TRẬN CUỐI CÙNG DỮ DỘI NHẤT Ở SÀI GÒN NGÀY 30-4-1975 Ở BẢY HIỀN – LĂNG CHA CẢ

Cù Mai Công

Dù sáng 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã yêu cầu binh sĩ Việt Nam Cộng hòa “ngưng nổ súng”, vẫn còn trận cuối cùng dữ dội, đến tận trưa, chiều ngày 30-4 ở Sài Gòn: cửa ô Bảy Hiền – Lăng Cha Cả, sát bên Ông Tạ.

Tiếng bom đạn liên tục dội lên ở khu vực này từ rạng sáng 30-4. Dân Ông Tạ báo nhau: Đánh nhau lớn lắm ở Bảy Hiền, Lăng Cha Cả. Như một số gia đình khu này, ba tôi chuẩn bị cho mỗi người trong gia đình một balô với đầy đủ những gì cần cho một cuộc di tản đến nơi an toàn hơn. Một thói quen thời chiến tranh của nhiều gia đình miền Nam. Tôi lúc ấy 13 tuổi cũng có một cái – dù vai bên trái đã trúng miểng đạn từ chiều 29-4.

Lực lượng chủ yếu của Quân Giải phóng tấn công vào đây là Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) và Trung đoàn xe tăng 273. Trong đó có một chiến sĩ sau này là nhà văn Bảo Ninh, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Nỗi buồn chiến tranh”. Lúc ấy, ông là lính trinh sát của Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24 và đã viết rất chi tiết trong bài ký “Đêm cuối cùng ngày đầu tiên”: “Mãi tới 14 giờ 30, quân ta mới dứt điểm được ổ đề kháng cuối cùng ở góc phía Tây phi trường”. “Nỗi buồn chiến tranh” trong ông hẳn cũng có nỗi buồn của trận chiến nơi đây?

Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa phòng thủ khu vực này chủ yếu là 1.000 quân của Bộ chỉ huy số 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81 Biệt cách dù và một số lính Nha Kỹ thuật. Cụ thể là lính của Sở Liên lạc (Biệt kích Lôi Hổ) do thiếu tá Lê Minh chỉ huy từ Pleiku vào để cùng bảo vệ Bộ Tổng Tham mưu với Chiến đoàn 3 Biệt cách Nhảy Dù của thiếu tá Phạm Châu Tài (dù đơn vị này đã giải tán vào ngày 28-4-1975 theo lệnh miệng của đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Việt Nam Cộng hòa thời điểm đó).

Lính Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy dù – Ảnh tư liệu

Trận chiến ở đây ác liệt với các bức ảnh nổi tiếng: ba chiếc xe tăng của Quân Giải phóng bị bắn cháy bên tường rào Lăng Cha Cả do phóng viên Hãng thông tấn Corbis chụp.

  • Cựu binh Quân Giải phóng Nguyễn Đình Thi, lúc đó là chính trị viên phó đại đội 2, tiểu đoàn 4, trung đoàn 24, Sư đoàn 10, đại đội đi trên ba chiếc xe tăng bị cháy này nhớ lại (lược trích):

“…Tám giờ sáng 30-4, sau khi vượt qua ngã tư Bảy Hiền, đội hình xe tăng đi cùng Đại đội 2 tiến tới Lăng Cha Cả. Sau khi chiếm được một phần khu vực Lăng Cha Cả, xe tăng, xe bọc thép của Đại đội 2 và 7 đánh phát triển theo dãy phố bên phải đường Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ).

9g sáng 30-4-1975, binh lính Nhảy dù trại sư đoàn dù, căn cứ Hoàng Hoa Thám rút về phía Bảy Hiền, Ông Tạ – Ảnh Nguyễn Đạt

Xe tăng đầu tiên 875 vừa vượt hết dãy phố, nhô đầu ra khoảng trống thì bị hỏa tiễn M72 đặt trên một cái tháp đang xây dở ở phía trước cổng Bộ Tổng tham mưu bắn. Đứng cách xe tăng 875 chừng 30m, tôi thấy một quả cầu lửa lớn bùng lên ở phía đầu xe, bộ đội ngồi trên xe rơi tự do xuống đất.

Từ phía sau chiếc xe tăng thứ hai tiếp tục lao lên. Cũng như chiếc xe tăng 875, chiếc xe này vừa nhô đầu ra khỏi dãy phố, lại trúng hỏa tiễn của địch, xe bốc cháy dữ dội. Hai chiếc xe tăng vừa cháy chặn mất đường. Bất chấp nguy hiểm, lách sang trái hai chiếc xe vừa cháy, chiếc xe tăng thứ ba húc tung dải phân cách đường, tiếp tục lao lên, nhưng vừa nhô ra khỏi khoảng trống của dãy nhà, lại bị bắn cháy”.

Ba xe tăng Quân Giải phóng bị bắn cháy ờ khu vực tường rào Lăng Cha Cả. Phía sau là tháp chuông nhà thờ Mẫu Tâm-389 Hoàng Văn Thụ, Tân Bình hiện nay – Ảnh Hãng tin CORBIS

Cựu binh Nguyễn Đình Thi nhớ lại: “Khi tiếng súng ở các nơi trong nội đô Sài Gòn thưa dần sau tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh thì tại khu vực Lăng Cha Cả cuộc chiến của tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 vẫn diễn ra rất ác liệt. Lính dù ở đây vẫn coi như chưa biết gì về lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Thế là trong vòng chưa đầy 20 phút cả ba chiếc xe tăng của ta đã cháy tại đây – Lăng Cha Cả”.

Một xe tăng Quân Giải phóng đang bốc cháy ở Lang Cha Cả – Ảnh Jacques Pavlovsky

“Thật đau xót – ông Thi nghẹn lời và kể tiếp – Trung đoàn trưởng Vũ Tài quyết định điều hai khẩu pháo 85 ly nòng dài lên hỗ trợ Tiểu đoàn 5 tấn công. Khẩu đội pháo đầu tiên của Trung đoàn 4 Pháo binh do đại đội trưởng Chính – quê Ninh Bình chỉ huy vừa vào tới khu vực bên trái Lăng Cha Cả, đang triển khai pháo, chưa kịp nổ súng, lại trúng hỏa tiễn của địch. Pháo hỏng, cả khẩu đội cùng đại đội trưởng Chính hy sinh. Tại cổng số 5, địch vẫn chống trả rất quyết liệt, thêm ba xe tăng nữa của ta lại bị địch bắn hỏng nặng”.

  • Thiếu tá chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy số 3 chiến thuật của Liên đoàn 81 Biệt cách dù Phạm Châu Tài kể: “Đến sáu giờ sáng, năm chiến xa T54 và đoàn quân tùng thiết của Việt cộng trên đường tiến vào Sài Gòn đã bị lực lượng của Sư đoàn Nhảy dù và Liên đoàn 81 chặn đánh trước cổng phi trường Tân Sơn Nhất. Bốn chiến xa của Việt cộng bị phá hủy”.

Trung đoàn 24 bị nghẽn ở Lăng Cha Cả do xe tăng Quân Giải phóng bị bắn cháy trên đường Võ Tánh chặn mất lối sang Bộ Tổng tham mưu. Chỉ huy Trung đoàn 28 quyết định chuyển hướng tấn công, đi theo đường Trương Minh Ký (nay là cuối đường Lê Văn Sỹ) qua nhà thờ Tân Sa Châu, rẽ sang đường Thoại Ngọc Hầu rồi quẹo trái ra Võ Tánh đánh trực diện cổng chính Bộ Tổng tham mưu lúc 9g40.

Thiếu tá Phạm Châu Tài – Ảnh tư liệu

Các xe tăng M48, xe thiết giáp M113 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước cổng Bộ Tổng tham mưu bắn chặn quyết liệt và lính Biệt cách dù phục sẵn (từ mấy hôm trước) trên các nóc nhà hai bên đường bắn vào đội hình.

Bên kia phản pháo lại. Trong khoảng nửa tiếng, ba xe tăng M48, thiết giáp M113 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị bắn cháy ở khu vực trước cổng Bộ Tổng tham mưu. Một số lính Nhảy dù phòng thủ ở đây cũng tử trận. Những xe tăng, xe thiết giáp của lực lượng phòng thủ rút lui. Có chiếc M48 chạy ra tới ngã tư Phú Nhuận mới chịu ngừng cho lính trong xe leo ra đi đâu không rõ.

Thiếu tá Tài nhớ lại: “Một đoàn chiến xa khác của Việt cộng hướng vào cổng chính Bộ Tổng tham mưu. Một toán của Liên đoàn 81 phòng thủ trên cao ốc (đầu ngã ba Thoại Ngọc Hầu – Võ Tánh; đối diện Bệnh viện dã chiến số 3 Mỹ bên kia đường, hiện nay là Bảo tàng Lực lượng Vũ trang miền Đông Nam bộ – CMC) đã dùng M72 bắn cháy chiếc đầu tiên. Chiếc thứ hai đã dùng đại pháo trên pháo tháp bắn vào cao ốc làm tê liệt tuyến phòng thủ đó, nhưng chiến xa này cũng bị bắn cháy trước cổng Bộ Tổng tham mưu”.

Khu vực bên ngoài Lăng Cha Cả sau trận chiến – Ảnh Jacques Pavlovsky

Tổng cộng trận đánh vào Sài Gòn sáng 30-4 của Trung đoàn 24 và Trung đoàn xe tăng 273 của Quân Giải phóng, theo cựu binh Nguyễn Đình Thi, “mũi tấn công này của ta bị địch bắn cháy tất cả bảy xe tăng và một xe bọc thép (tại ngã tư Bảy Hiền ta bị địch bắn cháy hai xe tăng, tại Lăng Cha Cả ta bị địch bắn cháy năm xe tăng, một xe bọc thép”.

Khoảng 10g30, Trung đoàn 28 đánh chiếm xong tòa nhà Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Công hòa và cắm cờ. 11g, Trung đoàn 24 làm chủ sân bay.

Các cánh Quân Giải phóng hướng cửa ô này vô Sài Gòn là cánh quân cuối cùng hội quân ở Dinh Độc Lập trưa 30-4.

Bà con gần Bộ Tổng tham mưu nói rối rít với các sĩ quan, binh sĩ Nhảy dù: “Các ông ơi, đừng đánh nhau nữa. Hòa bình rồi. Về nhà đi”; rồi ùa tới mang rất nhiều quần áo dân sự, đặc biệt là áo thun, đưa cho cả lính lẫn sĩ quan: “Đừng mặc đồ lính nữa, thay đồ đi”.

Xe tăng, xe thiết giáp của Trung đoàn xe tăng 273 cùng Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 ở Bộ Tổng Tham mưu VNCH trưa 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Thiếu Tá Phạm Châu Tài tập họp binh sĩ dưới quyền lần chót, nói với những chiến hữu của ông một lệnh cuối cùng: “Chúng ta là Biệt cách dù, không có vụ đầu hàng. Thôi tan hàng, và lặn cho kỹ…”.

… Khoảng 10 – 10g30 sáng 30-4-1975, một hình ảnh “lạ” diễn ra trong mắt bà con trên đường Trương Minh Ký, Trương Minh Giảng (nay đều là Lê Văn Sỹ), trong mắt và trong ống kính của chàng trai 19 tuổi gan lì Nguyễn Đạt: hàng trăm lính dù cởi áo trận, cởi trần, bỏ giày bốt-đờ-sô (botte de sault), đi chân không trên đường theo hướng Sài Gòn

Người lính cuối cùng mà anh Nguyễn Đạt thấy và chụp lúc 10h30 ngày 30-4-1975 trên đường Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sỹ – Ảnh Nguyễn Đạt

Không rõ trong đó có thiếu tá Tài không vì ông vốn là dân Sài Gòn – Gia Định gốc. Nhà ông, vợ con ông gần Viện đại học Vạn Hạnh trên đường Trương Minh Giảng (sau này là Trường đại học Sư phạm TP.HCM mà tôi học).

Bộ đội Giải phóng tiến về phía Sài Gòn trên đường Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sỹ, ít lâu sau anh lính Nhảy dù – Ảnh Nguyễn Đạt

Theo sau những nhóm lính dù này không xa là hàng trăm bộ đội. Họ cũng chẳng buồn đuổi theo, bắn theo những người lính trước đó ít phút còn bắn vào họ, thiêu cháy nhiều đồng đội và gần chục xe tăng, xe thiết giáp của họ.

Đoàn gần chục người của gia đình tôi và họ hàng đi trong khung cảnh kỳ lạ này. Cũng không hiểu chuyện gì đang và sẽ xảy ra.

… Bom đạn đã yên. Lính cả hai bên đều đi không vội vã. Không một nụ cười trên môi những người lính cùng màu da, cùng dòng máu Việt ấy. Đánh nhau mấy tháng nay, chiến tranh đẫm máu hơn 20 năm, chắc bên nào cũng mệt mỏi, ngán ngẩm lắm rồi.

Tha thứ cho người khác chính là giải thoát cho chính mình

Khi cảm xúc của một người đang không ổn định thì sẽ khó tránh khỏi làm ra những điều ngu xuẩn, nhẹ thì khiến đôi bên bất hòa, nặng thì làm tổn hại đến sinh mạng. Bởi vậy khắc chế cơn giận là điều rất cần tu dưỡng.

Tức giận nhất thời là điều có thể hiểu được, bởi vì khi bị người khác hiểu lầm, bị người khác ức hiếp thì một người chưa có tu dưỡng sẽ dễ dàng bị kích động. Tuy nhiên, điều đáng sợ chính là dù đã trải qua một thời gian lâu dài rồi mà người ấy vẫn không quên được lỗi lầm mà đối phương gây ra cho mình, hễ nhớ đến là thấy bốc hỏa. Họ không biết rằng bản thân đang lấy hành vi của người khác để trừng phạt chính mình, còn người từng phạm lỗi với mình có lẽ đã quên chuyện ấy từ lâu.

Có câu nói rất hay rằng, nếu chúng ta vẫn luôn tức giận vì lời nhục mạ của một người nào đó trong quá khứ thì chính là chúng ta vẫn đang bị đối phương nhục mạ liên tục. Nếu chúng ta luôn nhớ đến việc mình từng bị đối phương tát thì chính là chúng ta đã bị tát vô số lần trong ký ức của mình.

Nhân sinh ai cũng có lỗi lầm, cho dù là cố ý hay vô ý. Đại văn hào người Anh, WilliamShakespeare từng nói: “Một cơ thể khỏe mạnh và một trí nhớ không tốt thông thường sẽ khiến bạn hạnh phúc hơn”. Những sự tình xảy ra ngày hôm qua, hôm nay đã là chuyện quá khứ, tha thứ cho người khác chính là giải thoát chính mình…

St.

Đạo Phật ở phương Tây

Khởi thủy , không có sự truyền giáo của Đạo Phật đến người Tây phương.
Suốt thời gian dài , người Âu châu không có ý niệm về sự có mặt của Đạo Phật.

Chùa Pháp Bảo – Hội An

Giới Trí thức Âu châu , từ các học giả Hy Lạp cổ thời , đến những giáo sĩ các dòng Thừa sai cận đại , cả các quan cai trị và các nhà nghiên cứu thời Ánh sáng ; khi khảo sát về “tín ngưỡng của người châu Á” , họ chỉ nói đến những nghi thức manh mún tản mác , sự sùng bái ngẫu tượng của các giáo phái bí ẩn , chứ không lĩnh hội được “một hợp-nhất-thể” nào có tính hệ-thống trong giáo-thuyết và trong thực-hành , để có thể gọi đó là một “tôn giáo”.


Ngưởi Âu-châu đã tự “khám phá” ra Đạo Phật cho chính họ .
Khi người Anh , người Hà-lan , người Pháp , đến Ấn-Độ vào thế kỷ XVII và XVIII , họ đã không gặp một đệ tử nào của Đức Phật , mà chỉ thấy những đền thờ vắng vẻ điêu tàn .

Bởi vì đạo Phật , tuy được ra đời tại Ấn Độ , đã phát triển và phổ biến ở đó ít nhất suốt từ thế kỷ thứ V trước TL , đến thế kỷ 10 TL. , nhưng đã biến mất trong khoảng thế kỷ XI hay thế kỷ XII , bởi những lý do đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Những người Âu châu đầu tiên biết chữ Phạn có thể vào thẳng các bản văn nguyên gốc Bà-la-môn giáo .
Nhưng với Phật giáo , họ phải gây dựng lại từng bước , từ những dấu tích tản mác , manh mún , những dữ kiện thu thập được một cách rời rạc ; vì những bản kinh Phật giáo đã biến mất từ lâu trên đất Ấn Độ .
Những bản kinh Phật chỉ còn ẩn giấu nơi các sườn núi Hi-mã ; nhất là ở Nepal , còn giữ vài bản kinh Phật giáo chữ Phạn ; nhiều bản khác chỉ còn lại trong những bản dịch tiếng Tây Tạng và tiếng Trung Hoa.

Thêm nữa , trong suốt nhiều thế kỷ , đạo Phật đã không bao giờ đồng dạng và hợp nhất.
Ngay trong hai nhánh chính của đạo Phật là Đại thừa và Tiểu thừa , cũng đã hiện hữu từ rất sớm nhiều học-phái đối chất nhau trong những diễn giải khác nhau về giáo thuyết của Phật.

Sự đa dạng này còn kết hợp với những tôn giáo hay đức tin hiện hữu từ trước tại các vùng mà Phật giáo đã tuần tự bám rễ , như : Tiểu thừa ở Sri Lanka , Miến Điện , Lào… vốn không giống nhau ; Đại thừa ở Trung Hoa , Đại thừa ở Nhật Bản , Đại thừa ở Tây Tạng , Đại thừa ở Mông Cổ , … cũng không đồng nhất .

.
#
Mãi đến năm 1800 , tri thức Âu châu về đạo Phật vẫn ở dạng đầy phán xét cảm tính , dựa theo văn minh Hy Lạp và Thiên Chúa giáo .

Danh tự để chỉ Đức Phật vẫn tùy tiện , theo tác giả .
Trong “từ vựng” chỉ Đức Phật , có : Buddou , Bouddou , Bodh , Budh ; liên hệ giữa những ‘Bút’ đó với Sammonacodom (Thái Lan) , với Xắc-Ca (Nhật Bản) , hay với Fô (Trung Hoa) , cũng chưa được thấy.

Khúc quanh trọng-đại trong lịch sử người Tây phương “khám phá đạo Phật” được đánh dấu bởi sự ra đời của từ “Bouddhaisme” , “Buddhaism” , “Buddhaismus” (giáo thuyết của Phật) .

Về sau , đổi thành ‘bouddhisme – buddhism – buddhismus”(giáo thuyết Giác Ngộ’) vào thập niên 1820.
.
Sự vắng mặt của “từ vựng Phật giáo” tương ứng với sự vắng mặt của “đối tượng tri thức Phật giáo” ,
Vì chẳng ai phải đặt ra một từ vựng mới cho một đối tượng không được biết .

Trước khi nhận được một tên gọi , “đạo Phật” chưa hiện hữu ; và sự khai sinh ra tên gọi , đánh dấu sự thành hình một đối tượng của tri thức.

Phải đến thời điểm của năm 1820 , mới có các nỗ lực kết tập trí thức ở phương Tây , nhằm xác định thế nào là “đạo của Phật”, xuất phát từ khả năng ngôn ngữ của các nhà nghiên cứu Đông phương học .
.
Từ thập niên 1780 đã có một số người Âu châu đọc được chữ Phạn , nhưng các bản văn Phật giáo bằng chữ Phạn chỉ được khám phá ở Nepal , bởi B.H. Hodgson , vào thập niên 1820 .

Cùng thời gian này , chỉ có E. Burnouf và C. Lassen đọc được chữ Pàli , và những bản kinh Phật giáo tiếng Trung Hoa chỉ mới được nghiên cứu bởi JP. Abel-Rémusat .

Sau đó ít lâu , chữ Tây Tạng được bắt đầu biết đến bởi một người gốc Hungary là Alexandre Csoma de Koros.

Một số nỗ lực “kết tập kinh Phật” đầu tiên được đưa ra và đã có nhiều bàn cãi.
Nhưng rất nhanh sau đó , trí thức Âu châu đã nhận biết được sự hiện hữu của một giáo thuyết đặc biệt , nằm giữa tôn giáo và triết học, có một tiêu đề và một lịch sử riêng.
“Đối tượng của tri thức” đã có mặt ở Âu châu , và tên gọi cho “Đạo của Phật” đã được người Âu châu đặt ra và phổ biến.

.
#
Vào cuối thế kỷ XVIII ở Âu châu , nghiên cứu về văn minh Ấn Độ và chữ Phạn bắt đầu hình thành một chuyên ngành , với đối tượng và các phương pháp riêng.

Đến đầu thế kỷ XIX , các học hiệu của người Anh , người Pháp và người Đức ở Calcutta , ở Paris , ở Bonn , và ở Berlin , bắt đầu tiếp cận dần với một lãnh vực rộng lớn , chưa được biết đến .

Từ đó , từng bước và khá nhanh , những “ngông cuồng của thị hiếu ngữ nguyên học” , hay những “mơ mộng chuộng điều mới lạ từ xa đến” ; nhường chỗ cho những tri thức chính xác và những chuyển dịch thận trọng nghiêm ngặt.

Khi đọc các bản dịch đầu tiên từ chữ Phạn , người Âu châu của phái lãng mạn ; đặc biệt là ở Đức ; họ tin là đã tìm thấy trong Bà-la-môn giáo ánh sáng cho những lo âu của họ.

Những anh hùng ca , kịch bản , thơ ca Ấn Độ , cùng các tác phẩm của những “Triết gia sông Hằng”, đã tạo nên sự chờ đợi một cuộc “Phục-Hưng Mới” .

Nhiều tác giả rất khác nhau như: Schlegel , Schelling , Schopenhauer , Leroux , .v.v. , cho rằng tư tưởng Âu châu sẽ được tái sinh cùng với các tác phẩm Phạn ngữ ; tựa như lần Phục hưng trước với các tác phẩm Hy Lạp , được những người theo “chủ nghĩa Nhân Bản” tìm thấy lại.

Trong một thời gian khá dài , nhiều người Âu châu tin rằng sự “Phục hưng Đông phương” (chữ của họ) , bởi âm vang đa diện của nó , sẽ phải rộng lớn và sâu sắc hơn lần Phục hưng Âu châu ở thế kỷ XV và thế kỹ XVI.

Họ cho rằng : cái quá khứ đang mở ra này ; thật vậy ; nó còn xa xưa hơn những gốc nguồn Hy Lạp.

Hầu hết mọi quan điểm đều tin rằng : từ chỗ trở về với gốc nguồn Aryan nguyên thủy nhất này , có thể sáng tạo ra một tương lai mới hoàn toàn khác với hiện tại ; nguồn cội và tương lai tương ứng nhau , nhưng không giống nhau ; và , những rối loạn trước mắt chỉ là đoạn cuối của một dấu ngoặc dài sắp sửa khép lại.

Họ hy vọng nơi Ấn Độ , mà Herder (triết gia Đức thế kỷ XVIII) xem là “cái nôi của nhân loại”, “một sự cứu rỗi của ngày mai”.

Sự khám phá Bà-la-môn giáo , qua các công trình được dịch từ chữ Phạn , chẳng những đã kích thích óc tò mò của người Âu châu mà còn gây nên sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

Cái gọi là “Ấn Độ” vừa mới biết đến , tức thì được ước mơ , được suy tưởng và thi vị hóa ; như là quê hương gốc của sự toàn hảo, trật tự , vượt trên mọi thối rữa lịch sử , và tồn tại như năng lực lớn duy nhất , có thể làm sống lại tinh thần và cả thể xác của Âu châu.

Trong thư đề ngày 18-12-1806 viết cho Windischmann , Schelling viết : “Tôi cho rằng việc khôi phục sự hợp nhất Đông-Tây là vấn đề lớn nhất cho giải đáp mà Tinh Thần thế giới đang tìm kiếm . Âu châu là gì , nếu không là thân cây khô héo tự thân , cậy tất cả nơi những tiếp ghép Đông phương , và chỉ có thể được hoàn thiện nhờ nơi các tiếp ghép này?”.

Tại Paris , năm 1842 , Edgar Quinet , trong số nhiều tác giả khác , cũng nêu lên cùng hy vọng , rằng : “Cùng lúc thâm nhập vào thi ca , vào chính trị của Tây phương , Á châu cũng len lỏi vào trong các chủ thuyết ; siêu-thể học , đến lượt nó , củng cố sự liên kết hai thế giới” (trong sách “Le Génie des religion”).

Sự liên kết này được hy vọng , được chờ đợi , loan báo một cuộc phục-hưng trên nền tảng Đông và Tây tìm gặp lại.

Sự phục sinh chẳng những đã không diễn ra , mà tất cả mọi kỳ vọng đều sụp đổ.
Không phải chỉ đơn giản vì đó là một giấc mơ , mà thực-tại tầm thường hẳn nhiên phải khác.

Mà vì , từ các năm 1820 , khi những mảnh tư liệu tản mác , được thu về từ Népal , Trung Hoa , Tích Lan , Tây Tạng , Thái Lan , Nhật Bản , .v.v. , bắt đầu được kết tập , phân loại , so sánh ; khi các nét chính của “Giáo thuyết nhà Phật” hiện rõ ; thì sức hấp dẫn hướng về một sự sống tinh nguyên bị lật ngược , hiện thành sự khinh ghét như sự khinh ghét đối với một dạng thần chết .

.
#
Đạo Phật vừa được Âu châu phát hiện , liền bị họ xem là một phủ-định , hay một khiêu khích nội thân và bền bỉ trong lòng trật tự xã hội , mà “trật-tự tinh-thần Bà-la-môn giáo” đã ra sức chống phá .

Phật giáo bị người Âu châu xem như một loại “nổi loạn luận lý” rất đặc-thù , nó chống mọi dạng thần-khải và siêu-thể-học ; giáo thuyết “Tánh Không” của nó như một đề-án hủy diệt mọi tư-duy ; nó giống như một “phiến loạn” , tác nhân của thoái hóa , đồi bại.

Bởi vì khi ấy , Đạo Phật thường được trình bày như một chủ thuyết lạ đời , khiến người Âu châu không thể lĩnh hội được .
Chủ thuyết này cổ võ một kiểu hiện-hữu chỉ nhắm đến chỗ “không-là-gì-cả”, với mục tiêu tối-hậu chỉ là , và thuần túy là “hư vô” ; với nhiều trăm triệu con người ngưỡng vọng sự “Nhập Diệt” , một sự tan biến bất-phản-hồi của chính mình vào Hư Vô ; dành trọn mọi nỗ lực thánh thiện nhất và bền bỉ nhất cho sự hủy diệt chính mình ; và xem đó là diễm-phúc không thể diễn tả được .
Người Âu châu nói : Làm sao con người lại có thể mong cầu hư vô?

.
#
Trên bình diện chủ thuyết , Phật giáo rất khác với Bà-la-môn giáo , nên cũng rất mới lạ đối với các học-thuyết chính của truyền thống Âu châu.

Khi dần dần khám-phá “Giáo thuyết của Phật” , người Âu châu tự hỏi : đây là một Thần-giáo hay là một triết-hệ ?

Cùng với những thắc mắc về Đạo Phật được coi như là “một Thần giáo không có Thiên Chúa” ; “một con đường cứu rỗi không có sự sống vĩnh cửu” , “hạnh-phúc không có cấu liệu nền-tảng” , luật thiện tách khỏi mọi lời lẽ thần linh , luân lý không bám vào siêu nghiệm … ; óc tò mò của những nhà tư tưởng Âu châu thế kỷ XIX còn bị kích thích bởi một học thuyết từ lâu không được biết đến , chỉ mới được khám phá với những mảnh vụn được kết tập một cách lộn xộn .

Họ nắm bắt đạo Phật bằng “thị-hiếu tưởng tượng” hơn là bằng tinh thần khảo nghiệm khoa học.

Và , ở mỗi bước của quá trình truy tìm , nghiên cứu , những phát hiện mới lại dẫn tới những thắc mắc mới , trên những nghịch-luận về “chủ đề đạo Phật”.

Từ những tưởng-diễn theo thị-hiếu đó , các bộ mặt chính của chủ nghĩa Hư Vô của Âu châu thế kỷ XIX , được xác lập và được tô điểm sửa sang từng bước.

Một số lớn tư-tưởng-gia Âu châu thời đó tin rằng họ đã thấy trong Đạo Phật một hiểm họa không tên , và như một cái gì không thể có được ; tinh thần con người không thể thực sự muốn sự đánh mất chính mình .

Thế nhưng , giáo thuyết lớn lao và cổ xưa này của cả Á châu là một thực tại : tương đương với niên-hạn của văn minh Hy Lạp , với số tín đồ còn nhiều hơn tín đồ Ky-tô giáo.
Nhưng họ không thể xếp đạo Phật vào một loại Thần-học nào cả ; cho nên , càng lôi cuốn bao nhiêu , Đạo Phật càng làm người ta sợ bấy nhiêu.

Và , tất cả đều đã , hoặc ít hoặc nhiều , người Âu châu đã đồng hóa Niết-bàn với sự triệt-tiêu tất cả ; đã kết liền đạo Phật với chủ nghĩa bi quan , khô chết và tiêu cực .
Tất cả những gì của đạo Phật đều bị xem là “tôn giáo của hư vô” , nghịch thường và đáng sợ , chống lại “trật tự bình thường” của thế giới ; “một thế giới Tây phương Ky-tô giáo” sống động , xác định .
.
Vào thế kỷ XIX , đã có một “sự khiếp sợ” đối với đạo Phật nơi hầu hết các triết gia Âu châu , tựa như sự khiếp sợ trước ma quái , một sợ hãi yêu ma , một khủng bố quỷ ám hiện lộ đó đây , và nó có thể hủy hoại tâm hồn người ta từ bên trong.

Dấu vết của sự khiếp sợ này còn được ghi lại rất nhiều trong những tác phẩm của các triết gia Đức , như : Hegel , Schopenhauer , Schelling , Nietzsche .… ; và nơi tác phẩm của các học giả Pháp , như : Cousin , Taine , Renan , Saint- Hilaire , Quinet, Comte… , nhất là Renouvier.
Dĩ nhiên , đó là ngộ nhận .
.
Roger-Pol Droit đã vạch rõ lý lẽ của sự ngộ nhận đó , sự sai lạc của ảo tượng đã ám ảnh Âu châu thế kỷ XIX ; cho thấy , bằng cách nào , tại sao ; bởi sức cám dỗ nào mà , khi nói về “kẻ khác” , về “phương xa”, về Á châu , về Phật .

Do đâu người Âu châu lại khiếp sợ trước những gì Đạo Phật sẽ đến cho sự sống ; đồng thời cho thấy , làm thế nào mà , trong khi những nhà ngữ học và Đông phương học thời đó đã cố gắng xác định ý nghĩa của từng câu trong các bản kinh , các tác phẩm thu thập được từ các cuộc viễn du hoặc viễn chinh ; và cố dựng lại từng bước lịch sử và những đặc điểm của đạo Phật ; thì các triết gia Âu châu lại chỉ tuyển chọn một số dữ kiện từ thuyết nhà Phật , do những nghiên cứu Đông phương học cung cấp , để diễn dịch Phật giáo thành một tôn giáo chủ trương Hư Vô của “đoạn diệt luận” , điều mà chính Đức Phật vẫn phê bác mạnh mẽ.

.
#
Hầu hết các bản kinh nền tảng của Phật-giáo đã được dịch sang các tiếng Âu châu trong hậu bán thế kỷ XIX.

Sau một thời gian khá dài bị hiểu lầm , Đạo Phật đã được những đầu óc khoa học sáng giá nhất thế giới đánh giá lại.
Đến khoảng thập niên 1950 , Đạo Phật đã được nghiên cứu rộng rãi tại nhiều học-viện uy tín nhất ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Nhiều công trình nghiên cứu giá trị về Đạo Phật được phổ biến đại chúng , lôi cuốn ngày càng đông số người đến với Đạo Phật tại các xã hội kỹ nghệ tiên tiến ở Âu châu và Bắc Mỹ .

Sự “khám phá đạo Phật” của người Tây phương còn là công trình so sánh , phân loại những chứng liệu về Đạo Phật từ khắp nơi gom về .

Rồi từ sự gạn lọc để tách rời những nghi-thức hành lễ vốn là những chất liệu có tính văn hóa địa phương đã được gán ghép vào , tạo nên những hình thức Phật giáo bề ngoài của từng dân tộc ; các trí giả Âu châu đã thiết lập lại gần như trọn vẹn các giáo-thuyết của Đức Phật , những phương pháp tu học , cùng quá trình phát triển Đạo Phật của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

Một số phương pháp tu tập Thiền được sử dụng trong quá khứ xa xưa ở Ấn Độ và Trung Hoa , nay được các Trí giả Âu châu soát xét lại cùng với nhiều kiến giải mới , theo kiểu tư duy quen thuộc của tinh thần khoa-học hiện đại .
Tuy nhiên , hầu hết đều nghiêng nhiều về phần triết lý , trí thức.

Càng về sau , những đặc-tính thế gian và con người trong tư tưởng cốt lõi của Đạo Phật, cũng đang được các Trí giả Âu-Mỹ nghiên cứu , ứng dụng vào những định chế nhân văn và xã hội.
Phần “tu tập” chỉ mới được bắt đầu phát triển từ khoảng cuối thập niên 1970.

Người Âu Mỹ đang đến với đạo Phật ngày càng nhiều .
Nhưng trên bình-diện luận lý của “người thời đại” , với cái nhìn nhị phân , kiểu “hậu Descartes” , họ chia tư tưởng thành hai khu vực : “thuận lý” (rationnel) và “phi lý” (irrationnel) , đối kháng và phủ nhận nhau.

Trong khi Phật giáo , có trình bày phân-biệt phạm vi “Lý” (rationnel) với phạm vi “Quan hệ” (relationnel) , nhưng chúng không đối-kháng loại trừ nhau.
Đó là hai mặt của mọi hiện tượng , nhất thiết phải được thống hợp trong cái nhìn toàn nguyên , giúp nắm bắt thực-tại trên toàn-thể của nó.

Đó là cái nhìn sự vật của mọi học-phái Phật giáo , không bị giới hạn trong “trí thông minh” , cũng không là “phóng túng ngang tàng”; khác hẳn với tư tưởng của “người thời-đại” , thường đã mất mọi niềm tin , cả nơi chính mình và nơi thế giới.

Vì thế , một Phật giáo của thời đại , đã hiện -thành , thế nhập với nhân sinh và mở lòng với mọi người , đem đến cho con người những “niềm tin” mới , một “Chánh Tín” với nội dung vững chắc của “Tu và Chứng” , một sự xác quyết sâu xa của con người về chính mình và kiểm nghiệm được bởi chính mình .

“Niềm tin mới” này khác với những “đức tin Thần khải” ; cùng lúc đã làm sống lại một cách mới mẻ những tư tưởng cốt lõi mà Đức Phật đã gieo hạt trong “Tâm Bồ đề” của người Phật tử.

Những “hạt giống Phật” này đã nẩy nở một cách tùy duyên trong nhiều nền văn hóa và văn minh rất khác biệt ; đã thích hợp với tâm tư của nhiều giống người sống trong những điều kiện rất khác nhau ; nhưng không bao giờ đánh mất những chất liệu nền tảng , cũng như những ý hướng đặt biệt của chúng .
Đó là sự Giải thoát khỏi Vô Minh , sự Giác Ngộ của Tuệ Giác , và sự chứng ngộ “Phật tánh” (tánh Tỉnh-thức phổ-quát vốn sẳn có nơi mỗi con người).
.
Một “Phật giáo Tây phương” đã hiện thành , dưới dạng một “Phật giáo trí thức’” ; chắc chắn nó sẽ bổ túc nhiều cho “Phật giáo hướng thiện” với mục đích “cầu phước”, có tính luân lý , thuộc “hiện tượng giới” ; và “Phật giáo hướng Tuệ” nhằm đạt ‘trí tuệ siêu vượt Chân lý” , thuộc “Chân thật giới” , đã phát triển trong lịch sử Phật giáo.

Và , chắc chắn rằng : sự kết hợp cả ba loại hình Phật-giáo này , sẽ tạo thành đặc điểm của “Phật giáo thời đại” .

Với “Phật giáo Trí thức” là gạch nối giữa hai loại Phật giáo kia , tiến tới việc hiện thành một “hệ thống đạo lý phi Thần-học” , có chức năng kép , đó là “cải thiện tính người” và “song hành với Trí Tuệ” , đưa nhân-sinh thể nhập vào Đạo Phật.


(Cuồng Từ lược khảo)

8 PHÁT MINH VĨ ĐẠI CÒN “BỎ NGỎ” CỦA ” BÁC HỌC KHÙNG ” NICOLA TESLA

Thiên tài lập dị Nikola Tesla là nhà khoa học tiên phong cho các bước tiến khoa học ấn tượng của nhân loại trong thế kỷ XX, ví dụ công nghệ đài phát thanh, động cơ, điện, và đặc biệt là công nghệ dòng điện xoay chiều đang cung cấp năng lượng cho hầu hết thế giới ngày nay.

Nhà phát minh người Mỹ gốc Serbia Nikola Tesla nổi tiếng với những phát kiến phản ánh tầm nhìn tương lai sâu rộng. Tuy nhiên, ông cũng có những phát minh mà người đời không công nhận do thiếu thực tế hoặc kỳ quái, không khả thi trong điều kiện công nghệ tại thời điểm đó, hoặc không thể theo đuổi trong thời gian dài.

Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh “bác học khùng”.

  1. NĂNG LƯỢNG KHÔNG DÂY

Khi làm việc với radio, lò vi sóng và tạo ra cuộn cảm Nikola Tesla, ông đã nghĩ về khả năng tạo ra hệ thống truyền dẫn không dây nhằm phân phối năng lượng trên khoảng cách rộng.

Năm 1901, ông có một bước tiến lớn để đạt được mục tiêu này khi nhận được tài trợ từ nhà tài chính J.P. Morgan để xây dựng một nhà máy điện không dây cao 56m ở Shoreham, Long Island, New York được gọi là Tháp Wardenclyffe.

Ngoài việc có thể truyền tin nhắn qua Đại Tây Dương, ông đã hình dung tòa tháp là một cơ sở viễn thông không dây có thể cạnh tranh với hệ thống điện báo dựa trên radio của Guglielmo Marconi trong khi cũng có thể thắp sáng toàn bộ Thành phố New York.

Thật không may, Morgan đã quyết định ngừng tài trợ cho dự án và vì Tesla không thể tìm kiếm những người tài trợ khác, ông đã phải từ bỏ dự án hoàn toàn chỉ sau vài năm. Tháp Wardenclyffe không thể hoạt động như Tesla dự định.

  1. MÁY BAY ĐIỆN VẬN TỐC SIÊU ÂM

Sau thất bại của Wardenclyffe Tower, Tesla đã chú ý đến ngành hàng không, ông hi vọng có thể sử dụng tốt kiến thức của mình về kỹ thuật điện và cơ khí để phát triển một máy bay siêu thanh chạy bằng điện.

Năm 1919, nhà khoa học đã thảo luận trong một bài báo trên tạp chí Reconstruction (Tái thiết) về việc chiếc máy bay này có thể vận chuyển hành khách từ thành phố New York đến London chỉ trong ba giờ. Theo Tesla, việc cung cấp năng lượng cho những chiếc máy bay tốc độ cao là hầu như không giới hạn, vì những chiếc máy bay này sẽ được cung cấp năng lượng điện từ các nhà máy điện.

Về việc cung cấp điện này sẽ được thực hiện như thế nào, Tesla đã lên kế hoạch sử dụng thiết kế truyền năng lượng không dây của mình cho các máy bay trên. Nếu thành công, nó sẽ xóa bỏ hoàn toàn việc phương tiện bay phải mang theo nhiên liệu. Đáng tiếc, dự án cũng không được hoàn thành.

  1. ROBOT HÌNH NGƯỜI

Năm 1898, Nikola Tesla tham gia trình diễn tại một triển lãm điện ở Madison Square Garden, New York. Đó là một chiếc thuyền điều khiển từ xa bằng radio, một số người thời đó cho rằng nó có thể là vũ khí điều khiển từ xa đầu tiên trên thế giới.

Tuy nhiên, Tesla nhìn thấy tiềm năng của chiếc thuyền ở khía cạnh khác. Ông coi đây là bước đầu tiên trong việc phát triển một loại robot tự động có thể thay công nhân làm hầu hết các công việc nặng nhọc. Ông gọi mô hình của mình là “Telautomation” và đề nghị cung cấp phát minh này làm vũ khí cho chính phủ Mỹ, Anh.

Ngày nay, ý tưởng này của Tesla được nhiều người xem là tiên phong cho ngành khoa học robot. Số khác cho rằng ông đã đi quá xa so với thời đại; vài thập kỷ sau đó, ý tưởng này mới có thể ứng dụng trong thực tiễn.

  1. CAMERA ĐỌC Ý NGHĨ CON NGƯỜI

Ý tưởng về camera đọc suy nghĩ được cho là xuất phát từ căn bệnh ảo giác lúc nhỏ của Nikola Tesla.

Tại một số thời điểm, Nikola Tesla muốn phát minh ra cỗ máy có thể đọc được suy nghĩ mọi người và chiếu ra dưới dạng phim ảnh.

Trong bài báo xuất bản năm 1933, ông tiết lộ một trong những dự án ông đã thực hiện nhiều năm qua là chế tạo thiết bị chụp ảnh tư tưởng con người. Lần đầu nghĩ ra ý tưởng này vào năm 1893, ông tin rằng hình ảnh đã hình thành trong suy nghĩ được phản ánh trên võng mạc, sau đó có thể được xem hoặc chụp lại. Điều này có thể do ông bị ảo giác từ nhỏ và có thể nhìn thấy những hình ảnh mà mình tưởng tượng ra.

Tesla chưa bao giờ có đủ tiền để chế tạo chiếc máy ảnh tư tưởng như ông nghĩ. Nhưng các nhà khoa học ngày nay đã khám phá ra cách chuyển đổi tín hiệu não thành những hình ảnh.

  1. KHAI THÁC TIA VŨ TRỤ

Ý tưởng khai thác năng lượng miễn phí từ các hạt nguyên tử trong vũ trụ

Nikola Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử – các loại tia đầy rẫy trong vũ trụ. Ý tưởng này bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.

Nhưng Nikola Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm năng lượng trên Trái Đất.

Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng; ông nghĩ có thể “bắt” được chúng và chuyển đổi thành năng lượng để sử dụng. Rất tiếc, phát minh của ông không trở thành hiện thực.

  1. SÓNG THẦN NHÂN TẠO

Nikola Tesla tin rằng khoa học nắm giữ chìa khóa trong việc ngăn chặn các cuộc xung đột và chiến tranh trong tương lai (Ảnh: beyondsciencetv)

Năm 1907, New York World tiết lộ, Nikola Tesla đề xuất sử dụng sóng radio kích nổ bom trên biển, điều đó sẽ đồng thời kích hoạt sự hình thành sóng thủy triều lớn có khả năng lật úp hạm đội tàu địch.

Cụ thể, sóng thủy triều nhân tạo sẽ khiến hải quân trở nên vô dụng, giống như những chiếc thuyền giấy trôi nổi trong bồn tắm. Một số người lúc đó coi đây là công cụ giúp nhân loại tiến gần hơn đến hòa bình thế giới. Với tính huỷ diệt khủng khiếp, nó có thể tiêu diệt cả 2 bên tham chiến. Vì vậy, không bên nào dám gây chiến.

Tuy sóng thuỷ triều chưa bao giờ được thực hiện, các nhà khoa học vẫn nuôi dưỡng ý định phát triển vũ khí đủ mạnh để răn đe chiến tranh. Vài năm sau đó, vũ khí hạt nhân đã xuất hiện.

  1. TIA TỬ THẦN

Dù có những ý tưởng về vũ khí hủy diệt, Nikola Tesla vẫn mong muốn phát minh của mình góp phần cho hòa bình thế giới. (Ảnh: giaoduc.edu.vn)

Vào những năm 1930, Nikola Tesla khi đó đã 70 tuổi. Chia sẻ với New York Times, ông cho biết đã phát minh ra thứ có thể khiến đội quân hàng triệu người chết trong chớp mắt.

Công nghệ này gia tốc hạt thuỷ ngân nhanh hơn 50 lần so với tốc độ âm thanh trong buồng chân không, tạo ra một chùm tia mạnh mẽ có thể “bắn hạ 10.000 máy bay của đối phương ở khoảng cách hơn 400 km”.

Vũ khí quân sự này được gọi là “Tia tử thần”, nhưng bản thân Tesla vẫn thích gọi là “Tia hòa bình”, vì có thể giúp các nước chống xâm lược.

Ông cố gắng tìm một chính phủ sẵn sàng tài trợ cho việc xây dựng tia tử thần, và quốc gia duy nhất tài trợ cho ý tưởng của ông là Liên Xô. Các cuộc thử nghiệm diễn ra vào cuối những năm 1930, song không rõ có thành công hay không vì ông qua đời không lâu sau đó.

  1. ĐỐT LẠNH

Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.

Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.

Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.

Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng “đốt lạnh” thành mơ hồ.

KẾT LUẬN

Nhiều người xem Tesla là nhà khoa học điên rồ. Tuy nhiên, những người ủng hộ cho rằng ông xuất sắc hơn hết thảy những nhà phát minh nổi tiếng khác trong thời đại của mình như Thomas Edison hay Alexander Graham Bell.

Sau khi Tesla qua đời, dư luận vẫn không công nhận những thành tựu khoa học ít được biết đến của ông. May mắn thay, nhiều phát kiến và ý tưởng của ông đã được công bố trong những năm gần đây. Công chúng từ đó đánh giá cao hơn di sản mà cha đẻ dòng điện xoay chiều đã để lại

Nguồn : NTDVN

Trái tim người cha

Một ngày nọ, Cha tới mượn tiền tôi. Cha nói sức khỏe không tốt, cần phải tới bệnh viện để kiểm tra tổng quát, vậy nên tôi đã gửi tiền cho Cha.

Không ngờ, chưa được bao lâu, Cha lại gọi điện tới, nói muốn mua một chiếc xe điện 3 bánh. Tôi lưỡng lự một lúc, Cha dường như nghe thấy sự do dự của tôi bèn nói:

“Con cho Cha một nửa, Cha tự bỏ ra một nửa, đem bán mấy con dê nhà nuôi”.

Nghe thấy vậy, tôi liền mềm lòng. Mấy năm gần đây, Cha tôi đã nuôi hơn chục con dê, nuôi lớn rồi lại đem bán để trang trải chi tiêu hàng ngày. Sau khi Mẹ tôi mất đi, tôi muốn đón Cha lên thành phố ở chung, Cha quyết không chịu đi.

Thằng em trai đang sống ở thị trấn cũng muốn đón Cha tới, nhưng Cha nói đã quen với cuộc sống ở quê, quen với những người trong thôn nên không muốn rời đi.

Không có cách nào thuyết phục, đành theo ý Cha. Tuy nhiên, muốn biếu Cha chi phí sinh hoạt hàng ngày ông cũng không lấy, lần nào cũng nói, cuộc sống thôn dã đơn giản, chi phí ít, cũng không tiêu gì. Mà bây giờ… chuyển tiền cho Cha, nhưng tôi vẫn cảm thấy có gì đó không đúng.

3 tháng trôi qua, tôi quyết định đưa con gái về nhà thăm Cha.

Cửa nhà khóa, chú hàng xóm nói Cha tôi đang đi chăn dê. Tôi bèn dắt con gái xuống dốc, từ xa đã nhìn thấy đàn dê, tới gần mới thấy Cha đang ngồi ngủ bên gốc cây, bên cạnh trải một tấm vải, trên tấm vải có một cái bánh đã ăn được một nửa, một túi dưa muối nhỏ, còn có một bình nước… Trong lòng chợt thấy chua xót, tôi liền gọi: “Cha ơi”!

Cha giật mình tỉnh giấc, hồi lâu sau mới nói:

“Con bé này, sao về nhà mà không báo trước?”.

Con gái tôi liền giành nói trước: “Mẹ con nói muốn cho ông ngoại một bất ngờ”.

Cha tôi thực sự rất vui mừng, không nói thêm với tôi điều gì, chỉ kéo cháu gái tới làm quen với bầy dê bảo bối của mình. Một bầy dê nho nhỏ có trên chục con, Cha tôi vui vẻ nói:

“Đợi thêm một khoảng thời gian nữa có thể bán được rồi, chắc chắn sẽ bán được rất nhiều tiền! Bây giờ giá dê đang tăng”.

Về tới nhà, trong sân có chút bừa bộn, chiếc xe 3 bánh Cha tôi đã đi nhiều năm nằm ở một góc sân.

Tôi thuận miệng liền hỏi:

“Cha, chiếc xe 3 bánh Cha mới mua đâu rồi?”.

Ông bối rối trả lời:

“Cha… vẫn chưa mua! Nghe người ta nói tháng sau giá sẽ giảm”.

Trong lúc tôi dọn dẹp ngoài sân, nghe thấy Cha gọi điện cho thằng em trai nói:

“Chị gái con về nhà, tối nay con cũng về nhà cùng ăn cơm đi!”.

Sau đó Cha còn dặn nhỏ một câu:

“Mua thêm nhiều đồ ăn ngon nhé”!

Tôi định nói vài câu, rồi lại thôi. Hồi trước, tôi luôn để ý tới sự thiên vị của cha mẹ. Bởi vì sự đố kỵ lúc còn nhỏ mà tôi luôn xa cách thằng em trai, sau đó thì giận dỗi quyết định thi vào một trường đại học thật tốt, cuối cùng có thể hãnh diện rời khỏi nhà.

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vào làm việc ở một công ty nước ngoài khá tốt, còn em trai tôi miễn cưỡng cũng học xong trung cấp nghề, trở thành một công nhân làm trong một dây chuyền lắp ráp tại thị trấn, thằng út lại càng ngưỡng mộ và tôn kính tôi hơn.

Buổi chiều, thằng em trai mang theo con về nhà, còn mua rất nhiều đồ.

Cha tôi đích thân xuống bếp, cùng với em trai làm rất nhiều món ngon, đều là những món tôi ưa thích. Lúc Mẹ tôi còn sống, Cha tôi chưa từng nấu ăn. Thật kỳ lạ là mỗi món ăn Cha làm đều giống y như mùi vị thức ăn Mẹ nấu. Ăn từng miếng, tôi dường như sắp khóc.

Buổi tối, tôi ngồi nói chuyện với Cha trong sân, chỉ là không ngờ tới, ông vòng vo một hồi lâu, nói từ chuyện trong thôn, nói tới việc lúc còn sống Mẹ tôi muốn xây lại nhà,… cuối cùng mới nói tới vấn đề chính:

“Các con, nếu như không quá khó khăn, có thể… con biết đấy, thằng em của con…”

Tôi ngắt lời ông, hỏi:

“Cha, sửa nhà cần bao nhiêu tiền”, trong lòng đột nhiên có một nỗi buồn không thể diễn đạt bằng lời.

“Khoảng, khoảng 200 triệu …..”, giọng của ông nhỏ lại, liền lập tức bổ sung, “nếu bán được bầy dê cũng sẽ được vài chục triệu”.

Tôi ngạc nhiên một lúc, 200 triệu với tôi cũng không phải là con số nhỏ, tôi ngập ngừng nói: “Cha, đợi con về nhà tính lại rồi nói, cũng không phải vấn đề quá lớn”.

Ông cúi thấp đầu nói:

“Con gái, làm khó con rồi. Con xem có thể được bao nhiêu, Cha già rồi, sẽ không tiêu tốn khoản nào nữa….”.

Tôi cười nhẹ. trong ánh trăng mờ ảo, chắc chắn Cha không thấy được sự cay đắng trong nụ cười đó.

Bàn bạc với chồng về chuyện của Cha, cả nửa ngày, anh ấy cũng không nói gì, chồng tôi không phải một người nhỏ mọn, nhưng năm nay, tình cảnh của anh ấy còn tệ hơn tôi. Chồng tôi mở một công ty xuất khẩu nhỏ, bây giờ đến tiền lương cũng trở thành vấn đề.

Cuối cùng anh ấy nói:

“Em đưa tiền cho Cha đi, chúng ta tự thắt chặt chi tiêu chút, vẫn có thể chịu được”.

Nửa tháng sau khi tôi chuyển tiền cho Cha, tôi gặp được một người họ hàng tới thành phố làm việc, trong lúc trò chuyện tôi liền thuận miệng hỏi:

“Nhà của con đã bắt đầu sửa lại chưa ạ”?

Ông ấy hơi ngạc nhiên:

“Không thấy Cha con nói tới việc sửa lại nhà!”, nghĩ một lúc người đó nói, “Đúng rồi, Cha con đem dê bán hết rồi, giúp em trai con mua một chiếc xe giao hàng nhỏ, em trai con không còn làm ở chỗ cũ nữa, đã tự lái xe đi giao hàng rồi. Kiếm được kha khá…”.

Trái tim tôi giống như bị ném vào băng vậy, cảm thấy thực sự lạnh lẽo.

Hoá ra Cha đã nói dối tôi, từ đầu tới cuối luôn đứng về phía thằng em trai, thiên vị tới mức nói dối tôi lấy tiền giúp đỡ nó, không thể oán hận Cha nhưng có bao nhiêu bất mãn chính tôi cũng không rõ.

Về tới nhà, tôi không thể chịu đựng được nữa, nhốt mình trong phòng vệ sinh, vừa mở nước vừa khóc một trận.

Vài ngày sau đó, tôi đều không chủ động gọi điện thoại cho Cha. Cuối cùng cũng làm Cha gọi trước, tôi chỉ trả lời lấy lệ, Cha cũng đành phải cúp máy. Nhưng không ngờ rằng, đó lại là lần cuối cùng tôi được nghe giọng của ba..

3 ngày sau, tôi nhận được điện thoại của thằng em trai, nói rằng Cha đã qua rồi vì bị nhồi máu cơ tim… bỗng nhiên nhớ lại cuộc điện thoại 3 ngày trước, những lời dặn dò vụn vặt cùng sự lạnh lùng của tôi, khiến tôi không thể nhớ nổi.

Lập tức trở về nhà, lần đầu tiên tôi và thằng em trai ôm nhau khóc, lúc Mẹ mất tôi vẫn có thể dựa vào vòng tay Cha, còn bây giờ… tất cả những oán trách đối với Cha đều bị sự ra đi đột ngột này làm tan đi hết, chỉ còn sự đau thương bao trùm lấy tôi.

Sau khi lo liệu xong hậu sự của Cha, lúc rời đi, thằng em trai tiễn tôi tới bến xe rồi nói:

“Chị gái, hãy thường về nhà nhé, Cha Mẹ đều không còn, nhưng nhà của chúng ta vẫn còn”.

Một câu nói đó đã khiến cho tôi vốn đã khóc tới cạn nước mắt lại dâng lên dòng lệ. Nắm tay thằng em trai tôi dặn dò nó giữ gìn sức khỏe rồi lên xe đi. Tôi đã nghĩ rằng, có thể sau này tôi sẽ không thường về nơi được gọi là nhà của chúng tôi nữa!

Trải qua vài ngày, tôi mới có thể bình tĩnh lại sau việc Cha qua đời…

Nhưng cuộc đời con người, quả thật là hoạ vô đơn chí, chuyện bất hạnh lại tiếp tục xảy tới, công ty của chồng tôi gặp sự cố, anh ấy bị khách hàng lừa mất toàn bộ tài sản.

Chồng tôi lúc đó gần như sụp đổ, từ một người không bao giờ uống rượu lại thành kẻ say sưa tối ngày. Tôi vô cùng lo lắng, sốt ruột, lại không có cách nào có thể giúp đỡ, suy nghĩ một đêm, cuối cùng quyết định bán nhà.

Trưa ngày hôm đó thằng em trai gọi điện tới, sau khi Cha mất, thằng em ngược lại rất thường xuyên gọi điện thoại tới. Tôi không có tâm trạng nói chuyện với nó, nó cũng hiểu được sự nôn nóng của tôi, nhẫn nại hỏi, tôi cố gắng mới nói được hết cho thằng út nghe.

Không ngờ được rằng, em trai tôi ngồi tàu hỏa, sáng hôm sau liền tới, bước vào nhà không nói gì hết, từ trong tay lấy ra một xấp tiền. “Chị, đây là 500 triệu, không nhiều, dùng giải quyết trước đã”.

Tôi vô cùng ngạc nhiên hỏi:

“Tiền này em lấy ở đâu?”. “Một phần từ mấy tháng nay em chở hàng kiếm được 300 triệu, nhà trên thị trấn không được bao nhiêu, chỉ có điều có được từng này…”.

Tôi cảm động, cầm tiền đưa lại cho em trai, nói:

“Chị không thể cầm tiền của em”.

Nó vội vã nói:

“Chị gái, năm ngoái xưởng đóng cửa, em và vợ bị mất việc, muốn nói một chiếc xe chở hàng nhưng không có tiền, chị đã đưa ba 400 triệu, nói Cha đưa cho em, còn dặn Cha không được cho tụi em biết là tiền của chị”.

Tôi ngây người, em trai nói tiếp:

“Cha nói, hồi nhỏ, đều là chị nhường em, bởi vì em là em, bây giờ em phải bảo vệ chị, bởi vì chị là con gái. Cha còn nói, tới lúc Cha không còn nữa, em chính là nhà của chị…”.

“Cha”!

Tôi quay đầu, nước mắt rơi xuống như mưa. Tôi là đứa con bất hiếu! Sao lại không hiểu cho sự khổ tâm của Cha. Cha đã biết trước không còn sống được bao lâu, lại càng biết tôi vốn là đứa kiêu ngạo, ngay cả người thân cũng sẽ không nhờ vả dựa dẫm, chính vì vậy đã để lại sự yêu thương, dành cho tôi sau này.

Lúc đầu, khi Cha mượn tiền tôi, trong lòng Cha đã biết khó xử, đã phải dùng bao nhiêu dũng khí. Nhưng Cha vẫn làm vậy, chỉ để khi ông mất đi, chúng tôi còn có chỗ dựa, còn có người thân.

Thì ra đứa con mà ông yêu thương nhất lại chính là tôi. Tôi quay lại ôm lấy em trai, không thể nói một lời nào, chỉ ôm thật chặt nó.

Giây phút này, Cha tôi đang ở trên thiên đường cũng cảm thấy an lòng, bởi vì đứa con được sống trong tình yêu của ông mà hoàn toàn không biết, cuối cùng đã hiểu được tất cả.

Sưu tầm

Hãy yêu thương cha mẹ khi còn có thể..! 💖