ như một sứ điệp của tình yêu cuộc sống hoàn vũ. Không phải là linh mục để thực hiện nghi thức bí tích, nhưng Hàn Mặc Tử vẫn là một kẻ chăn chiên chăn dắt tình yêu và gieo vào ân sủng thơ ca một mùi dầu thánh.

Tôi đã lặn lội trong âm thanh tuyệt diệu và mầu nhiệm những bài ca của Sa-lô-môn trong Kinh Thánh, tìm một nguồn gốc của sự vui vẻ thanh sạch và cao quý những nam nữ rất thanh khiết “như con hoàng dương hay là như con nai con ở trên các núi thuốc thơm” để quay về với đời và thơ Hàn Mặc Tử. Đó là một tình yêu tràn trề chảy qua vườn nho chín mọng, hoa tường vi trắng hồng, lai láng dưới răng, lưỡi, bầu vú, trong ngũ quan líu lo những mật ong và sữa. Khi người ta yêu nhau, có thể lắng nghe mọi âm thanh ngây ngất, nhìn mọi chi tiết đắm đuối của thân tâm trong bản giao hưởng thế giới tạo vật muôn trùng.

Hàn Mặc Tử, dưới góc độ nào đó, ở đầu thế kỷ XX phân thân trong hoàng đế Sa-lô-môn, trong kẻ lương nhân, và trong cả cô gái đồng trinh mà mấy nghìn năm rồi, thường hằng trong thánh ca bất tử: “Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người. Vì ái tình chàng ngon hơn rượu. Danh chàng thơm như dầu đổ ra; Bởi cớ ấy các gái đồng trinh yêu mến chàng. Hãy kéo tôi; chúng tôi sẽ chạy theo chàng, Vua đã dẫn tôi vào phòng Ngài. Chúng tôi sẽ vui mừng và khoái lạc nơi chàng. Các gái đồng trinh yêu mến chàng cách chánh trực”. Và bắt đầu một hành trình sáng tạo, Hàn đã lấy máu làm mực, lấy trăng làm giấy, kẻ lên đó những vần thơ khai phóng làm ngây ngất những tinh cầu: “Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt/ Như đón từ xa một ý thơ“.

Hàn Mặc Tử bày biện cuộc mình như một thánh lễ, giấy bút vào hành trình: “Mực lùa khí vị vô hồn chữ/ Văn hút hào quang ở miệng ra“. Dù khi hối hả (như một cái máy vi tính tiên tri mà thời Hàn chưa có): “Thơ chưa ra khỏi bút/ Giọt mực đã rụng rồi/ Lòng tôi chưa kịp nói/ Giấy đã toát mồ hôi” hay trầm tĩnh thức nhận “Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ/ Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ“, và niềm sám hối “Đời không có ngọc trong pho sách/ E chết khôi nguyên ở Phượng Trì” luôn luôn là nỗi ám ảnh để nhà thơ đi tìm châu báu trong trần gian: “Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm/ Còn mặt trời kia tợ khối vàng“. Thánh lễ của Hàn, từ cuộc khai tâm “Thuở ấy càn khôn mới dựng nên/ Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên/ Người thơ phong vận như thơ ấy/ Nào đã ra đời ngọc biết tên“, qua rửa tội “Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi/ Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng“, đến cuộc hòa minh: “Anh đứng cách xa hàng thế giới/ Lặng nhìn trong mộng miệng em cười/ Em cười anh cũng cười theo dọi/ Để nhắn hồn em đã tới nơi“, rồi ơn gọi: “Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu/ Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu/ Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang” cho tới tận cùng “Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết/ Trải niềm đau trên trang giấy mong manh/ Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết/ Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh” là thánh lễ của một kẻ tuẫn đạo để cứu rỗi. Điều này thuộc về định mệnh. Bầy chiên ngôn ngữ đã được quán triệt trong thể xác và linh hồn người thơ, và người thơ lộn trái thịt da cốt tủy ra trình bày dưới ánh sáng, theo một nhu cầu nội tại chân thực và thành kính. Hàn Mặc Tử đã tự thắp những vầng trăng trên thánh lễ, từ y phục: “Áo ta rách rưới trời không vá/ Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng” đến lương thực: “Trời hỡi làm sao cho khỏi đói/ Gió trăng có sẵn làm sao ăn” đến tiện nghi: “Tôi lượm lá trăng làm chiếu trải” và trải nghiệm “Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra” nhưng cuối cùng vẫn chơi trên trăng với mục đích: “Để nghe tiếng nhạc Nghê Thường thổi/ Để hớp tinh anh của Nguyệt Cầu/ Và để thoát ly ngoài thế giới…“. Tự gọi tên “Máu cuồng và Hồn điên“, Hàn Mặc Tử đã trải qua những cơn đau đớn giày vò về thể xác lẫn tinh thần, muốn thoát hồn ra ngoài xác thịt mà “Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng“, một cự ly quán thế cả và thiên hạ để “Ràng rịt mãi cho tới ngày tận thế“. Đó là cuộc lữ hành lý tưởng của “loài thi sĩ” để tìm một nụ cười an lạc trong niềm đau cùng cực của một hình hài.

3.Nỗi cô độc của một thiên tài thơ ca là nỗi cô độc trong sum vầy, như đỉnh núi đột khởi giữa điệp trùng gò đống. Đời Hàn Mặc Tử luôn luôn hiện hữu song hành với thơ Hàn Mặc Tử, trong tình yêu của mọi người dành cho Hàn Mặc Tử suốt trăm năm nay. Và dù chưa có một thống kê xã hội học chính thức, tôi vẫn nhận thấy mộ Hàn Mặc Tử trở thành một trong những địa điểm hành hương được người mến mộ viếng thăm nhiều nhất trong số các nhà thơ Việt! Tôi đã đọc trong nước mắt của những vần thơ do khách đa tình sau mấy thế hệ viếng Hàn, nghe rào rạt sức sống của Hàn trong nguồn cảm hứng tinh khôi của họ, như dành cho người lương nhân trong Nhã Ca: “Vừa sớm mai, chúng ta sẽ thức dậy, Ði đến vườn nho, đặng xem thể nho có nứt đọt, Hoa có trổ, thạch lựu có nở bông chăng: Tại đó tôi sẽ tỏ ái tình tôi cho chàng. Trái phong già xông mùi thơm nó; Và tại cửa chúng ta có những thứ trái ngon mới và cũ; Hỡi lương nhân tôi, tôi đã để dành trái ấy cho chàng!“.

Chúng ta đều biết, ở Bình Định có vị anh hùng kiệt xuất Quang Trung – Nguyễn Huệ và cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trình bày thánh tích của một thiên tài. Thiên tài quân sự bách chiến bách thắng đã đưa một người nông dân lên ngôi hoàng đế, đưa những tấc sắt thành lưỡi gươm thiêng đại định thiên hạ. Tất nhiên, không ai đi so sánh 39 năm hiển hách huân nghiệp của một người bước lên ngai vàng với 28 năm của một dân đen dù dân đen ấy là một thiên tài thi ca mang tên Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó, nhà thơ đồng nghĩa với anh hùng văn hóa. Ai dám bảo đạo quân chữ nghĩa của Hàn Mặc Tử không phải được sinh thành bởi hương thơm và ánh sáng, không có khả năng chinh phục nụ cười nước mắt của thiên hạ trong nhiều thế kỷ tiếp theo.

Sự ngắn ngủi của đời họ là dồn nén của bùng nổ và nguồn cảm hứng thiên hạ dành cho họ sẽ không bao giờ vơi cạn. Thửa ruộng Hàn Mặc Tử, tòa nhà Hàn Mặc Tử, ngôi đền Hàn Mặc Tử sẽ làm cuộc giãi bày cho đến muôn sau, trong cuộc cứu rỗi thi ca thiên khởi, uyên nguyên, xa lạ với cuộc ma-ra-tông rượt đuổi trường phái, chủ thuyết, trào lưu, nắm chiếc đuôi khôn ngoan của cỗ xe ngựa triết học kinh viện. Cái đời thơ kỳ lạ ấy đã thực hiện sứ mệnh như một thiên thần bị đày đọa, đã đau khổ và yêu thương đến cùng cực khi trót một lần hẹn thề cùng cõi nhân gian

NGUYỄN THANH MỪNG / Văn học Saigon

Đối tượng nào không nên dùng sâm ngâm mật ong? Cách ngâm ra sao?

Ngoài tác dụng của sâm ngâm mật ong thần kỳ, không phải đối tượng nào cũng có thể sử dụng được món quà quý giá của thiên nhiên này. Websosanh sẽ giúp bạn điểm qua các đối tượng không nên sử dụng sản phẩm này nhé.

1. Những đối tượng nào không nên dùng sâm ngâm mật ong

1.1. Trẻ em (dưới 15 tuổi)

Đối tượng đầu tiên cần lưu ý không nên sử dụng sâm ngâm mật ong đó chính là trẻ em dưới 15 tuổi. Ở độ tuổi này, trẻ em đang có sự phát triển vượt trội về trí tuệ và thể lực mà không cần nhiều sự hỗ trợ từ các sản phẩm chức năng.

Trẻ em sử dụng nhân sâm quá sớm sẽ làm kích thích sự phát triển sớm nhu cầu ham muốn tình dục gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ. Phụ huynh đừng quá kỳ vọng vào tác dụng thần kỳ của nhân sâm mà khiến trẻ em phát triển quá sớm.

1.2. Phụ nữ có thai

Đối tượng tiếp theo cần đặc biệt tránh xa món ăn đại bổ này đó chính là  phụ nữ có thai. Nhân sâm giúp bổ khí nên dễ dẫn đến tình trạng nóng trong, mật ong lại là chất kích thích sự co bóp của tử cung. Chính vì thế, nếu sử dụng nhân sâm ngâm mật ong sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

1.3. Người bị bệnh huyết áp thấp và đường trong máu thấp

Đối với những người có lượng đường trong máu thấp hoặc huyết áp thường xuyên bị giảm tuyệt đối không sử dụng hỗn hợp sâm ngâm mật ong. Lý do là bởi vì trong mật ong có chứa hoạt chất tương tự với Acetylcholine, có tác dụng giảm huyết áp. Nếu sử dụng sẽ có những ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến tình trạng bệnh.

1.4 Người vừa mới phẫu thuật xong

Những người vừa ốm dậy rất thích hợp để sử dụng nhân sâm. Bạn có thể tham khảo rất nhiều thông tin rằng các cầu thủ Việt Nam uống nhân sâm mỗi sáng để tăng thể lực. Thế nhưng đối với những người vừa phẫu thuật xong, do bị mất máu nhiều nên nếu hấp thụ quá nhiều dưỡng chất trong nhân sâm sẽ dễ dẫn đến gan chướng, nghẽn khí và gây chảy máu nội tạng.

1.5 Người rối loạn chức năng đường ruột

Những người bị rối loạn chức năng đường ruột không được sử dụng hỗn hợp sâm ngâm mật ong. Lý do là bởi vì mật ong có thể làm cho đường ruột bị co thắt, dẫn đến hiện tượng như đi ngoài hay táo bón.

1.6 Người dễ bị dị ứng

Đây là nhóm đối tượng cuối cùng không nên sử dụng sâm ngâm mật ong. Trong nhân sâm có các hoạt chất kích thích còn mật ong lại chứa các chất xúc tác và protein. Điều này khiến cho những người dễ bị dị ứng không nên sử dụng sản phẩm này.

2. Cách ngâm sâm với mật ong hiệu quả nhất

Để được một hũ nhân sâm ngâm mật ong chất lượng, bạn cần chọn nhân sâm tươi loại 8-10 củ/1 lít mật ong nguyên chất. Ngâm sâm tươi với mật ong theo tỷ lệ 4:6 tức là 750g sâm thì cho 1 lít mật ong là vừa.

Sâm tươi thái lát, sau đó cho mật ong vào ngập mặt và đóng kín bình. Nếu muốn ăn ngọt hơn, bạn có thể cho thêm mật ong vào. Lưu ý là dùng hũ thủy tinh để đựng hỗn hợp này, sau 7 ngày là đã có thể đem ra dùng. Để có được sâm ngâm mật ong chất lượng bạn có thể mua hồng sâm từ các thương hiệu nổi tiếng như thương hiệu Daedong Korea…

3. Sâm tươi ngâm mật ong bao lâu thì dùng được?

Sâm ngâm mật ong thông thường bạn có thể sử dụng được sau 7 ngày. Thế nhưng để các dưỡng chất trong nhân sâm ra hết và mật ong ngấm vào sâm khi đó hỗn hợp sẽ có nhiều tác dụng hơn, đồng thời sâm cũng thơm ngon và bổ dưỡng hơn rất nhiều. Thời gian lý tưởng là từ 3-6 tháng để phát huy hết tác dụng của sâm ngâm mật ong.

Cách sử dụng sâm tươi cũng vô cùng đơn giản, bạn chỉ cần dùng đũa sạch, gắp sâm ra và sử dụng trực tiếp. Hoặc nếu sợ sâm ngọt quá thì bạn có thể pha một ít nước ấm rồi cho miếng sâm đã ngâm vào và thưởng thức.

4. Sâm ngâm mật ong bị sủi bọt có sao không?

Khi ngâm sâm tươi nhiều bạn thấy tình trạng lọ ngâm bị sủi bọt. Thực tế mật ong có tính kháng khuẩn cao nên nó là môi trường bảo quản khá tốt cho nhân sâm. Nhưng với điều kiện đó là hàm lượng nước trong mật ong phải dưới 19%.

Vấn đề ở đây là ngâm sâm khô sẽ khó xảy ra tình trạng sủi bọt, còn sâm tươi thì khác. Vì sâm tươi có chứa nhiều nước nên tình trạng này khiến cho mật ong cũng gia tăng thêm lượng nước. Nếu trong thời gian ngắn thì không sao, còn để lâu dễ dẫn đến hiện tượng sủi bọt và gây chua.

Khi lọ sâm ngâm mật ong bị sủi bọt, cách đơn giản để xử lý tình trạng này đó chính là dùng thìa hoặc đũa sạch và khô để vớt bọt. Sau đó bạn hãy dùng nẹp để cố định cho sâm không bị nổi lên trên. Cuối cùng là đóng thật kín nắp để tránh không khí lọt vào bên trong dẫn đến tình trạng sủi bọt nặng hơn. Hoặc bạn có thể mua sản phẩm trực tiếp từ các thương hiệu lớn như hồng sâm mật ong Hanil…

Nếu bạn không muốn sử dụng các chế phẩm từ nhân sâm sẵn có, cách đơn giản nhất để có thể chế biến một hũ sâm nguyên chất ngay tại nhà đó chính là ngâm sâm với mật ong.