Phát hiện đàn một dây 2.000 năm tuổi thuộc văn hóa tiền Óc Eo

Phát hiện đàn một dây 2.000 năm tuổi thuộc văn hóa tiền Óc Eo
Hình ảnh phục dựng hiện vật (A) với các loại nhạc cụ Việt Nam như (B) đàn Bro JoRai; (C) Co Ke; và (D) K’ny
FZ Compos

Các nhà khảo cổ học quốc tế mới đây vừa khai quật được một cây đàn cổ một dây làm từ sừng hươu được cho là có 2.000 tuổi và thuộc thời đại văn hóa tiền Óc Eo của Việt Nam sống trên dọc sông Mekong.

Cây đàn bao gồm một miếng sừng hươu dài 35cm có lỗ ở một đầu để làm chốt, có thể được dùng để điều chỉnh dây giống như các phím trên đầu đàn guitar.

Các nhà khảo cổ học trường Đại học Quốc gia Úc (ANU) khẳng định đây là một nhạc cụ có dây.

Cây đàn được phát hiện cùng với hơn 600 hiện vật bằng xương được tìm thấy trong khu vực.

Chiếc sừng hươu được xác định là thuộc loài hươu Sambar hoặc hươu heo Ấn Độ vốn là hai loài có nguồn gốc lục địa Đông Nam Á.

Co Fredeliza Campos thuộc ANU cho báo chí biết cây đàn là một trong những ví dụ về nhạc cụ sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á. Cô cho biết, cây đàn rất giống với những nhạc cụ có dây khác hiện đang được chơi ở Việt Nam. Điều này cho thấy âm nhạc truyền thống Việt Nam đã có nguồn gốc từ thời tiền lịch sử.

Tuy nhiên, hiện vẫn chưa biết cây đàn được chơi như thế nào và âm thanh nghe ra sao.

Các nhà khoa học Úc cho biết cây đàn có thể giống như cây đàn K’ny của Việt Nam hiện nay.

K’ny là đàn một dây và được người chơi điều khiển bằng miệng và có nhiều âm điệu.

Theo RFA

DƯƠNG LỊCH và ÂM LỊCH

Tác giả: TS. NGUYỄN BÁCH PHÚC

Người Việt Nam thường sử dụng cả Dương lịch và Âm lịch, nhưng phần nhiều không để ý tìm hiểu, không biết được bản chất của hai thứ Lịch này.

Nhiều người không những không hiểu, mà còn hoàn toàn hiểu sai, kể cả một số nhà khoa học lớn, có học hàm, học vị cao và chức vụ lớn. Tai hại của chuyện này là người bình thường nghe các cụ ấy nói, lại tưởng đó là chân lý bất di bất dịch, và cái sai trái ấy được lan truyền rất rộng rãi khắp đất nước.

  1. DƯƠNG LỊCH LÀ GÌ?

Dương lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm, theo vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. “Dương lịch” tiếng Anh là “Calendar”; tiếng Nga là “календарь”; tiếng Trung Quốc là “日曆” (“Nhật lịch”, nghĩa là “Lịch Mặt trời”).

  1. ÂM LỊCH LÀ GÌ?

Âm lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. “Âm lịch” tiếng Anh là “Lunar calendar”, nghĩa là “Lịch trăng”; tiếng Nga là “Лунный календарь” (nghĩa là “Lịch theo trăng”); tiếng Trung Quốc là “陰曆” (“Âm lịch”).

  1. TẠI SAO NGƯỜI VIỆT NAM LẠI GỌI “ÂM LỊCH” VÀ “DƯƠNG LỊCH”?

Hai từ này là tiếng Hán, chứ không phải là tiếng Việt, “Lịch” (曆, 历) trong tiếng Hán là “sắp xếp giờ giấc”; “Dương” (陽, 阳), và “Âm” (陰, 阴) là hai từ của Kinh Dịch xưa của người Tàu. Kinh Dịch cho rằng mọi vật, mọi hiện tượng trong Vũ trụ này được tạo thành bởi hai mặt đối lập, gọi là hai mặt “Dương” và “Âm”. Ví dụ: “Con người và mọi sinh vật” đều gồm hai giới, “Dương” là đàn ông, là giống đực, “Âm” là đàn bà, là giống cái. Thiên văn cổ với hiểu biết thô sơ, cho rằng Trái đất là trung tâm Vũ trụ, còn có hai thiên thể lớn nhất Vũ trụ là Mặt trăng và Mặt trời, và họ nghĩ rằng đây là hai vật thể đối lập, họ gọi Mặt trời là “Thái Dương”, Mặt trăng là “Thái Âm”, với chữ “Thái” (太) trong tiếng Tàu nghĩa là “rất lớn”, “vượt mức”

Từ xưa người Trung Hoa đã biết làm Lịch, theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. Về sau, tới khi người Trung Hoa tiếp thu Lịch Mặt trời của phương Tây, thì họ gọi Lịch Phương Tây là “Nhật lịch” (日曆, 日历) hoặc đôi khi gọi là “Dương lịch” ((陽曆, 阳历), và gọi Lịch của họ là “Âm lịch” (陰历, 阴历) và đôi khi gọi “Nguyệt lịch” (月曆, 月历).

Người Việt Nam học theo tiếng nói của người Trung Hoa, là Âm lịch và Dương lịch. Còn đôi khi gọi Dương lịch “Lịch Tây”, còn “Âm lịch” là “Lịch Ta”. Thực ra nói “Lịch Ta” là không chính xác, vì không có Lịch của người Việt Nam, mà chỉ có Lịch Tây của người Tây và Lịch Tàu của người Tàu.

  1. NHỮNG NÉT CỐT LÕI CỦA VIỆC LÀM LỊCH

Thứ nhất: Đo thời gian quay được 1 vòng của Mặt trời và của Mặt trăng.

Thứ hai: Qui định số tháng của một năm, để tính ra số ngày của 1 tháng.

Thứ ba: Qui định thứ tự của năm, để xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.

  1. VỚI LỊCH MẶT TRỜI

Bình thường chúng ta tưởng Mặt trời quay quanh Quả đất, nhưng thực ra Quả đất quay quanh Mặt trời. Hơn 2.200 năm trước, người Tây đã đo được thời gian đó, là 365 ngày, và qui định đó là 1 năm.

Mỗi năm họ chia làm 12 tháng, mỗi tháng hơn 30 ngày rưỡi, và để làm tròn số ngày của tháng, họ quy định chặt chẽ như sau: Tháng Giêng 31 ngày, tháng Hai 28 ngày, tháng Ba 31 ngày, tháng Tư 30 ngày, tháng Năm 31 ngày, tháng Sáu 30 ngày, tháng Bảy 31 ngày, tháng Tám 31 ngày, tháng Chín 30 ngày, tháng Mười 31 ngày, tháng Mười Một 30 ngày, tháng Mười Hai 31 ngày.

Và qui định mỗi tuần có 7 ngày, mỗi ngày có 24 giờ.

Vài trăm năm sau khi Giê-su chết, Giáo hội phương Tây thống nhất chọn 1 thời điểm làm ngày đầu tiên của Dương lịch. Họ đã chọn sau ngày sinh của Giê-su 1 tuần, gọi là Ngày Đầu tiên của Dương lịch, tức là ngày mồng một tháng Giêng năm thứ nhất (số 1).

Sinh thời của Giê-su chưa có Lịch Tây này, nên Giáo hội không biết gọi ngày sinh của Giê-su là ngày bao nhiêu tháng năm nào. Sau khi có qui định kể trên thì mới có ngày sinh của Giê-su là 25/12 năm -1. Cũng nhờ qui định này mà người ta mới có thứ tự của năm, và có thể xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.

Khoảng thế kỷ thứ 6 người phương Tây đo đạc lại, kết quả là thời gian quay quanh Mặt trời của Quả đất chính xác hơn số cũ trước Công nguyên (365 ngày), là 365 ngày 6 giờ. Như vậy nếu lấy một năm chỉ 365 ngày như Lịch cũ, thì mỗi năm sẽ thiếu đi 6 giờ, sau 4 năm sẽ thiếu đi 24 giờ, bằng 1 ngày. Việc này dẫn đến 1 hệ quả nghiêm trọng, là sau 120 năm Lịch sẽ bị sai lệch mất 1 tháng, và sau (120 năm x 6) = 720 năm Lịch sẽ lệch đi 6 tháng, nghĩa là đảo lộn 4 mùa, mùa đông vào tháng 6 và mùa hè vào tháng 12. Giáo hội đã quyết định sửa Lịch như sau: Cứ 4 năm thì thêm vào 1 ngày, là ngày 29/2. Người Việt Nam nói theo tiếng Tàu, gọi ngày “thừa” này là ngày “nhuận 閏” và tháng 2 Dương lịch là tháng “nhuận”. Tiếng Tàu, chữ “Nhuận” “閏” nghĩa là “xen vào giữa, thừa ra”.

Khoảng thế kỷ thứ 9, người ta đo lại thời gian quay 1 vòng quanh Mặt trời của Trái đất không phải là 365 ngày 6 giờ, mà chính xác hơn là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây. So với số đo cũ, 365 ngày 6 giờ, thì thừa ra: 6 giờ – (5 giờ 48 phút 16 giây) = 11 phút 44 giây.

Người ta đã tính cách bù trừ như sau: cứ 400 năm, nếu theo lịch cũ thì sẽ thừa ra: (11 phút 44 giây) x 400 năm = 78 giờ = 3 ngày + 6 giờ.

Giáo hội phương Tây quyết định sửa Lịch như sau:

  • Cứ 400 năm (4 Thể kỉ) thì bỏ bớt đi 3 ngày nhuận, 29/2 của 3 thế kỷ. Ba ngày bị bỏ này được qui định là ngày nhuận đầu tiên, của năm đầu tiên, của những thế kỷ có số thứ tự không chia hết cho 4. Qui định này giúp bỏ bớt được 3 ngày x 24 giờ = 72 giờ. Vẫn còn dư 6 giờ, vẫn còn phải tìm cách bỏ đi 6 giờ này.
  • 400 năm còn dư 6 giờ, vậy thì phải mất bao nhiêu năm để số dư là 24 giờ của 1 ngày: Số năm tương ứng với số dư còn lại: 24 giờ/ 6 giờ x 400 năm = 1600 năm.

Từ đây Giáo hội La Mã còn phải thêm 1 qui định, cứ 16 thế kỷ, 1.600 năm, thì phải bỏ thêm 1 ngày nhuận. Cụ thể là năm đầu tiên của thế kỷ 17, là năm 1600, đáng lẽ phải bỏ ngày nhuận 29/2 (theo qui định Lịch cũ), nhưng không bị bỏ.

Câu chuyện Lịch cũ – Lịch mới này đã dẫn đến nhiều chuyện “tréo ngoe” trong lịch sử. Ví dụ: “Cách mạng tháng 10 Nga” ngày 25/10/1917, lại diễn ra vào ngày 7/11/1917 theo lịch mới.

Khoảng thế kỷ 8 đã phát sinh mâu thuẫn rất lớn trong nội bộ Giáo hội, Giáo hội Giê-su bị chia làm hai: Giáo hội phương Tây với trung tâm là thành phố La Mã (Roma, nước Ý), và Giáo hội phương Đông, với trung tâm là thành phố Constantinop. Nguyên nhân của sự phân chia là, phe phương Đông phê phán phe phương Tây về những “cải cách”, mà theo họ đã hủy hoại giáo lý cơ bản của Giê-su; còn phe phương Đông kiên trì giữ nguyên giáo lý cơ bản của Giê-su, tự cho mình là “Chính thống giáo”.

Một trong những phê phán của phương Đông, là phương Tây đã sửa đổi Lịch cũ thành Lịch mới. Còn phe Chính thống phương Đông kiên trì sử dụng lịch cũ. Trung tâm của phe phương Đông khoảng thế kỷ 13 đã chuyển sang thành phố Moscow của Đế quốc Nga. Nhà nước Nga cũng chỉ công nhận Lịch cũ.

Đến thế kỷ 20 Lịch mới đã bỏ đi 16 ngày nhuận (của năm 100, 200, 300, 500, 600, 700, 900, 1000, 1100, 1300, 1400, 1500, 1600, 1700, 1800, 1900), dẫn đến kết quả là Lịch mới “chạy trước” Lịch cũ 16 ngày, ngày 7/11/1917 chạy trước ngày 25/10/1917 đúng 16 ngày.

  1. VỚI LỊCH MẶT TRĂNG

Hơn 2.000 năm trước người Trung Hoa đã đo được Tuần Trăng (khoảng thời gian giữa hai kì trăng tròn), là 29 ngày rưỡi. Họ gọi thời gian này là 1 tháng. Cho nên trong tiếng Tàu chữ “Tháng” và chữ “Trăng” là cùng một chữ “Nguyệt” (月), chứ không phải như trong tiếng Việt, “Tháng” và “Trăng” là hai Từ khác nhau, thể hiện hai khái niệm khác nhau.

Để làm tròn số ngày trong 1 tháng, Lịch Tàu qui định Tháng Lớn (Đại Nguyệt, 大月) có 30 ngày, Tháng Nhỏ (Tiểu Nguyệt, 小月) có 29 ngày, người Việt Nam dùng Lịch Tàu gọi là “Tháng đủ” và “Tháng thiếu”. Họ quan sát thấy khí hậu thay đổi tuần hoàn với chu kì khoảng 12 tháng, từ đó Lịch Tàu qui định 1 năm có 12 tháng.

Lịch này giúp con người xác định được chính xác ngày nào trăng tròn, và ngày nào thủy triều trên biển dâng cao nhất, ngoài ra không liên quan gì đến thời tiết, khí hậu, mùa màng, nông nghiệp…

Có thể gọi Lịch này là “Âm Lịch Nguyên Thủy”.

Với Lịch này, mỗi năm chỉ có 12 tháng x 29,5 ngày/tháng = 354 ngày. Nếu so với chu kỳ biến đổi khí hậu trên mặt đất, thì mỗi năm bị thiếu mất 365 ngày – 354 ngày = 11 ngày, sau ba năm sẽ thiếu mất 1 tháng. Và như vậy sau (3 năm) x 6 = 18 năm thì Lịch sẽ sai lệch với thiên nhiên 6 tháng, nghĩa là 4 mùa sẽ đảo lộn, tháng 6 là mùa đông, tháng 12 là mùa hè.

Hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại “Âm Lịch Hồi giáo”, giống hệt “Âm Lịch Nguyên Thủy” của người Tàu.

Sau nhiều năm quan sát, người Tàu thấy 1 năm nếu chỉ 12 tháng thì không phù hợp với sự biến đổi thiên nhiên, và họ qui định gần đúng, cứ 3 năm thì phải thêm 1 tháng nhuận.

Khoảng hơn 1.000 năm trước các nhà khoa học thiên văn của các đài thiên văn của Hoàng đế Trung Hoa đã quan sát, đo đạc, và họ cũng đã có kết quả giống như Lịch phương Tây, là một năm có 365 ngày 6 giờ, và thời gian quay vòng trung bình của Mặt trăng quanh Quả đất là 29,534 ngày

Nhưng người Trung Hoa không hủy bỏ Lịch Tàu, mà họ cải tiến nâng cao “Lịch Tàu Nguyên Thủy” thành “Âm Lịch”, và gọi chính xác Lịch này là “Âm – Dương Lịch” (陰 陽 曆, 阴 阳 历). Ngày nay Âm lịch mà người Việt chúng ta đang sử dụng, chính là “Âm – Dương Lịch” của người Trung Hoa.

  1. GIỐNG NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM – DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA
  • Thời gian của 1 năm là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây
  • Mỗi năm có 12 tháng.
  • Dương lịch chia mỗi ngày thành 24 giờ, với 12 giờ buổi sáng (AM) và 12 giờ buổi chiều (PM), tên gọi của mỗi giờ theo thứ tự, từ 0 giờ đến 23 giờ. Âm Dương Lịch chia mỗi ngày thành 12 giờ với những tên gọi riêng cho từng giờ, liên quan chặt chẽ với 24 giờ Dương lịch: Giờ Tý từ 0 giờ đến hết 1 giờ, giờ Sửu từ 2 giờ đến hết 3 giờ, giờ Dần từ 4 giờ đến hết 5 giờ, giờ Mão từ 6 giờ đến hết 7 giờ, giờ Thìn từ 8 giờ đến hết 9 giờ, giờ Tỵ từ 10 giờ đến hết 11 giờ, giờ Ngọ từ 12 giờ đến hết 13 giờ, giờ Mùi từ 14 giờ đến hết 15 giờ, giờ Thân từ 16 giờ đến hết 17 giờ, giờ Dậu từ 18 giờ đến hết 19giờ, giờ Tuất từ 20 giờ đến hết 21 giờ, giờ Hợi từ 22 giờ đến hết 23 giờ.
  1. KHÁC NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM – DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA
  • Việc làm Lịch

Làm Lịch Tây vô cùng đơn giản, chỉ cần tuân thủ 1 số qui định như đã nói ở phần trên (mục 5). Nên bất cứ ai cũng có thể “nhắm mắt” viết ra đầy đủ chính xác Lịch của một năm nào đó, của quá khứ và cả của tương lai. Còn làm Âm – Dương lịch, công việc không đơn giản một tí nào, với hàng ngàn bài tính phức tạp, rắc rối, liên quan đến những thông số Thiên văn Địa lý của Mặt trăng, Trái đất, Mặt trời, và rất nhiều mối liên quan, rất nhiều qui ước vô cùng phức tạp.

Lưu ý rằng, làm Âm – Dương lịch là phải sử dụng “bài toán 3 vật thể trong không gian”, bài toán này đến nay khoa học của nhân loại vẫn chưa giải được trọn vẹn, mặc dù đã được những nhà Toán học giỏi nhất thế giới dày công nghiên cứu hàng ngàn năm nay.

Hàng năm, để lập nên Âm – Dương lịch của năm tiếp theo, phải mở hội nghị, tập hợp những nhà làm lịch chuyên nghiệp, kỳ cựu, thảo luận, tính toán.

Lịch này cũng có lắm chuyện “tréo ngoe”. Ví dụ Lịch năm Mậu Thân (1968), Miền Bắc theo múi giờ thứ 7, còn Miền Nam theo múi giờ thứ 6, theo đúng qui tắc tính toàn làm Âm – Dương lịch, thì ngày Âm lịch của 2 miền chênh lệch nhau 1 ngày, dẫn đến kết quả: ngày 30 Tết của Miền Bắc lại là ngày mồng 1 Tết của Miền Nam!

  • Ngày Tiết: Dương lịch có 8 “ngày Tiết”, 8 “ngày Tiết” này giúp xác định 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trên Trái đất:

Trái đất tự quay xung quanh theo trục Bắc – Nam, 1 vòng hết 24 giờ, tạo ra ngày và đêm.

Đồng thời Trái đất quay vòng quanh Mặt trời trong 365 ngày và gần 6 giờ, tạo thành 1 năm. Mặt phẳng mà Trái đất quay quanh Mặt trời gọi là Mặt phẳng Hoàng đạo. Trong suốt quá trình quay quanh Mặt trời, trục tự quay Bắc – Nam của Trái đất luôn giữ một Phương không đổi, Phương này lệch với mặt phẳng Hoàng đạo 23 độ rưỡi.

Nhờ có độ lệch này mà trên mặt của Quả đất có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Nếu không có độ lệch này thì trên Mặt đất không có 4 mùa, quanh năm khí hậu như nhau.

Dương lịch gọi ngày bắt đầu Mùa Xuân là ngày Lập Xuân, ngày chính giữa Mùa Xuân là ngày Xuân Phân; ngày bắt đầu Mùa Hạ là ngày Lập Hạ, ngày chính giữa Mùa Hạ là ngày Hạ Chí; ngày bắt đầu Mùa Thu là ngày Lập Thu, ngày chính giữa Mùa Thu là ngày Thu Phân; ngày bắt đầu Mùa Đông là ngày Lập Đông, ngày chính giữa Mùa Đông là ngày Đông Chí.

Những Ngày Tiết này hoàn toàn xác định bởi vị trí của Quả đất trong vòng quay quanh Mặt trời. Mỗi mùa có hơn 91 ngày, và mỗi Ngày Tiết nói trên cách nhau hơn 45 ngày. Tám Ngày Tiết này gần như cố định trong Dương lịch: Lập Xuân ngày 6/2, Xuân Phân ngày 21/3, Lập Hạ ngày 6/5, Hạ Chí ngày 21/6, Lập thu ngày 6/8, Thu Phân ngày 21/9, Lập Đông ngày 6/11, Đông chí ngày 21/12. Do có những năm nhuận nên tám Ngày Tiết này có thể lệch đi, chậm mất 1,2 ngày.

Âm – Dương lịch cũng có tám Ngày Tiết như vậy. Nhưng trong Âm – Dương lịch, ngày tháng không được sắp xếp thứ tự chặt chẽ như trong Dương lịch, mà biến hóa vô cùng rắc rối, cho nên các nhà làm Lich phải hết sức khốn khổ mới tính ra được ngày Âm lịch của tám ngày Tiết. Tám Ngày Tiết đó không cố định như trong Dương lịch, mà mỗi năm một khác. Cho nên muốn biết Ngày Tiết là ngày nào trong năm Âm lịch thì chỉ có một cách duy nhất là đọc lịch của năm đó.

Về sau người Trung Hoa có một cách xác định Ngày Tiết dễ dàng hơn, khỏi phải tính toán phức tạp, là đem so sánh Âm – Dương lịch mà họ vất vả tạo ra hàng năm, với Dương lịch của năm tương ứng, rồi gán Ngày Tiết của Dương lịch vào Âm – Dương lịch của họ.

Đại đa số người Việt Nam không biết về câu chuyện Ngày Tiết này, cứ tưởng Ngày Tiết là của Âm lịch Trung Hoa. Ở Việt Nam ngay cả nhiều nhà làm Lịch cũng không biết điều này, nên khi in lịch, cứ gán Ngày Tiết cho Âm lịch.

Âm – Dương lịch của Trung Hoa còn thêm 16 ngày Tiết, chen vào giữa tám Ngày Tiết kia, họ chia khoảng cách giữa hai Ngày Tiết của Dương lịch làm ba phần đều nhau, rồi chèn thêm hai Ngày Tiết của họ. Thực ra 16 Ngày Tiết chèn vào này cũng giống 8 Ngày Tiết trên kia, họ không cần tính toán mệt nhọc, mà chỉ cần so sánh với Lịch Tây để chọn ngày tương ứng.

  • Việc đặt tên năm

Dương lịch không đặt tên riêng cho từng năm, mà gọi năm theo thứ tự, từ năm số 1 trở đi, cách gọi tên này thật đơn giản, nhưng lại vô cùng thuận lợi và chính xác, giúp người ta dễ dàng xác định được các sự kiện xảy ra trong thời kì lịch sử nào của nhân loại, của dân tộc, của dòng họ, của cá nhân.

Còn Âm – Dương lịch đặt tên theo “Thiên Can Địa Chi”: có 10 “Can”: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, và 12 “Chi”: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tên của 1 năm được ghép bởi 1 từ thuộc “Can” và 1 từ thuộc “Chi”, ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân. Cách đặt tên này không giúp người ta biết gì, ví dụ: không biết việc đấy cách đây bao nhiêu năm, còn Lịch Tây ghi là năm 1788, rất dễ hiểu.

Cách đặt tên này còn qui định: 6 “Can” với số thứ tự lẻ chỉ được ghép với 6 “Chi” với thứ tự lẻ, 6 “Can” với số thứ tự chẵn chỉ được ghép với 6 “Chi” vói thứ tự chẵn. Kết quả là Âm – Dương lịch chỉ vẻn vẹn có 60 tên năm. Cứ sau 60 năm, tên năm lại bị lặp lại. Hậu quả là, trong vòng 300 năm có 5 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, trong vòng 2.400 năm có 40 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, biết đằng nào mà lần !

Có tên Can Chi cùa năm rồi, để có thể xác định vị trí của năm đó trong chiều dài của lịch sử, thì Âm lịch phải kèm theo 1 thông tin nữa, là năm ấy vào đời vua nào của Trung Hoa, hoặc đời vua nào của Việt Nam. Ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân, phải thêm thông tin: Đời Nhà Thanh Trung Hoa, Vua Thanh Cao Tông, Niên hiệu Kiền Long, năm thứ 43. Khi có đủ 2 thông tin này rồi, còn phài tra Bảng đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch, kết quả đối chiếu sẽ là, Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế năm 1788.

Chuyện xác định năm Âm lịch thật sự rắc rối, nhất là không phải ai cũng có Bảng tra đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch.

Tên năm Can Chi còn gây ra một hệ lụy rất đáng buồn, 12 Can ứng với 12 con vật: Tý – Chuột, Sửu – Trâu, Dần – Hổ, Mão – Mèo, Thìn – Rồng, Tỵ – Rắn, Ngọ – Ngựa, Mùi – Dê, Thân – Khỉ, Dậu – Gà, Tuất – Chó, Hợi – Lợn.

Mê tín dị đoan cùng với thói quen và niềm tin hoang sơ vào Âm lịch, đã khiến đa số người Việt Nam đinh ninh rằng ai sinh ra vào năm con vật nào , thì thân phận gắn liền với thân phận vật con đó, nhiều người buồn vì số phận mình là số phận của loài Chó Lợn Trâu Ngựa Chuột Gà, nhiều người hí hửng vì số phận mình là số phận của loài Rồng, loài Hổ !

  1. NHỮNG NHẬN THỨC SAI VỀ ÂM LỊCH
  • Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là của người Việt Nam, là hoàn toàn sai.

Từ khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, họ ra sức đồng hóa nước ta về mọi mặt, văn hóa, ngôn ngữ… Riêng về ngôn ngữ, trong tiếng Việt mà chúng ta đang nói hàng ngày hiện nay, có hơn 70% là tiếng Tàu, gần 30% là tiếng thuần Việt.

Từ vốn tiếng thuần Việt mà chúng ta giữ lại được đến ngày nay, có thể thấy rằng, trước khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, dân ta đã có những khái niệm rất rõ ràng chính xác về giờ giấc, ngày đêm, năm, tháng, mùa, là những khái niệm cơ bàn để có thể làm nên Lịch, nhưng lúc đó dân ta chưa biết làm Lịch.

  • Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là Nông Lịch, là hoàn toàn sai.

Nhiều người ngày nay vẫn lầm tưởng như người cổ đại, rằng có hai thiên thể lớn nhất là Mặt trời và Mặt trăng. Nhưng thực ra Mặt trời lớn gấp khoảng 10 triệu lần Mặt trăng, Mặt trời là nguồn phát ra năng lượng và ánh sáng, còn Mặt trăng thì bé tẹo, không phát ra ánh sáng, mà chỉ phản chiếu ánh sáng của Mặt trời. Mọi tác động lên thiên nhiên và sinh quyển (kể cả nông nghiệp) trên Mặt đất đều xuất phát từ Mặt trời. Mặt trăng chỉ tác động lên Mặt đất hai việc, một là trăng sáng ban đêm, sáng nhất là đêm Rằm, hai là thủy triều trên biển lên xuống theo tuần trăng, triều lên cực đại vào ngày Rằm. Ngoài ra các loại sinh vật sống trong nước biển, về mặt sinh học cũng chịu tác động của thủy triều, tức là tác động của Mặt trăng. Ví dụ: Tôm cua lột vỏ theo tuần trăng.

Âm lịch phân chia thời gian theo tuần trăng, ngày tháng của Âm lịch hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa Mặt trăng và Quả đất, trong khi Mặt trăng không có tác dụng gì đối với Nông nghiệp. Nhưng nhiều người Việt Nam vẫn gọi Âm lịch là Nông Lịch, kể cả người Trung Hoa ngày nay (農曆, 农 历), và lầm tưởng tin rằng làm nghề Nông phải tuân thủ Âm lịch.

Cái lầm tưởng này có lẽ xuất phát từ chỗ, Âm lịch Trung Hoa có chèn thêm 16 Ngày Tiết, tên của mỗi Ngày Tiết nghe ra có vẻ liên quan đến Nông nghiệp và trồng trọt, đó là:

  1. Vũ thủy: thời tiết mưa ẩm ướt, mưa phùn, có gió thổi nhẹ.
  2. Kinh trập: sâu nở
  3. Thanh minh: bầu trời quang đãng
  4. Cốc vũ: mưa lớn
  5. Tiểu mãn: lũ nhỏ
  6. Mang chủng: thu hoạch ngũ cốc
  7. Tiểu thử: nắng nhẹ
  8. Đại thử: nắng nhiều
  9. Xử thử: hết nóng
  10. Bạch lộ: bắt đầu sương mù
  11. Hàn lộ: sương mù lạnh giá
  12. Sương giáng: sương mù dày đặc
  13. Tiểu tuyết: Tuyết nhỏ
  14. Đại tuyết: tuyết lớn
  15. Tiểu hàn: hơi lạnh
  16. Đại hàn: rất lạnh

Hơn nữa tên gọi và ý nghĩa của các Ngày Tiết này chỉ phù hợp với 1 địa phương hẹp chứ không phải phù hợp với toàn cầu. Ví dụ: Địa phương ở Bắc bán cầu hoàn toàn ngược với các địa phương ở Nam bán cầu, hoặc ở Việt Nam hoàn toàn không có tuyết, ở Nam bộ Việt Nam không có Đại hàn, Tiểu hàn như ở Bắc bộ.

  • Bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là hoàn toàn dị đoan.

Các “Thầy” làm nghề bói toán, như “Thầy bói”, “Thầy số”, “Thầy cúng”, “Thầy chùa”, đều lấy ngày tháng năm Âm lịch làm cơ sở cho việc bói toán, nhưng như đã phân tích ở trên (mục 8), Âm lịch cứ 60 năm lại lặp lại, nghĩa là theo Âm lịch chu kỳ hoạt động của thiên nhiên là 60 năm, điều này không hề có, mà chỉ là sự quy định tùy tiện của Âm lịch. Kết quả là bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là không có căn cứ khoa học, không có căn cứ thực tiễn.

  1. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ

Từ những thôn tin đã trình bày trong 9 mục nói trên, chúng tôi mạ muội đề xuất mấy kiến nghị.

  • Hoàn toàn bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch:

Ở Trung Hoa, năm 1911 Lãnh tụ cách mạng Tôn Trung Sơn, lãnh đạo thành công Cách mạng Tân Hợi, lật đổ chế độ phong kiến hàng ngàn năm, lên ngôi Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, đã ra lệnh chính quyền nhà nước chỉ dùng Dương lịch, và khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.

Ở Việt Nam tháng 3/1945, Thủ tướng Chính phủ Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã quyết định tương tự như Tổng thống Trung Hoa năm 1911.

Cũng ở Việt Nam, tháng 9/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định không dùng Âm lịch trong công vụ, nhưng không khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.

Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì trong Dương lịch hàng tháng ghi thêm Ngày Trăng Tròn. Việc thêm thông tin này không có gì khó, không phức tạp như làm Âm lịch, bởi vì Dương lịch đã biết chính xác thời gian Mặt trăng quay quanh Quả đất là khoảng 29 ngày rưỡi. Khi biết ngày trăng tròn trong tháng này, thì có thể biết chắc chắn ngày trăng tròn của tháng tiếp theo.

Người Việt Nam có tục làm Giỗ Tổ Tiên, với ý nghĩ rằng ngày Giỗ là ngày hàng năm tưởng nhớ người đã khuất, vào đúng ngày ra đi. Phong tục Việt Nam lại lấy ngày Âm lịch là ngày Giỗ, nhưng như đã phân tích ở trên, một năm Âm lịch không đúng với một năm của trời đất, ngày Giỗ của năm nay theo Âm lịch, và ngày Giỗ năm sau theo Âm lịch sai lệch nhau hơn 10 ngày của tự nhiên, nghĩa là người Việt mỗi năm làm Giỗ vào những ngày khác nhau, hàng năm phải đọc Âm lịch để biết ngày Giỗ là ngày nào.

Cho nên, nếu người Việt tự quy định lại, làm Giỗ Tổ Tiên vào ngày tháng Dương lịch của ngày từ trần, thì Lễ Giỗ mới đúng là Lễ kỷ niệm ngày cha ông đi xa.

Người Việt Nam rất coi trọng ngày Tết, coi ngày Tết là ngày Lễ lớn nhất và nhiều ý nghĩa nhất trong mỗi năm. Thực chất ngày Tết chỉ là ngày mở đầu của một năm, ngày mồng một tháng giêng. Từ khi người Việt Nam dùng Lịch của người Tàu, thì bắt đầu ăn Tết vào ngày mồng Một tháng Giêng của Lịch Tàu, ngày đó người Tàu gọi là Nguyên Đán (元旦, nghĩa là ngày thứ nhất), hoặc là Xuân Tiết (春節, 春节, nghĩa là ngày lễ Mùa Xuân), và người Việt Nam cũng gọi ngày Tết là Tết Nguyên Đán.

Như đã phân tích ở trên ngày tháng theo Âm lịch không gắn liền với trời đất, thiên nhiên, khí hậu, nên hàng ngàn năm nay dân tộc ta ăn Tết vào ngày vô định của thiên nhiên, trời đất.

Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì đương nhiên ngày Tết sẽ là ngày mồng Một tháng giêng Dương lịch, Ngày Tết cổ truyền vô cùng ý nghĩa của chúng ta vẫn giữ được nguyên vẹn là ngày Tết đầu năm, là Nguyên Đán, không mất mát thay đổi gì cả.

Nhân đây xin nói thêm một chút, năm 2005 GS.TS. Võ Tòng Xuân, một nhà khoa học lớn, một nhà yêu nước chân chính, một người đã có nhiều cống hiến lớn cho nền khoa học của Việt Nam và của nhân loại, đã đề xuất “bỏ ăn Tết Âm lịch, chỉ ăn Tết Dương lịch”. Ý tưởng này đã làm xôn xao ầm ĩ công luận, với 1 phe ủng hộ và 1 phe phản đối. Cho đến gần đây có người còn kiến nghị Nhà nước tước bỏ học hàm học vị của GS. Xuân; có người còn kiến nghị thu hồi lương hưu của Cụ.

Thực ra, nếu Cụ Xuân chỉ đề nghị “bỏ dùng Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch”, thì chắc mọi việc sẽ ổn thỏa, KHÔNG AI CÓ LÝ SỰ GÌ ĐỂ PHẢN ỨNG NGƯỢC !

  • Cải tiến một chút cho Dương lịch hiện nay.

Dương lịch hiện nay, như đã phân tích ở trên, là hết sức khoa học, hết sức hoàn chỉnh, hết sức thuận lợi cho người dùng.

Nhưng trong Dương lịch hiện nay có 1 điểm chưa thuận tiện. Đó là, mỗi năm có 365 ngày hoặc 366 ngày, trong khi mỗi tuần lễ có 7 ngày, mỗi năm có 365/7 ngày thành 52 tuần lễ, dư 1 ngày l, dẫn đến tình trạng, “Thứ trong tuần” của “Ngày, Tháng” năm nay sẽ lệch với “Thứ trong tuần” của cùng “Ngày, Tháng” của năm sau, ví dụ: ngày mồng một tháng Giêng năm 2023 là ngày Chủ nhật, thì ngày mồng một tháng Giêng năm 2024 sẽ là ngày Thứ hai. Điểm này làm mất tính đồng nhất của Dương lịch, Lịch năm này vẫn khác Lịch năm nọ, gây bất tiên cho người dùng.

Có một cách khắc phục, hết sức đơn giản, là quy định ngày cuối cùng của năm: ngày 31/12, sẽ được đặt tên bằng một tên riêng nào đó, không nằm trong bảy “Thứ” của tuần lễ, ví dụ đặt tên là “Thứ Cuối năm”, thì tuần lễ cuối cùng của năm sẽ có 8 ngày, và Ngày mồng Một tháng Một của năm sau sẽ cùng Thứ với Ngày mồng Một tháng Một của năm trước. Kết quả là, tất cả các Ngày Tháng của năm sau sẽ có cùng Thứ với tất cả Ngày Tháng của năm trước, và Dương Lịch sẽ là 1 bản đồng nhất cho muôn đời! Quy định tuần lễ cuối cùng có 8 ngày, 8 “Thứ”, không có gì là “khác thường”, vì giống như trong Dương lịch hiện nay, quy định năm nhuận có 29 ngày.

Với cải tiến này, phải có thêm quy định: “Ngày nhuận” 29/2 sẽ có tên “Thứ” riêng, ví dụ “Thứ nhuận”, chứ không phải là “Thứ” tiếp theo của Ngày 28/2, và như vậy, Tuần lễ có Ngày nhuận sẽ có 8 ngày.

HY VỌNG 2 KIẾN NGHỊ TRÊN SẼ ĐƯỢC MỌI NGƯỜI ỦNG HỘ!

N.B.P.

7 dấu hiệu ở tay cảnh báo sức khoẻ có vấn đề, từ viêm khớp đến thiếu chất, giảm tuổi thọ

BẠN NHÌN THẤY CHÚNG MỖI NGÀY, NHƯNG LẦN CUỐI CÙNG BẠN THỰC SỰ NHÌN VÀO TAY MÌNH LÀ KHI NÀO? MỌI THỨ TỪ MÓNG TAY DỄ BỊ GẪY ĐẾN NHỮNG CÁI NẮM TAY RUN RẨY ĐỀU CÓ THỂ BÁO HIỆU RẰNG SỨC KHỎE CỦA BẠN ĐANG CÓ VẤN ĐỀ.

Tay là một trong những bộ phận cơ thể đầu tiên có dấu hiệu lão hóa. Nhưng chúng cũng có thể chỉ ra một số vấn đề về sức khỏe.

Các bác sĩ nói rằng tình trạng của bàn tay chúng ta có thể là kết quả của một số thay đổi xảy ra ở bộ phận nào đó trong cơ thể của chúng ta.

Dưới đây, chuyên gia da liễu chỉ ra 7 dấu hiệu ở bàn tay mà ai cũng cần chú ý để duy trì sức khỏe của chính mình.

LÒNG BÀN TAY ĐỎ
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 1.

Lòng bàn tay màu đỏ (hoặc ban đỏ) có thể là dấu hiệu của các vấn đề về gan, đặc biệt nếu chúng ta ở độ tuổi trên 50.

David E. Bank, trợ lý giáo sư lâm sàng về da liễu tại New York, cho biết, thông thường, màu đỏ nằm ở rìa ngoài của lòng bàn tay. Lý do lòng bàn tay màu đỏ là một sự thay đổi trong sự cân bằng nội tiết tố gây giãn mạch máu. Viêm khớp dạng thấp cũng có thể là một lý do khiến lòng bàn tay có màu đỏ.

Nếu phát hiện những vùng màu đỏ trên tay, bạn chúng ta nên đến bệnh viện để tìm ra lý do thực sự cho nó.

LÒNG BÀN TAY ƯỚT ĐẪM MỒ HÔI
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 2.

Có một số lý do có thể khiến lòng bàn tay đổ mồ hôi như hoạt động đổ quá nhiều mồ hôi, căng thẳng…

Trong trường hợp bị bệnh nhiều mồ hôi, mồ hôi ra quá nhiều, chúng ta có thể thử chất chống mồ hôi mạnh. Chúng ta cũng có thể làm một số thủ thuật y tế để chống lại bệnh nhiều mồ hôi.

Cố gắng hạn chế uống rượu và học cách kiểm soát mức độ căng thẳng (ngồi thiền, “hít vào-thở ra”). Nếu không có vẻ có hiệu quả thì tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ.

MẤT ĐỘ NHẠY VÀ NGỨA RAN
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 3.

Đôi khi chúng ta thức dậy với cảm giác rằng chúng ta đã mất đi sự nhạy cảm trong một số phần của cơ thể và khi chúng ta di chuyển nó bắt đầu ngứa ran. Theo David E. Bank, thường thì chỉ vì chúng ta đã tác động nhấn mạnh vào dây thần kinh cảm giác trong một thời gian dài. Tình trạng ngứa ran là do thời gian mà các dây thần kinh cần để trở lại làm việc.

Trong một số trường hợp, các triệu chứng này xuất hiện ở tay có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn như chứng thoái hóa cổ tử cung, hội chứng ống cổ tay, huyết khối tĩnh mạch chi, chấn thương cánh tay, thiếu máu hoặc tiểu đường. Nếu thường xuyên bị mất độ nhạy ở tay mà không có lý do rõ ràng, hãy đến gặp bác sĩ.

TAY KHÔ
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 4.

Những lý do phổ biến nhất khiến da tay khô là mất nước và thiếu hụt estrogen mà đi đôi với thời kỳ mãn kinh.

Theo ông David E. Bank, để tránh mất nước, hãy uống đủ nước và sử dụng kem dưỡng ẩm tay. Bổ sung thêm cá, các loại hạt có dầu vào chế độ ăn uống. Đến bác sĩ để điều trị thay thế hormone, nó sẽ giúp chúng ta kiểm soát sự sụt giảm estrogen.

TAY RUN RẨY
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 5.

Chúng ta biết rằng run tay có thể là dấu hiệu của các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như bệnh Parkinson. Nếu lo lắng nghiêm trọng, hãy đến bệnh viện để được chẩn đoán chính xác nhất.

Nhưng David E. Bank cho rằng chứng run tay cũng có thể là do bạn đã uống quá nhiều caffein. Hạn chế uống cà phê và rượu mạnh vì chúng cũng có thể gây ra run rẩy. Các lý do khác có thể là lo âu và căng thẳng mạnh.

MÓNG TAY YẾU
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 6.

Móng tay yếu hoặc nứt có thể là triệu chứng thiếu kẽm. Kẽm thực sự quan trọng đối với sức khỏe của chúng ta, nó thúc đẩy việc chữa lành vết thương, giúp tế bào phân chia và tăng cường hệ miễn dịch.

David E. Bank cho biết kẽm có thể giúp tăng trưởng và đổi mới tế bào da. Cân nhắc thêm thực phẩm giàu kẽm vào chế độ ăn uống của bạn để cải thiện tình trạng này. Một số thực phẩm giàu kẽm bao gồm mầm lúa mì, yến mạch, các loại hạt và thịt.

SỨC MẠNH CẦM NẮM CỦA TAY KÉM
Xem tay có thể tiết lộ tình trạng sức khỏe - Ảnh 7.

Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet trên gần 140.000 người trưởng thành ở 17 quốc gia, việc nắm tay yếu có thể dẫn đến nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ cao hơn và cơ hội sống thọ thấp hơn. Các nhà nghiên cứu cho biết lực cầm nắm là một dấu hiệu của sức mạnh cơ bắp và thể lực tổng thể nên nó sẽ là một yếu tố dự báo tử vong tốt hơn so với huyết áp. Đồng thời họ khuyến nghị tập luyện sức mạnh toàn thân và tập thể dục nhịp điệu để giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

Theo Phụ nữ VN

Top 10 Sự kiện Chính trị – Xã hội Thế giới năm 2022: Bức tranh ảm đạm

2022 có thể coi là một năm bản lề trong lịch sử, đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên và bắt đầu một kỷ nguyên khác. Chiến tranh quy mô lớn quay trở lại châu Âu với các mối đe dọa tấn công hạt nhân, trong khi đối đầu Mỹ – Trung ngày càng gia tăng và nguy cơ Trung Quốc xâm lược Đài Loan trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. Có một số tin tốt trong 12 tháng qua, điển hình nhất là dịch COVID-19 đã dịu bớt ở nhiều quốc gia. Nhưng nhìn chung, năm 2022 mang đến nhiều tin xấu hơn là tin tốt.

Dưới đây là 10 sự kiện chính trị – xã hội nổi bật hàng đầu do Trí thức VN lựa chọn trong năm 2022. Nhiều sự kiện trong số này sẽ còn tiếp tục đến năm 2023 và có thể còn hơn thế nữa.

1- Nga xâm lược Ukraine
Sự kiện thế giới chấn động nhất của năm 2022 là cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine. Không an tâm về việc Ukraine ngày càng tiến gần với các thành viên NATO, ngày 24/2, Nga đã phát động cái mà họ gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” nhằm buộc “phi quân sự hóa và phi phát xít hóa Ukraine”.

Ít  người nghĩ rằng Ukraine có thể chống chọi lại sự tấn công dữ dội của Nga quá lâu, nhưng đã gần một năm trôi qua và nước này vẫn đang tiếp tục chiến đấu. Trước sự ngạc nhiên của Điện Kremlin và hầu hết các chuyên gia quân sự, Ukraine đã đứng vững trước cuộc tấn công dữ dội ban đầu và sau đó bắt đầu đẩy lùi các lực lượng Nga. Moscow phải từ bỏ nỗ lực chiếm Kyiv và chuyển sang chiếm vùng Donbass ở miền đông Ukraine. Vào tháng 9, người Ukraine đã phát động một cuộc phản công giải phóng thành phố Kharkiv ở phía đông bắc.

Đầu tháng 10, Nga tuyên bố chính thức sáp nhập 4 vùng của Ukraine vào lãnh thổ mình, điều mà Ukraine và phương Tây coi là phi pháp và không được thừa nhận. Chỉ vài tuần sau, các lực lượng Nga đã phải từ bỏ thành phố Kherson ở phía đông nam, một trong các vùng lãnh thổ vừa bị sáp nhập. 

Cuộc xâm lược của Nga đã gây ra sự chia rẽ địa chính trị sâu sắc trên thế giới. Trong khi các quốc gia phương Tây tập hợp lại sau Kyiv, Trung Quốc và hầu hết các quốc gia ở Nam bán cầu dường như đứng về phía Nga dù luôn nói rằng biên giới quốc gia là bất khả xâm phạm. 

Khi năm 2022 dần kết thúc, một lệnh ngừng bắn có vẻ khó xảy ra. Nga hiện đang nhắm mục tiêu vào cơ sở hạ tầng quan trọng của Ukraine, hy vọng rằng mùa đông sẽ làm được điều mà quân đội Nga không thể làm được – bẻ gãy ý chí của Ukraine. Trong khi đó, phần còn lại của thế giới phải vật lộn để thích nghi với những cú sốc giá cả, sự gián đoạn nguồn cung và tình trạng thiếu lương thực do chiến tranh của Nga gây ra.

2- Nữ hoàng Anh qua đời
Nữ hoàng Elizabeth II, quốc vương tại vị lâu nhất của Anh, đã qua đời vào ngày 8/9 tại Lâu đài Balmoral ở Scotland, hưởng thọ 96 tuổi – sự kiện khiến hàng triệu người Anh và dân chúng nhiều quốc gia trên thế giới thương tiếc.

Cái chết của bà đã kết thúc triều đại dài nhất trong lịch sử của Vương quốc Anh và là một trong những triều đại lâu nhất của bất kỳ nguyên thủ quốc gia nào. Elizabeth II trở thành Nữ hoàng sau cái chết của cha bà là Vua George VI vào ngày 6/2/1952, đã trị vì trong 70 năm, nhiều hơn 7 năm so với Nữ hoàng Victoria.

Sau khi bà qua đời, con trai cả của bà, Charles, cựu Hoàng tử xứ Wales, đã được tấn phong làm Vua và sẽ được chính thức gọi là Vua Charles III. Ở tuổi 73, Vua Charles sẽ là người lớn tuổi nhất trở thành Vua trong lịch sử nước Anh.

Lễ đăng quang của Vua Charles III dự kiến được tổ chức vào ngày 6/5/2023.

3- Căng thẳng Mỹ – Trung tiếp tục gia tăng
Cuộc cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ vấn tiếp tục diễn ra với cường độ cao trong năm 2022. Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền Joe Biden, được công bố vào tháng 10 năm 2022, đã nêu rõ quan điểm: “Trung Quốc nuôi dưỡng ý định và ngày càng có khả năng định hình lại trật tự quốc tế theo hướng có lợi cho sân chơi toàn cầu,” và Hoa Kỳ có ý định “chiến thắng trong cuộc cạnh tranh.” 

Hoa Kỳ chỉ ra việc Bắc Kinh quân sự hóa Biển Đông, ủng hộ cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine, nỗ lực đe dọa Đài Loan và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ tràn lan của họ là bằng chứng cho thấy Bắc Kinh là mối đe dọa to lớn đối với Mỹ, khu vực và thế giới. Phản ứng hiếu chiến của Trung Quốc đối với chuyến thăm của Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi tới Đài Loan vào tháng 8 đã làm nổi bật mối quan hệ căng thẳng đã gia tăng như thế nào giữa hai nước. 

Vào tháng 10, chính quyền Biden đã thực hiện một bước quan trọng để hạn chế sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách từ chối nước này tiếp cận chip bán dẫn tiên tiến và công nghệ cần thiết để thống trị các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo. Ông Biden cũng tiếp tục kêu gọi bạn bè và đồng minh có lập trường cứng rắn tương tự đối với Trung Quốc, bao gồm Nhật Bản và Hà Lan. 

Vào giữa tháng 11, Tổng thống Biden và Chủ tịch Tập Cận Bình đã gặp nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh G-20, hứa hẹn sẽ giảm căng thẳng và cam kết hợp tác trong các lĩnh vực như biến đổi khí hậu và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, sự đối đầu vẫn sẽ là chủ đề chính thống trị mối quan hệ trong nhiều năm tới.

4- Đại dịch COVID-19 dần khép lại (trừ Trung Quốc)
Đại dịch Viêm phổi Vũ Hán (COVID-19) cuối cùng cũng kết thúc tại hầu hết các nước trên giới giới. Ba năm sau khi COVID bùng phát, thế giới dường như đã xoay chuyển tình thế đối với đại dịch toàn cầu đầu tiên trong một thế kỷ. Vào tháng 9, người đứng đầu Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố rằng sự kết thúc của đại dịch “đang ở trước mắt”. Thực tế đó thể hiện rõ qua việc nhiều quốc gia đã bãi bỏ lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại và các biện pháp liên quan mà họ đã áp đặt. 

Tuy nhiên, một ngoại lệ ở xu hướng này là Trung Quốc. Với việc theo đuổi chính sách không khoan nhượng Zero COVID, Trung Quốc đã áp đặt các biện pháp xét nghiệm diện rộng và phong tỏa hà khắc bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào bùng phát dịch bệnh. Đến cuối năm 2022, người dân Trung Quốc bắt đầu nổi dậy chống lại điều mà các quan chức Trung Quốc ca ngợi là thành công lớn của họ. Các cuộc biểu tình lớn diễn ra tại nhiều thành phố và thậm chí được so sánh với một “Thiên An Môn thứ 2”, làm rung động tới chính quyền trung ương, 

Vào tháng 12, Bắc Kinh bắt đầu nới lỏng các hạn chế về COVID. Tuy nhiên, đất nước đang phải vật lộn với số ca nhiễm bệnh tăng vọt, bệnh viện quá tải, thuốc men khan hiếm… Dự kiến số người chết do COVID-19 ở Trung Quốc sẽ còn tăng trong năm 2023.

5- Ông Tập tiếp tục lãnh đạo Trung Quốc với nhiệm kỳ 3 chưa từng có
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào ngày 23 tháng 10 đã củng cố vị trí của mình với tư cách là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của quốc gia kể từ Mao Trạch Đông sau khi được bầu lại cho nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và theo mặc định, là Chủ tịch nước.

Ông Tập, 69 tuổi, trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của ĐCSTQ cầm quyền sau người sáng lập Mao Trạch Đông tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba, với triển vọng cai trị Trung Quốc trọn đời. Nhiệm kỳ thứ ba của Tập Cận Bình đã chấm dứt quy tắc đã tồn tại hàng thập kỷ mà những người tiền nhiệm của ông – ngoại trừ Mao – tuân theo, về việc nghỉ hưu sau nhiệm kỳ 10 năm.

Việc ông Tập nổi lên với tư cách là Chủ tịch Trung Quốc, lãnh đạo ĐCSTQ và người đứng đầu quân đội, với triển vọng cầm quyền suốt đời, được nhìn nhận với sự lo lắng và bất an, khi nhà nước độc đảng dần dần trở thành nhà nước một lãnh đạo. 

Danh sách 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa mới cũng được công bố, trong đó những người được coi là “không thân tín” của ông Tập đã bị gạt ra.

Với sự trỗi dậy của ông Tập Cận Bình, sự thù địch của Trung Quốc với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm cả Ấn Độ, cũng tăng lên. 

6- Bầu cử giữa kỳ Mỹ: “Làn sóng đỏ” không xuất hiện
Từ đầu cuộc bầu cử, truyền thông và các nhà quan sát đã báo hiệu về một “làn sóng đỏ” trong bối cảnh cử tri lo ngại về kinh tế và tỷ lệ ủng hộ đối với Tổng thống Joe Biden giảm kỷ lục. Tuy nhiên, sau Ngày bầu cử, “làn sóng đỏ” dường như đã chuyển hướng và không đổ bộ. Mặc dù phe Dân chủ đã chịu tổn thất, nhưng đã thành công trong việc ngăn được “làn sóng đỏ” của đảng Cộng hòa. 

Kết quả bầu cử cho thấy đảng Dân chủ tiếp tục kiểm soát Thượng viện với tỷ lệ 51/49 (giành thêm 1 ghế), mất Hạ viện với tỷ lệ 213/222 (mất 9 ghế) và thêm 2 ghế trong cuộc đua Thống đốc bang, với tổng cộng 24 ghế. Trong 40 năm qua, đây là lần đảng Dân chủ mất ít ghế tại Hạ viện nhất trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đầu tiên của bất cứ tổng thống thuộc Đảng Dân chủ nào. Đảng Dân chủ cũng đã có cuộc đua thống đốc bang thành công nhất kể từ năm 1986.

Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ lần này, cựu Tổng thống Donald Trump đã chứng thực 290 thành viên Đảng Cộng hòa, 92% trong số đó đã thắng cử sơ bộ. Điều này cho thấy rõ ảnh hưởng lớn của ông vẫn hiện hữu trong Đảng Cộng hòa. Hôm 15/11, ông đã chính thức tuyên bố bắt đầu chiến dịch tranh cử lần thứ ba vào Nhà Trắng.

7- Biểu tình quy mô lớn tại Iran: “Phụ nữ, cuộc sống, tự do!” 
Các nhà lãnh đạo của Cộng hòa Hồi giáo Iran vào năm 2022 đã đối mặt với thách thức lớn nhất liên quan đến sự cai trị của họ kể từ khi lên nắm quyền vào năm 1979. 

Các cuộc biểu tình bắt đầu vào tháng 9 khi “cảnh sát đạo đức” ở Tehran bắt giữ Mahsa Amini, một phụ nữ người Kurd gốc Iran 20 tuổi đến thăm thủ đô, vì không che tóc đúng cách. Cô gái chết trong khi bị cảnh sát giam giữ. Khi tin tức về cái chết của cô lan rộng, hàng nghìn người Iran đã xuống đường biểu tình lên án hành vi ngược đãi phụ nữ của Iran. Các cuộc biểu tình nhanh chóng lan rộng khắp đất nước khi người dân Iran thuộc mọi thành phần xã hội, giai cấp và sắc tộc tuần hành với khẩu hiệu: “Phụ nữ, cuộc sống, tự do!” 

Các nhà lãnh đạo Iran đã đổ lỗi cho Hoa Kỳ và Israel dàn dựng các cuộc biểu tình, mặc dù nguyên nhân chính là đàn áp chính trị, tham nhũng và quản lý kinh tế yếu kém của chính phủ. Chính phủ đã cố gắng dập tắt các cuộc biểu tình bằng vũ lực. Đến tháng 12, lực lượng an ninh Iran đã giết tới 450 người biểu tình trên đường phố và chính phủ đã bắt đầu hành quyết công khai những người biểu tình bị kết án trong các phiên tòa gấp rút vì tội chống lại nhà nước. 

Sự kiên trì của các cuộc biểu tình bất chấp sự đàn áp của chính phủ đã làm dấy lên suy đoán rằng Iran đang ở giai đoạn đầu của một cuộc cách mạng mới. Nhưng cho đến nay, chế độ này vẫn chưa có dấu hiệu tan rã, và không có ai nổi lên để lãnh đạo phe đối lập. 

8- Triều Tiên phóng số lượng kỷ lục tên lửa trong năm 2022
Trong năm 2022, Triều Tiên đã tiến hành một số vụ thử tên lửa nhiều kích cỡ chưa từng có trong năm nay, bao gồm cả tên lửa đạn đạo xuyên lục địa ICBM có khả năng vươn tới đất liền Hoa Kỳ, bất chấp các lệnh cấm và lệnh trừng phạt quốc tế.

Các nhà phân tích cho hay tốc độ thử nghiệm trong năm nay cho thấy Bình Nhưỡng đang tuân theo một kế hoạch đầy tham vọng mà Kim Jong Un đã đặt ra vào năm 2021 để trở thành một cường quốc trong lĩnh vực này.

Triều Tiên mới đây cũng tuyên bố đã thử nghiệm thành công một động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, một sự phát triển có thể giúp chế độ của Kim có thể bắn một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) nhanh hơn và đáng tin cậy hơn trong tương lai.

Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol bày tỏ lo ngại về “cuộc chạy đua” của Triều Tiên nhằm thúc đẩy các chương trình hạt nhân và tên lửa, đồng thời kêu gọi sự hợp tác của cơ quan Liên Hợp Quốc để ngăn chặn Bình Nhưỡng thực hiện thêm các hành động khiêu khích.

Các quan chức Hàn Quốc và Mỹ cho biết Triều Tiên đã hoàn tất việc chuẩn bị cho một vụ thử hạt nhân tiềm năng, đây sẽ là vụ thử đầu tiên kể từ năm 2017

9- Dân số thế giới vượt mốc 8 tỷ người

Dân số thế giới đã chạm mốc 8 tỷ vào ngày 15/11, với Ấn Độ là quốc gia đóng góp lớn nhất cho cột mốc này, theo Liên Hợp Quốc. Vinice Mabansag, cô gái sinh ra ở Tondo, Manila, được coi là người thứ 8 tỷ (mang tính biểu tượng).

Thế giới phải mất 11 năm để thêm một tỷ người vào dân số, với tốc độ tăng trưởng dần dần chậm lại. Theo Liên Hợp Quốc, có thể mất 15 năm để đạt được con số 9 tỷ và có thể phải đến năm 2080 mới đạt 10 tỷ. 

Đối với mức tăng từ 7 lên 8 tỷ, khoảng 70% dân số tăng thêm là ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp. Liên Hợp Quốc cho biết, đối với mức tăng từ 8 lên 9 tỷ người, hai nhóm này dự kiến sẽ chiếm hơn 90% mức tăng toàn cầu.

Hơn một nửa mức tăng dân số toàn cầu dự kiến đến năm 2050 sẽ tập trung ở 8 quốc gia: Congo, Ai Cập, Ethiopia, Ấn Độ, Nigeria, Pakistan, Philippines và Tanzania.

Ấn Độ trong năm 2023 được dự đoán sẽ vượt qua Trung Quốc để trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới. 

10- Châu Mỹ La-tinh chuyển dịch sang cánh tả
Năm 2017, các chính trị gia cánh hữu thống trị nền chính trị ở Mỹ Latinh. Nhưng bắt đầu từ năm 2018 với cuộc bầu cử của Andrés Manuel López Obrador ở Mexico, gió đã đổi chiều. Ứng cử viên trung tả Alberto Fernández tuyên bố đắc cử Tổng thống Argentina vào năm 2019. Ứng viên theo Chủ nghĩa xã hội Luis Arce đắc cử Tổng thống Bolivia năm 2020. Năm ngoái, ứng viên Pedro Castillo theo Chủ nghĩa xã hội trở thành Tổng thống Peru và Gabriel Boric theo cánh tả trở thành Tổng thống Chile. 

Xu hướng chuyển mình theo cánh tả tiếp tục vào năm 2022 khi nhà CNXH dân chủ Xiomara Castro tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Honduras, cựu chiến binh nổi dậy Gustavo Petro đã làm nên lịch sử khi trở thành Tổng thống cánh tả đầu tiên của Colombia và cựu Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva trở lại vị trí Tổng thống bằng cách đánh bại Tổng thống cánh hữu đương nhiệm Jair Bolsonaro. 

Các nhà lãnh đạo cánh tả hiện đều đang đối mặt với các thách thức trong việc giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế, trong bối cảnh suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu, lãi suất tăng, lạm phát gia tăng và hậu quả liên tục của COVID. Giống như Hoa Kỳ, sự phân cực chính trị ngày càng trở nên sâu rộng trong khu vực. 

Ok Xuân Lan / Trí thức VN

Thấy gì từ vụ án “chuyến bay giải cứu”?

Sau khi khởi tố ngày 28 tháng Giêng 2022, đến nay vụ án “chuyến bay giải cứu” ở Việt Nam đã có 37 cán bộ của tám bộ ngành trung ương, địa phương và doanh nghiệp bị khởi tố, bắt tạm giam với cáo buộc đưa/nhận/môi giới hối lộ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ trong thi hành công vụ. Vụ án này cho thấy điều gì?

THÊM NHIỀU “CỦI GỘC”

Diễn biến mới nhất là hôm qua 22 tháng Mười Hai, Phó Chủ tịch Hà Nội Chử Xuân Dũng và cựu Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Hồng Nam vừa bị bắt tạm giam để điều tra về những sai phạm liên quan đến vụ án nói trên. 

Trước khi bị bắt, ông Chử Xuân Dũng là Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Phó trưởng ban rồi sau đó là Trưởng ban Ban chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của thủ đô.

Ông Vũ Hồng Nam, 59 tuổi, có 34 năm làm việc trong ngành ngoại giao, từng là Trợ lý Bộ trưởng, kiêm Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao sau đó được bổ nhiệm là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trước khi được bổ nhiệm làm Đại sứ toàn quyền của Việt Nam tại Nhật Bản từ năm 2018.

Từ trái sang: Vũ Hồng Nam, Chử Xuân Dũng, Phạm Bích Hằng vừa bị khởi tố và tạm giam hôm 22 tháng Mười Hai 2022. Ảnh baochinhphu.vn

Trước đó một ngày, hôm 21 tháng Mười Hai, Ủy ban Kiểm tra trung ương (UBKT) của đảng Cộng sản Việt Nam ra thông cáo báo chí cho biết đã đề nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đối với Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Một số quan chức cao cấp khác của ngành ngoại giao cũng mới bị khởi tố tạm giam gồm các ông Nguyễn Hồng Hà, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Osaka, Nhật Bản; Lý Tiến Hùng, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Nga; Nguyễn Lê Ngọc Anh, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia; Vũ Ngọc Minh, nguyên cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Angola.

Ngoài ra, Uỷ ban Kiểm tra trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) cũng đã thông báo cách chức tất cả các chức vụ trong đảng nhiệm kỳ 2020 – 2025 của các ông Trần Việt Thái, Đại sứ Việt Nam tại Malaysia; cảnh cáo ông Nguyễn Hoàng Linh, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia; khiển trách các ông Phạm Sanh Châu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ; Vũ Bình, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Fukuoka, Nhật Bản; Phạm Như Ý, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ.

Như vậy sau 11 tháng điều tra, cái “lò đốt tham nhũng “ của ông Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã hốt về một khối củi rất lớn, trong đó có nhiều củi gộc, từ cái gọi là “chuyến bay giải cứu” đầy tai tiếng. Ngành Ngoại giao “đóng góp” nhiều củi nhất, từ củi gộc là Thứ trưởng Tô Anh Dũng, Cục trưởng Cục Lãnh sự Nguyễn Thị Hương Lan cho đến những cán bộ cấp thấp tại các lãnh sự quán ở nước ngoài.

Nguồn cung cấp củi không chỉ từ Bộ Ngoại giao mà cả từ Ban Đối ngoại trung ương đảng, Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Y tế, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội – những cơ quan hét ra lửa, mửa ra khói trong guồng máy cai trị của nhà nước cộng sản. Truyền thông trong nước cho biết, cuộc điều tra đang được mở rộng sang các tỉnh thành khác và có triển vọng trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều cán bộ của đảng và chính quyền được nêu tên trong các thông báo khởi tố, tạm giam hoặc xử lý kỷ luật.

Một chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ châu Âu về nước tháng Bảy 2020. Ảnh Bộ Ngoại giao VN/VNExpress.

Chuyến bay giải cứu là một cụm từ chỉ hoạt động phối hợp của năm bộ (Ngoại giao, Công an, Giao thông Vận tải, Y tế, Quốc phòng) trong một chiến dịch vận chuyển công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước trong thời gian cao điểm của dịch COVID năm 2020 đến giữa năm 2021. Việc phối hợp đưa công dân về nước từng được guồng máy tuyên truyền của đảng CSVN ca tụng tận mây xanh, cho đó là một hoạt động thể hiện sự quan tâm sâu sắc của đảng và nhà nước, “bay vào tâm dịch” để đón đồng bào về nước, một hành động đầy “tự hào, ngạo nghễ”, “không ai bị bỏ lại phía sau”. Tính ra, từ khi bắt đầu tháng Mười Hai 2020 đến khi chấm dứt, chiến dịch “giải cứu” này đã tổ chức được gần 2,000 chuyến bay, đưa 200,000 người Việt ở 60 quốc gia về nước, cách ly để phòng dịch một thời gian sau đó cho họ về nhà. 

Theo trung tướng Tô Ân Xô, phát ngôn viên Bộ Công an, mỗi chuyến bay giải cứu như vậy cơ quan tổ chức thu lợi được khoảng 2 tỷ đồng ($80,000).

Tổ chức đưa công dân từ các vùng dịch về nước bằng máy bay là chính sách chung của nhiều quốc gia sau khi dịch COVID bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc cuối năm 2019, đầu 2020. Nhưng có thể nói Việt Nam là quốc gia tổ chức nhiều chuyến bay nhất, đưa về nước được nhiều nhất những sinh viên, người lao động tha hương và cả những người đi công tác, du lịch bị mắc kẹt vì chính sách đóng cửa biên giới của nhiều nước. Một tuần trước khi vụ án bị khởi tố, bà Lê Thị Thu Hằng, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam (nay là thứ trưởng), khẳng định: “Chủ trương đưa công dân Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn về nước là chủ trương đúng đắn và nhân đạo của đảng và Chính phủ Việt Nam. Điều này cần đặt trong bối cảnh trong nước có những thời điểm hết sức khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch bệnh”.

Tuy vậy, Việt Nam cũng là nước trục lợi bỉ ổi nhất chính sách đưa công dân về nước tránh dịch. Các bộ ngành tham gia chương trình đã cấu kết với nhau tổ chức các đường dây thực hiện các chuyến bay giải cứu: chỉ định các công ty đứng ra lo thuê máy bay, khách sạn, mua sắm trang bị bảo hộ trong khi đặt ra rất nhiều thủ tục hết sức nhiêu khê và rắc rối cho người muốn trở về, từ đó buộc họ phải trả một mức chi phí trên trời để được hồi hương. Vào lúc cao điểm, chi phí mà một người về phải đóng cho các công ty này lên tới 300 triệu đồng ($12,000). Theo điều tra, các bị can là quan chức đã nhận hối lộ hàng chục tỷ đồng và hàng ngàn đô la Mỹ do các doanh nghiệp hối lộ để được chỉ định “thầu” công việc giải cứu! 

Thậm chí những kẻ chủ mưu còn dùng các chuyến bay “giải cứu” để nhập cảng lậu về phi trường Cam Ranh hàng chục thùng rượu whisky Maccalan đắt tiền và thuốc lá điện tử, trị giá gần chục tỷ đồng  như thông tin mà Cục Hải quan Khánh Hòa vừa công bố.

Cũng như vụ án bộ xét nghiệm Việt Á, quy mô của vụ án “chuyến bay giải cứu” chứng tỏ đây không phải là một vụ tham nhũng theo nghĩa bình thường mà là một thủ đoạn lũng đoạn nhà nước, có sự cấu kết chặt chẽ giữa nhiều cơ quan có quyền lực và nhóm doanh nghiệp bất lương để trục lợi trên nỗi đau khổ của đồng loại. 

Hành vi trục lợi đó được tổ chức chặt chẽ, có sự phối hợp từ trong ra ngoài nước, phân công phân nhiệm rạch ròi và ăn chia chắc cũng rạch ròi như thế. Việc phơi bày những hành vi trục lợi đó, truy tố những kẻ chủ mưu, cho thấy sự lũng đoạn đã lên tới cấp rất cao trong guồng máy cai trị và các ngôn từ bóng bẩy về nhân văn nhân đạo chỉ là những tấm áp phích che đậy những thủ đoạn tàn độc của kẻ có quyền lực. 

Những ai còn ảo tưởng về tính chất “nhân văn” của chế độ cộng sản cầm quyền ở Việt Nam cần nhìn ra phía sau những tấm áp phích rách ấy, đằng sau những lời xảo ngôn bóng bẩy ấy để thấy rõ thực chất bất nhân và phản động của một guồng máy cai trị chỉ biết tận dụng quyền lực để ních cho đầy túi tham.

Những người ủng hộ chính quyền và đảng CSVN cho rằng, cuộc khởi tố các vụ án Việt Á, chuyến bay giải cứu, vụ công ty AIC đang được xét xử… với hàng chục quan chức cao cấp cỡ thứ, bộ trưởng bị bắt giam là “minh chứng rõ ràng cho tinh thần đấu tranh triệt để với những cán bộ suy thoái, biến chất dù đang lẩn trốn ở đâu, đang ngồi chiếc ghế nào” như nhận định của một tờ báo ở Sài Gòn.

Nhưng có thật như vậy không? Nếu đấu tranh triệt để với những cán bộ suy thoái biến chất thì e rằng Việt Nam sẽ không còn cán bộ nào bên ngoài song sắt nhà tù.

Đặt các vụ án nổi cộm đó vào bối cảnh cuộc tranh giành quyền lực triền miên ở Ba Đình, nhiều nhà quan sát nhận ra một cuộc tỷ thí một mất một còn giữa các phe phái nhằm chiếm lấy quyền lực tối cao trong đảng CSVN khi ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng phải từ bỏ chức vụ trong một ngày không xa nữa. Phe đảng CSVN với lực lượng công an “còn đảng còn mình” đang sử dụng hết công cụ bạo lực của họ để đánh bật phe chính phủ, loại trừ dần những tay chân của Nguyễn Xuân Phúc (chủ tịch nước), Phạm Minh Chính (thủ tướng), Phạm Bình Minh (phó thủ tướng), Vũ Đức Đam (phó thủ tướng) tạo điều kiện cho Tô Lâm (bộ trưởng công an), Vương Đình Huệ (chủ tịch quốc hội)… vượt lên giành thế thượng phong.

Nói như thế không có nghĩa là đánh giá phe chính phủ tốt hơn phe đảng, mà chỉ nhằm khẳng định rằng các vụ án “rúng động” trên truyền thông hiện nay chỉ là một phần trong cuộc tranh giành giữa các phe phái mà phe nào thắng thì nhân dân cũng bại như một ý thơ của Nguyễn Duy.

Điều may mắn là qua các vụ án như vụ “chuyến bay giải cứu”, người dân có cơ hội thực mục sở thị cái bộ mặt bẩn thỉu của các quan chức cao cấp, cái bản chất thối nát của chế độ và có thêm dũng khí đấu tranh cho một sự thay đổi tất yếu phải đến.

Hiếu Chân / Saigon Nhỏ