NGÀI MINH TUỆ SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

BS Võ Xuân Sơn

Theo thông tin trên mạng, trang Wiki vừa mới sắp xếp lại, thì Ngài Thích Minh Tuệ là người thứ hai trên thế giới này, sau Ngài Ca Diếp, tu trọn các hạnh đầu đà. Như vậy, Ngài Minh Tuệ đã trở thành nhân vật Quốc tế của Đạo Phật.

Trên thực tế, chỉ sau mấy ngày công bố nơi ẩn tu của Ngài Minh Tuệ, vùng đất vốn vắng vẻ, yên tĩnh ở Gia Lai đã trở nên huyên náo, ồn ào với hàng ngàn người đến để đảnh lễ, hoặc đơn giản, chỉ để được nhìn thấy Ngài. Ngày hôm qua, ngày thứ hai Ngài Thích Minh Tuệ đi khất thực, có hơn 3.000 người đến gặp thầy. Sáng nay, nghe nói kẹt đường ở khu vực Ngài đi khất thực cỡ 5km.

Mới chỉ có 3 ngày Ngài Minh Tuệ đi khất thực, mà Gia Lai đã “cháy” vé, cả máy bay và các phương tiện thông thường, “cháy” phòng khách sạn, “cháy” cả quán ăn… Nếu hiện tượng này kéo dài thêm một thời gian nữa, và chính quyền không áp dụng các biện pháp hạn chế, chắc chắn sẽ có việc gia tăng số chuyến bay, cũng như các tuyến du lịch đến Gia Lai, và các hình thức lưu trú tạm thời sẽ phát triển nhanh.

Có thể nói, dù bây giờ Ngài Minh Tuệ có ẩn tu ở đâu trong đất nước Việt Nam này, thì nơi đó sẽ ngay lập tức trở thành nơi thu hút khách thập phương. Sự ồn ào, náo nhiệt, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình tu tập của Ngài Minh Tuệ và các đồng môn nếu có. Về mặt nhà nước, thì việc tụ tập đông người, ngoài mặt tích cực là phát triển du lịch địa phương, cũng sẽ mang lại những phiền phức cho an ninh, trật tự của khu vực.

Song song với nhu cầu tín ngưỡng và lòng ngưỡng mộ Ngài Thích Minh Tuệ, chẳng ai dám chắc rằng trong dòng người đang đổ về Gia Lai, không có những kẻ chỉ muốn lợi dụng hình ảnh của Ngài Minh Tuệ để tác động vô những việc khác, cho những mục tiêu khác. Thậm chí, không loại trừ khả năng có những kẻ muốn tiếp cận Ngài với mục đích ám hại Ngài.

Để cân đối giữa nhu cầu tu tập của Ngài Thích Minh Tuệ, và nhu cầu tín ngưỡng của hàng triệu người dân Việt Nam liên quan đến quá trình tu tập của Ngài Thích Minh Tuệ, cần phải có một chính sách khéo léo, mềm dẻo và linh hoạt. Nhưng dù có biện pháp nào, thì cần phải hiểu, Ngài Minh Tuệ đã là người có ảnh hưởng mang tính toàn cầu.

Đấy là chưa kể, vấn đề của Ngài Minh Tuệ, cùng các đồng môn của Ngài (nếu có), liên quan đến một vấn đề hết sức nhạy cảm về chính trị hiện nay: Tự do tín ngưỡng. Hôm nay, nghe nói một số người đang học tu theo cách của Ngài Minh Tuệ đã đến Gia Lai nhưng chưa được phép gặp Ngài Minh Tuệ. Mặc dù hết sức thông cảm với chính quyền, nhưng tôi đoán rằng, việc ngăn chặn này sẽ khó có hiệu quả, thậm chí có thể gây ra tác dụng ngược.

Việc đưa Ngài Thích Minh Tuệ về Gia Lai, một vùng đất đã có sẵn những vấn đề nhạy cảm về chính trị, lại làm tăng lên những khó khăn cho chính quyền trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh. Tất nhiên, tất cả những vấn đề này chắc chắn sẽ được chính quyền giải quyết. Chúng ta chờ đợi xem chính quyền sẽ giải quyết như thế nào. Hi vọng không có các biện pháp cực đoan, dẫn đến các phản ứng không mong đợi và khó lường.

Việc anh công an Gia Lai gợi ý Ngài Minh Tuệ hành hương đến Ấn Độ có thể là một giải pháp. Tuy nhiên, nếu Ngài Thích Minh Tuệ đến Ấn Độ, thì Ngài có thoát khỏi những khó khăn như đang gặp ở Việt Nam không? Hoặc có những khó khăn mới, do sự đa dạng về tôn giáo ở Ấn Độ, mà trong đó có những tôn giáo khá mới lạ đối với người Việt Nam.

Dù tình hình diễn biến theo hướng nào, thì người thiệt thòi nhất trong chuyện này, chính là Ngài Minh Tuệ. Đó là kiếp nạn lớn của Ngài, khi chọn tu tập theo phương thức khó nhất là hạnh Đầu Đà.

Sư Thích Minh Tuệ đã được nhìn thấy trên VTV

NGOẠI TRUYỆN #9-6

Alex Alpha

Vậy là sư Minh Tuệ đã xuất hiện chính thức trên truyền hình VTV1, Đài truyền hình QG VN. Sự việc này đã làm dấy lên nhiều bàn luận. Tất nhiên với lòng tham vô đáy của chúng sinh thì không bao giờ là đủ. Đa phần mọi người đã cảm thấy yên tâm hơn về tình trạng cũng sư con đường ẩn tu của sư Minh Tuệ. Tuy nhiên, một bộ phận vẫn đưa ra những thuyết âm mưu về sự việc. Điều này cũng bình thường thôi, vì chúng ta sống trong thế giới âm dương mà. Cứ một điều sinh khởi là lập tức có ít nhất 2 cách nhìn về điều đó. Mãi mãi là như vậy, cho nên chư Phật mới khuyên là chúng sinh ơi, đó không phải sự thật đâu, hãy tu hành để nhìn ra sự thật.

Một con dao cắt đậu phụ thì hai mặt đều không thể cùng sạch được, đó là lẽ cơ bản của cõi giới âm dương. Và nhìn lại sự việc của sư Minh Tuệ. Sư chẳng hề thù oán với ai, nhưng sư gián tiếp đụng chạm vào quyền lợi của bên này bên kia, cho nên họ không ngừng tung tin sai biệt, họ làm việc này không hề chùn tay mà nó nhẹ nhàng như một bản năng gốc vốn có từ ngày họ bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng. Cho nên sẽ mãi mãi là như vậy. Có cho gặp người thật cũng lại bảo diễn viên đóng thế.

Sau đây là những điều có thể rút ra.

CÓ CHÍNH LUẬN NÊN COI NHƯ CÓ CHÍNH DANH

Thứ nhất, sự việc sư Minh Tuệ biến mất đã có câu trả lời rõ ràng. Việc sư ở đâu, rồi cái cây bị cắt ghép hay không, đều không quan trọng bằng việc Đài Truyền hình QG đứng lên đưa tin. Bởi vì như vậy, là bên chức năng chính thức tuyên ngôn rằng chúng tôi biết sư Minh Tuệ ở đâu và có thể gặp được sư Minh Tuệ.

Sự việc trong thung lũng Kim Phụng, cho dù các bạn đồn đoán là có mấy trăm người của Hắc Y Đoàn đêm đó đưa các sư đi, thì cho đến nay cũng chẳng có thông tin gì chính thức. Mặc dù là trong hồ sơ mật có lưu, nhưng không có nghĩa là phải nói cho các bạn. Sự việc VTV đưa tin, ít nhất đã đưa sự kiện khỏi những trang hồ sơ mật nếu có.

Hoặc hoàn toàn Hắc Y Đoàn là do người địa phương hoặc bất kỳ lực lượng nào, chẳng có gì là khẳng định chính xác. Kiểu như chúng ta đã quá quen với việc hàng ngày được bố mẹ cung cấp đồ ăn chỗ ở thậm chí thông tin, mà quên đi mất là có những thứ là bố mẹ có trách nhiệm, nhưng cũng có những thứ là bố mẹ tự nguyện vui vẻ cho chúng ta mà thôi.

Vu Cấm khi truy sát hai mẹ con hậu duệ của Lưu Biểu có vươn cao ngọn giáo hô lên: Ta phụng mệnh Thừa tướng đến giết mẹ con mày. Đây là một việc tuyên ngôn chính danh, vừa là giữa ba quân, vừa là sau này có xuống ngục A Tỳ thì công tội của kiếp người cũng rõ ràng. Ta phụng mệnh Thừa tướng (tức là Tào Tháo) chứ không phải do ta làm vì ta thích thế. Cho nên việc truy sát này do Tào Tháo chịu trách nhiệm. Đây là chi tiết ít người đọc Tam Quốc để ý.
Các lực lượng Hồi giáo sau khi đánh bomb có tuyên ngôn rõ ràng và nhận trách nhiệm, cũng lý giải lý do lý tưởng vì sao họ làm thế.

Cho nên nếu như ngày hôm qua VTV không đưa tin, thì về bản chất việc sư Minh Tuệ biến mất chẳng có gì là chính danh hay chính luận. Việc sư có đến trụ sở để làm CCCD cũng chẳng nói lên là ai sẽ chịu trách nhiệm về sự biến mất của sư. Sư có thể làm xong CCCD và tự đi về. Bên làm CCCD cũng chẳng có trách nhiệm phát biểu gì về việc vì sao sư biến mất.

Cho nên hiện nay việc sư Minh Tuệ xuất hiện trên VTV là một bước tiến lớn về sự an toàn của sư. Bởi vì một khi đã được đưa ra chính luận, thì sự việc sẽ có diễn biến khác. Còn nếu mãi mãi là bóng đêm bao phủ như việc của Tổ Minh Đăng Quang trước đây, lại là chuyện khác.

Từ đó thì không có chuyện ám hại hay gì cả, bởi vì nếu có, thì người ta không bị rảnh mà đưa lên VTV rồi lại phải chịu trách nhiệm về sự việc. Nếu không đưa lên, mãi mãi câu chuyện trong im lặng, các bạn có cớ để đòi hỏi chắc.

BẢO KIẾM TRONG VỎ AN TOÀN

Cũng có ghi nhận là cách mà VTV nói về sư Minh Tuệ đã dịu dàng nhẹ nhàng hơn lần đầu. Theo tôi thì đơn giản là sự việc lộn xộn của đám đông đã được ổn định. Còn lần đầu đưa tin, họ đưa với một tinh thần rất lo lắng là không biết còn cái gì có thể mất kiểm soát một cách bùng nổ nữa không. Còn hiện nay, bảo kiếm đã nằm trong vỏ, bảo châu đã nằm trong hộp rồi, thì chúng mình cứ nhẩn nha câu chuyện thôi. Xét về góc độ người quản lý xã hội, cũng có thể hiểu được. Nếu là người chẳng có trách nhiệm gì trong câu chuyện thì lời nói ra nó dễ, vì cứ nói cho xong là xong. Còn có tí trách nhiệm, kể cả là cấp thôn chứ đừng nói cấp xã họ cũng phải có cân nhắc. Đấy là lý do vì sao bàn về BTC thì dễ, cái lúc xuống tiền tiến vào thị trường lại khó.

Đó mới là chuyện đáng bàn nhất của ngày hôm qua. Còn clip nào chẳng có cắt ghép để đúng thời lượng thậm chí ánh sáng. Nói về sản phẩm biên tập thì chỉnh sửa là bình thường. Việc để nữ phóng viên chung khung hình thì các bạn lại bảo là ối dồi ôi, không được đứng gần sư nha cô kia. Còn nếu để chung khung hình mà cách xa thì các bạn lại bảo là xa thế có nhìn rõ cái gì đâu.

Mấu chốt lớn nhất đã được xác lập, thì sau đây là vài chuyện xung quanh.
Đầu tiên, không rõ có bị chỉnh sửa không nhưng rõ ràng con mắt thứ 3 của sư đã không còn thấy rõ như trước, và nó chỉ là một vệt mờ. Xương trán không thể khép lại nhanh như vậy. Và mắt cũng không có lý do gì phải khép lại. Còn nếu có khép lại thật, do chính sư Minh Tuệ khép, chứ không phải chỉnh hình, thì không bao giờ có chuyện sư sẽ bộ hành hoặc xuất hiện rầm rộ nữa, mà sẽ ẩn tu thực sự. Mà cho dù sư không muốn ẩn tu thì cũng không thể bộ hành như trước.

Một cô gái xinh xắn bộ hành từ Bắc đến Nam thì trên đường có bao nhiêu ác tặc muốn chiếm đoạt. Một đoàn xe chở vạn lượng hoàng kim từ Nam ra Bắc, trên đường có bao nhiêu bảo tiêu mới bảo vệ được.

Một vị chân tu, trên đường có bao nhiêu yêu ma muốn hãm hại. Ngồi nhà gõ phím thả like thì dễ, nhưng ai là người chịu trách nhiệm nếu sư Minh Tuệ bị hạ độc hay ám toán. Cho nên sớm muộn cũng phải xuất hiện lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp mà thôi. Vấn đề là quan điểm của lực lượng đó như thế nào về vấn đề này. Không phải chuyến hàng nào cũng được tiêu cục nhận bảo vệ. Tất cả những gì người dân làm một cách tự phát từ lòng hướng thiện trong trẻo và tình yêu thương sâu thẳm, thì cũng chỉ đến thế mà thôi. Cũng cúng dường, rồi vệ sĩ, rồi căng bạt mà thôi. Còn tất cả những yếu tố khác, gọi lịch sự là ngoài tầm tay với hay nói thẳng ra là lực bất tòng tâm.

Cho nên cho dù các bạn yêu thích sư Minh Tuệ thì cũng không giữ được sư ở trong tay. Thôi hãy để cho cánh chim Phượng Hoàng bay cao, và khi đậu sẽ về miệng núi lửa đậu.

KIẾN TÁNH ĐI THÔI

Còn nếu chúng ta muốn thấy được sự thật, thì chúng ta hãy thành Phật, hãy Kiến Tánh. Khi đó ta sẽ hiểu được tường tận sự việc từ vô lượng kiếp. Còn không thì phải chấp nhận những thông tin thứ cấp. Những thông tin đã bị nhiễm rất nhiều Ngũ Ấm của chúng sinh.

Nói chung cách nào cũng khó nhỉ ? Công nhận cái trần gian này lắm chuyện thực sự. Càng biết nhiều càng thấy việc tu hành là hết sức quan trọng.

Theo tôi được biết thì sắp tới sẽ có không ít người được gặp gỡ sư Minh Tuệ để đảnh lễ một cách bình thường. Lúc đó sẽ gián tiếp xác thực thông tin của sư.

Mọi chuyện cũng bình thường thôi, cứ chưa gì đã nhộn cả lên.

thichminhtue #daudaminhtue #suminhtue #ngoaitruyen

Bản Chất 13 Hạnh Đầu Đà.

Nguồn gốc:

Khi Thái Tử Tất Đạt Đa (sau này trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) đi qua bốn cửa thành, thấy rõ bốn sự thật của cuộc đời: Sinh, lão, bệnh, tử thì Ngài đã giác ngộ và phát tâm dũng mãnh dứt bỏ cung thành điện ngọc, vợ đẹp, con yêu, trút bỏ áo Hoàng bào của một vị Thái tử để mặc lên chiếc áo của một vị tu sĩ và bắt đầu cuộc hành trình đi tầm sư học đạo.

Theo quan niệm lúc bấy giờ là phải thật khổ thì mới đắc đạo. Vì vậy, ngài đã bỏ ra năm năm tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, thực tập tất cả các phương pháp tu khổ hạnh: Hành thân hoại thể, phơi nắng, phơi sương, ngày ăn một hạt đỗ hoặc một hạt mè, có khi nhịn đói,… đến mức thân thể tiều tụy, thậm chí suýt chết.

Lúc ấy, Ngài giác ngộ ra rằng, tu khổ hạnh cực đoan không đem lại lợi ích và từ bỏ lối tu khổ hạnh cực đoan, quay trở về tu tập theo con đường trung đạo, tức là nuôi dưỡng thân này có đủ sức khỏe để hành các Pháp.

Cuối cùng, Ngài thành tựu đạo quả nhờ Pháp tu trung đạo này. Từ đó, Đức Phật đã hướng dẫn Tăng đoàn thực hành 13 hạnh đầu đà:

1/ Mặc y phấn tảo: Đây là loại y được làm từ những miếng vải vụn, rách, không dùng đến được lấy từ nghĩa địa, bệnh viện, ở ngoài đường hay ở rừng,…Sau đó được giặt sạch và vá lại thành y để mặc. Vị hành giả tu tập không nhận sự cúng dường y áo của thí chủ mà đi nhặt những vải này. Cho nên không bị lệ thuộc vào thí chủ.

2/ Chỉ mặc ba y: Vị tu sĩ tu hạnh đầu đà chỉ có ba y, bao gồm: thượng y, trung y và hạ y. Chư Tăng dùng y đó đến khi rách, thậm chí là không còn chỗ vá mới được may mới.

3/ Phải khất thực để sống: Ở hạnh này, chư Tăng tu hành hạnh đầu đà mang bình bát đi khất thực để nuôi sống bản thân mình. Chư Tăng không đợi tín chủ mời đến nhà để cúng mà phải mang bình bát khất thực.

4/ Khất thực theo thứ lớp: Đây là việc đi khất thực theo từng nhà, không vì chọn gia chủ giàu sang mà bỏ những gia đình nghèo khổ, không tới nơi có nhiều đồ ăn ngon mà phải khất thực tuần tự. Đó là một hạnh của người tu hành Pháp đầu đà.

5/ Ngồi ăn một lần: Đó là khi ăn, nếu đã đứng dậy thì vị tu sĩ đó không ăn nữa, có người đến cúng thêm cũng sẽ không ăn.

6/ Ăn bằng bình bát

7/ Không để dành đồ ăn: Vị hành giả khi thọ thực không để dành đồ ăn còn dư (hoặc đồ tín chủ cúng dường) cho ngày hôm sau.

8/ Sống ở trong rừng

9/ Ở dưới gốc cây

10/ Ở ngoài trời

11/ Ở nghĩa địa

12/ Nghỉ ở đâu cũng được: Tu sĩ tu hành hạnh đầu đà không chọn chỗ nghỉ, mà tùy thuận nghỉ ở đống rơm, gốc cây,…

13/ Ngồi ngủ, không được nằm ngủ

Lợi ích:

Thực hành 13 pháp đầu đà không chỉ là khổ hạnh mà còn mang lại những lợi ích to lớn cho người tu tập, cụ thể:

— Phát triển 28 đức tính siêu việt:

Đại Đức Na Tiên từng nhấn mạnh trong kinh Mi Tiên Vấn Đáp rằng, một Tỳ kheo thọ trì 13 pháp đầu đà sẽ đạt đến cảnh giới gần với Niết bàn, đồng thời mang lại lợi ích vô lượng cho chúng sinh. Thậm chí, 100 hay 1000 cư sĩ đắc đạo cũng không thể sánh bằng một Tỳ kheo thực hành 13 pháp đầu đà.

28 đức tính siêu việt này bao gồm: nuôi mạng trong sạch, sống an lạc hạnh phúc, không tạo tội lỗi, giảm khổ cho người khác, không sợ hãi, không tổn hại ai, tinh tấn trên lộ trình tiến hóa, xa lìa khoe khoang, si mê, giữ gìn bản thân, được mọi người yêu mến, giáo hóa bản thân, buông bỏ tranh đấu, rèn luyện thu thúc, thực hành đúng đắn, đạt được sự vắng lặng, thoát khỏi phiền não, từ bỏ luyến ái, sân hận, si mê, diệt trừ ngã chấp, tư duy xấu xa, vượt qua hoài nghi, lười biếng, tương tư, rèn luyện nhẫn nhục, độ lượng vô biên và diệt trừ khổ đau.

Ngoài ra, nếu chưa đạt được 28 đức tính trên, người tu tập vẫn có thể đạt được 18 đức tính khác như: hạnh kiểm thuần khiết, bảo vệ thân khẩu ý, tâm trong sạch, tinh tấn không ngừng, dứt trừ lo sợ, ngã kiến, oán kết, trú vững trong từ bi, biết đủ trong vật thực, thương yêu bình đẳng, tiết độ, tỉnh thức, không lưu luyến, an lạc ở mọi nơi, ghét bỏ điều ác, yêu thích thanh vắng và không dễ buông xuôi.

— Sinh ra nhiều thiện pháp:

13 pháp đầu đà được ví như đất, nước, lửa, gió, thuốc và nước trường sinh, có khả năng nuôi dưỡng thiện pháp, rửa sạch cấu uế, thiêu đốt phiền não, thổi bay khí vị trần tục, chữa lành tâm bệnh và mang đến sự bất tử.

Không chỉ vậy, pháp đầu đà còn giúp hoàn thiện nhân cách, mang đến tình thương yêu, sự trong sạch, đức hạnh viên mãn, tâm thái cao thượng, dứt trừ ưu phiền và ngăn chặn tái sinh luân hồi.

Chính vì những lợi ích to lớn này, ngay cả Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng đã thọ trì 13 pháp đầu đà ngay khi xuất gia. Việc thực hành pháp đầu đà giúp kiểm soát tâm ý, hạn chế tham đắm vật chất và dễ dàng nhận diện những ham muốn bất thiện.

— Ai đủ khả năng thực hành Pháp hạnh đầu đà?

Thực hành pháp đầu đà không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi người tu tập phải hội tụ nhiều yếu tố cả về tâm linh lẫn thể chất:

Đức tin lớn: Niềm tin vững chắc vào Phật pháp là nền tảng để vượt qua khó khăn, thử thách trong quá trình tu tập.
Tâm hổ thẹn: Sự hổ thẹn với những lỗi lầm, sai trái của bản thân là động lực để thay đổi và hoàn thiện mình.
Sức khỏe tốt: Thể chất khỏe mạnh là điều kiện cần thiết để thực hiện những hạnh đầu đà khắc nghiệt.
Thuần thục tìm kiếm chân lý: Khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác và luôn hướng tới chân lý là yếu tố quan trọng để không bị lạc lối trên con đường tu tập.
Nhiệt tình và chín chắn: Sự nhiệt huyết và chín chắn giúp người tu tập duy trì sự tinh tấn, không nản lòng trước khó khăn.
Trí tuệ: Trí tuệ giúp thấu hiểu giáo lý, phân tích và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Ham học hỏi và có kiến thức: Sự ham học hỏi và tích lũy kiến thức giúp người tu tập hiểu rõ hơn về Phật pháp và áp dụng vào thực hành.
Thọ trì kiên định: Sự kiên định, không dao động trước những cám dỗ, thử thách là yếu tố quyết định để đi đến thành công trên con đường tu tập.
Ít tìm lỗi người khác: Thay vì tập trung vào lỗi lầm của người khác, người tu tập nên tập trung vào việc hoàn thiện bản thân.
An trú trong tâm từ bi: Tâm từ bi là nền tảng của mọi hành động thiện lành, giúp người tu tập đối xử với mọi người và vạn vật bằng tình yêu thương, không phân biệt.

Tuy nhiên, không phải ai cũng cần phải thực hành hạnh đầu đà mới có thể đắc đạo. Có những người nhờ phước báu tu tập từ nhiều đời trước, đã tích lũy đủ phẩm chất tốt đẹp, không còn tham đắm ngũ dục nên có thể dễ dàng giác ngộ chỉ qua việc nghe pháp và thực hành theo.

Điều này cho thấy, thành tựu trong hiện tại không phải là kết quả của một đời mà là sự tích lũy, rèn luyện qua nhiều kiếp sống.

Việt Hoàng (tổng hợp)

TRƯỚC KHI QUA ĐỜI MỘT THIỀN SƯ ĐỂ LẠI 7 ĐIỀU CHO ĐỆ TỬ

( ĐỌC FB THẤY ĐĂNG “BÀI Di NGÔN 1” )
Chợt nhớ một Nhà Sư cũng có một “BÀI Di NGÔN 2” ) có thể Bổ Sung nhau thành một bài nhiều nghĩa ý thâm thuý .
Nên xin đăng cả 2 bài để Bạn đọc thưởng thức suy nghiệm )

“BÀI Di NGÔN 1” ( Đọc trên FB )
TRƯỚC KHI QUA ĐỜI MỘT THIỀN SƯ ĐỂ LẠI 7 ĐIỀU CHO ĐỆ TỬ

“Con à, có những điều thầy mong con ghi nhớ:

  1. Đừng cố gắng chen chân vào bất kỳ tổ chức tôn giáo, thế tục nào để dành cho mình một cái ghế hay chỉ khẳng định đời tu mình bằng học vị. Những thứ ấy là nguyên nhân của sự sa đọa vì xem trọng danh lợi. Đối trước sanh tử, con không thể lấy bằng cấp hay địa vị ra trình với Diêm Vương.
  2. Đừng giao du với quan chức, mà hãy hướng dẫn họ tu tập. ”Sa Môn bất kính vương giả ”. Nếu trái lại, con sẽ rơi vào cảnh tranh chấp kết quả là “cây ngã, bìm khô”.
  3. Đừng lệ thuộc vào sự cúng dường của tín đồ Phật tử, con phải giữ lòng tự trọng trước những nhà giàu có. Vì lòng đại bi mà nói Pháp cho họ nghe. Chớ để cho danh, lợi, ái kiến cám dỗ. Muốn tồn tại phải biết tự lực.
  4. Đừng ham chùa có đông đồ chúng, nên lấy lục hoà làm trọng. Đông người mà không tu tập sẽ dẫn đến phe phái tranh chấp. Ngoại đạo trà trộn vào con không kiểm soát được. Tốt nhất nên ẩn cư.
  5. Đừng biến chùa thành cơ sở từ thiện có quy mô lớn. Muốn làm từ thiện thì bản thân phải có Đạo lực mới có thể chiến thắng được mãnh lực đồng tiền. Đừng vị cái lợi thế gian mà quên hẳn đường về..
  6. Đừng biến chùa thành khu du lịch, đông người đến sẽ ô hợp mất thanh tịnh. Chỗ nào có lợi ích là chỗ đó sẽ bị chiếm hữu. Hãy cố gắng gầy dựng ngôi chùa thành một đạo tràng thuần tuý tu học. Còn những việc khác con phải xem là thứ yếu!
  7. Đừng biến chùa thành nghĩa trang và cả đời con chỉ loanh quanh trong việc độ đám. Đạo Phật là để giác ngộ và đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay trong thực tại. Hãy dạy cho Phật tử thấy rõ lý vô thường, vô ngã để buông xả bám chấp. Riêng con đừng lấy phương tiện làm cứu cánh.

Dặn dò xong, Thiền Sư viên tịch. Đệ tử làm theo di nguyện của thầy, sư tiếp tục ẩn cư.
Trước khi tịch, sư để lại bài kệ:

“Pháp vốn không gốc, ngọn.
Không pháp cũng không tâm
Sống chết sương ngọn cỏ
Thẳng tới đất vô sanh.”

Thiện Tâm

“BÀI Di NGÔN 2”
Có Một Nhà Sư Cũng Di Ngôn :

1- Tuỳ duyên tuỳ thuận mà hoằng pháp lợi sinh .Tổ chức hay Tôn Giáo là gì đi nữa ,tất cả đều do duyên mà hình thành , hay là tan rã . Học Vị hay Địa Vị tự có giá trị riêng , là những yếu tố có thể giúp thêm khả năng để thành tựu được nhiều công việc tốt .
Người có Địa Vị Bằng Cấp , hay dẫu không có Địa Vị Bằng Cấp, mà tâm vẫn thường ngã mạn kiêu căng Ỷ quyền cậy thế nhũng nhiểu bức hiếp người , thì sẽ tạo báo chướng , phiền não và nghiệp chướng đoạ lạc . Có Học Vị Địa Vị mà khiêm hạ từ tốn, công tư phân minh thì càng dể thành tựu được công đức , lại tinh tấn tu tập , dẫu có gặp Diêm Vương thì Diêm Vương cũng hoan hỷ mỉm cười thân thiện .

2- Trong tinh thần “ Thượng Cầu Phật Đạo , Hạ Hoá Chúng Sanh “ Hoá độ tuỳ cơ duyên không phân biệt đẵng cấp : Quyền Quý hay Hèn Mọn ,Giàu Sang hay Bần Hàn . Khế cơ khế lý chuyển hoá diệu dụng đưa người vào Phật Pháp thiện lương đạo đức . Theo năng lực chuyên môn của người mà khuyến hoá hay kết hợp nhằm thực hiện những việc làm lợi lạc xã hội nhân sinh .

3 – Sự cúng dường của Thiện Tín Phật tử là gieo hạt phước điền nhân lành với Tam Bảo , đồng thời cũng là bổn phận của người Phật Tử tại gia . Cúng dường nhằm hưng thịnh Tam Bảo Đạo Pháp . Cúng nhiều cúng ít là tuỳ tâm
Tuỳ hoàn cảnh năng lực của tín chủ, cúng dường với tâm chân thành đúng Pháp thì đều sinh phước lành . Tuỳ vào sự việc nhu cầu Phật Sự lớn nhỏ ,mà sự cúng dường và sự Nhận Lảnh tương thích nhằm Hoàn thành công việc Phật Sự Nhằm để có lợi lạc lớn nhất cho Phật Pháp . Nên khuyến tấn Phật tử phát tín tâm cúng dường đúng chánh pháp. Người Tu Sỹ Phật dạy không được đa cầu hoại tín tâm của tín chủ . Lại phải trau dồi Ngũ Minh tự lợi lợi tha , phát Bồ Đề Tâm cứu khổ ban vui , làm an ổn giúp đỡ những khốn khó trong cuộc đời .

4- Chùa lớn , chùa nhỏ hay am cốc , Đồ chúng nhiều hay ít . Độc cư , độc hành, hay trú tại bất kỳ nơi nào .Nếu còn tham đắm còn ngã chấp sở hữu . Thì đều dẫn đến sự trói buộc trong phiền nảo, tranh chấp và bị sự mê lầm , Sự dẫn dụ của những ngoại lực dẫn đến những lầm lỗi sa đoạ tác hại cho bản thân và có thể cả xã hội .
Ngược lại Đồ Chúng nhiều , Già Lam trang nghiêm rộng lớn , quy tụ được nhiều người tu tập , tổ chức được sự kiện tầm cở phát triển Đạo Pháp , sự Chân Thiện Mỹ , lợi lạc cho Cộng Đồng thì rất nên cần có những yếu tố này .

5- Chùa là nơi Tứ Chúng cùng nhau tu tập theo tinh thần lục hoà cộng trụ và hành thiện hoằng pháp lợi sanh , cũng là nơi Lan Nhả để Thập Phương tìm về thư dưỡng tinh thần .
Người chưa có duyên với Phật Pháp , chưa hiểu đạo thì tạo duyên lành cho Họ học hiểu thực hành giáo giáo pháp . Người đã có duyên với đạo là Tín đồ rồi thì tăng thượng duyên , khuyến họ tu tập trí tuệ ,hành thiện tạo công đức phước lành .
Tất cả hữu vi pháp đều nằm trong sự “ Thành Trụ Hoại Không “ Bên cạnh sự hoằng pháp lợi sinh , phải luôn khuyến hoá cùng nhau tinh tấn tu tập , nghiêm trì tịnh giới , thể dụng viên thông , thì Phật Pháp và Già Ngôi Lam chốn Thiền Môn mới hưng thịnh Hải Chúng mới An Hoà cữu trụ vững bền .

6- “ Tất cả Pháp đều là Phật Pháp “ Phương Tiện dẫn đến Cứu Cánh . Cứu Cánh làm định hướng năng lực cho Phương tiện . Tánh Tướng Thể Dụng đều viên dung . Không chấp trước vướng mắc vào một Pháp nào cả , Dụng tất cả Pháp thành Chân Pháp , làm lợi lạc an lành cho Chúng Sanh , cho Đạo Pháp .
Pháp vốn như nhiên vậy , Chánh Tà do Tâm dụng . Như ngọn lữa kia nấu thức ăn ngon bổ , sưởi ấm người giá lạnh hay huỷ diệt thiêu đốt. Đều là do duyên ,do người sử dụng cả .
“ Người Tà dùng Pháp Chánh, Pháp Chánh lại thành Tà.
Người Chánh dùng Pháp Tà , Pháp Tà lại Thành Chánh “

Lại xuất kệ rằng :
Tâm Pháp đồng quy thiện
Thể tướng dụng như nhiên
Chẳng Sinh chẳng chi Diệt
Pháp Tự tại chơn truyền

Thái Huyền 9/2 Giáp Thìn .

Fb: Chùa Quán Thế Âm .

MỘT BIỂU TƯỢNG THIỆN LƯƠNG TRONG NGHỆ THUẬT

Từ nghệ thuật, có những nhân vật bước ra đời sống. Từ đời sống, cũng có vài con người đi vào nghệ thuật. Nhưng trở thành hình tượng trung tâm, biểu tượng cho sự thiện lương tuyệt đối, không gợn chút bụi trần, có lẽ ngoài Đức Phật, là sư Minh Tuệ.


MỘT BIỂU TƯỢNG THIỆN LƯƠNG TRONG NGHỆ THUẬT


Nói như vậy, không phải là để so sánh hay nâng tầm, thánh hoá, Phật hóa sư Minh Tuệ. Mà đây là một sự thực đang diễn ra ngay lúc này trong đời sống nghệ thuật đương đại.

Phẩm cách và giới hạnh của ông đã khiến bao trái tim rung lên những cảm xúc triền miên khó tả. Thân hành và bước đi của ông đã khiến cho người ta phải suy nghĩ về cuộc đời. Cuộc sống này có ý nghĩa gì? Thế nào là hạnh phúc? Hàng loạt câu hỏi cứ hiện lên trong những khối óc biết suy tư. Dường như, có một sự đảo lộn trong những nhận thức đã có trước đó.

Người đời cứ chạy theo cuộc sống, bị nó quay cuồng, nó nhấn chìm chúng ta vào vòng xoáy danh lợi, tiền bạc; được mất, hơn thua. Thế rồi, khi người ta có trong tay tất cả những thứ mong ước ấy, là lúc nhận ra mình bất hạnh. Niềm vui chẳng thấy mà chỉ thêm phiền não, bất an. Lại có người tự dối lòng, rằng mình luôn thanh thản. Kỳ thực, đó chỉ là sự trấn an do sự thanh thản ấy đang thiếu vắng ở trong lòng.

Và có một thời, người ta nói về hạnh phúc nghe có vẻ triết lý, rằng “hạnh phúc là đấu tranh”. Nghe hay và có lý lắm. Nhưng có lẽ quan niệm này được chấp nhận do suốt một thời con người phải sống trước những lựa chọn, lựa chọn sinh tồn, lựa chọn tư tưởng, lựa chọn giai cấp…

Đến khi sư Minh Tuệ xuất hiện, người ta mới nhận ra, hạnh phúc là buông, hạnh phúc là khi không có gì. Sư Minh Tuệ không phải là người “phát kiến” ra điều này nhưng chính ông là người tiêu biểu hiện thực hóa điều này; ông như một minh chứng sống động và cụ thể cho những tư tưởng, triết lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết cách đây gần 2600 năm.

Đó là lí do ông trở thành nguồn cảm hứng bất tận, làm nên những xúc cảm mãnh liệt, cứ lớn dần và đi tiếp trong tâm hồn của người nghệ sĩ. Không chỉ có vậy, ông đã nhen nhóm tình yêu thương trong tất cả những người mà trước đây không mấy quan tâm đến tha nhân và hiện thực cuộc sống; thôi thúc họ phải viết về ông, phải bộc lộ những tâm tư về ông, như một cách giải tỏa, giải thoát những điều được giấu kín trong thế giới nội tâm của họ bấy lâu nay, cho dù viết có vụng về hay vấp váp, điều đó không mấy quan trọng.

Ông đã cộng hưởng lòng bi mẫn vào những trái tim vốn đã giàu lòng nhân ái khiển họ thêm thổn thức, dâng trào những xúc cảm êm đềm, trong mát, ngọt ngào.

Và như thế, người viết văn, kẻ làm thơ. Lời hay ý đẹp cứ tuôn trào tạo thành những dòng chảy len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Hàng trăm bài luận, hàng ngàn bài thơ và còn nữa. Có lẽ cũng mới là sự bắt đầu.

Nghệ thuật đâu chỉ có văn chương, hội hoạ cũng không thể đứng ngoài cuộc trước cơn gió thiện lành. Sức lan tỏa của lòng từ bi, của hương đức hạnh đã làm nên bao bức tranh tuyệt mĩ. Tôi thật sự ấn tượng trước những bức họa này! Mỗi tác phẩm là một cảm xúc, một thế giới rất riêng của người nghệ sĩ, và cũng chẳng giống nhau trong tâm người thưởng thức. Phải thừa nhận rằng dường như chính cái cà sa y phấn tảo của sư nó như rất hợp với hội hoạ, nó như miền đất màu mỡ để những họa sư thỏa sức mà canh tác, cải tạo, trình diễn tài năng của mình. Thật thích thú và khâm phục!

Và thời trang, họ cũng không chịu đứng im, họ đã lên tiếng bằng hàng loạt kiểu mẫu mang màu sắc, phong vị của y phấn tảo. Nói chính xác hơn, nghệ thuật này càng có nhiều cơ hội để diễn trình. Bỏ qua yếu tố thương mại và lợi nhuận, thì chính thời trang đã khiến y phấn tảo bay xa hơn, cao hơn. Nó đã có mặt trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Rõ ràng, đó chính là thông điệp giá trị, ý nghĩa mà chỉ có sư Minh Tuệ mới mang lại được.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một luận điểm quan trọng trong tu Phật, đó là “tu là bỏ tất cả, bỏ tất cả là được tất cả, được tất cả là không được gì hết”(*). Rõ ràng, sư Minh Tuệ chính là hiện thân triết lý cao thâm này, vì tâm ông đã đạt trạng thái như vậy. Vô cầu, vô trụ, vô chấp.

Một chữ, BUÔNG !


——
Chú thích:
(*) “được tất cả là không được gì hết”: tức hoàn toàn thanh tịnh, không chấp trước bất cứ điều gì.
@ Hình các tác phẩm hội hoạ: mượn từ trên mạng. Mong các họa sĩ sáng tác lượng thứ.
——
Nha Trang, 08/06/2024
Nguyễn Thanh Huy